Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Những ghi chép sau khi dịch lại Kinh Trung A-hàm[1]
Thích Đạo Từ
Trước đây, những pháp sư họ Thích[2] ở Trường An đã dịch Trung A-hàm, Tăng nhất A-hàm, A-tỳ-đàm, Quảng thuyết, Tăng-già-la-xoa,[3] A-tỳ-đàm tâm, Bà-tumật,[4] Tam pháp độ, Nhị chúng tùng giải thoát, Tùng giải thoát duyên,… Những bộ kinh, luật này có hơn trăm vạn lời nhưng có phần sai lạc nguyên bản, đánh mất ý chỉ, danh xưng chưa hợp với diệu nghĩa, từ ngữ mơ hồ, câu cú sai lệch, có lẽ do người dịch chưa thông thạo chữ Hán, hoặc vì vội vã nên mới dẫn đến cớ sự này.
Bấy giờ gặp lúc Yên - Tần[5] giao tranh, Quan Trung đại loạn, bậc đống lương khi đó phải lánh đời nên chưa có người cải chính. Qua mấy năm sau, đến khi Quan Đông tạm thời yên ổn, bấy giờ mới có Sa-môn Tăng-già-đề-hòa[6] vốn là người Kế-tân, cùng với ngài Thích Pháp Hòa[7] là người Ký Châu, đã tập hợp môn đồ rồi cùng đến Lạc Dương.[8] Trong vòng bốn, năm năm nghiên cứu, diễn giảng tinh chuyên, ngài Tăng-già-đề-hòa dần dần thông thạo chữ Hán, khi ấy mới biết những bản dịch trước đây đều có chỗ nhầm lẫn. Ngài Pháp Hòa cảm thấy hối tiếc vì những sai lầm này nên đã hỗ trợ ngài Tăng-già-đề-hòa dịch lại A-tỳ-đàm, Quảng thuyết. Từ đó về sau, các bản dịch kinh, luật này dần dần được dịch lại chính xác, chỉ còn những bản như Trung A-hàm, Tăng-già-la-xoa, Bà-tu-mật, Tùng giải thoát duyên vẫn chưa được dịch lại mà thôi.
Trong khi ngài Tăng-già-đề-hòa đến kinh đô để tùy duyên giáo hóa, ban pháp lành ở miền Giang Tả thì lúc bấy giờ, ở nước Tấn có vị đại trưởng giả tên là Vương Nguyên Lâm, giữ chức Thượng thư lệnh Vệ tướng quân với tước vị Đông Đình hầu, đã thọ giới ưu-bà-tắc, thường hộ trì Chánh pháp và xem phận sự của mình như là một vị thí chủ vậy. Vì mục đích hộ trì việc dịch kinh nên ông tạo lập tinh xá, cung thỉnh các bậc cao Tăng như ngài Thích Tuệ Trì và hơn 40 Sa-môn nghĩa học, cung cấp tứ sự đầy đủ, không thiếu thứ gì. Ông lại còn hoan hỷ cung thỉnh Kinh sư[9] Tăng-già-la-xoa cúng dường đến mấy năm. Sau đó, vào niên hiệu Long An năm đầu (năm 397), nhằm ngày mùng 10 tháng 11 năm Đinh Dậu tại tinh xá của mình thuộc huyện Kiến Khang, quận Đơn Dương, ở Dương Châu, ông đề nghị dịch lại Kinh Trung A-hàm này. Ông thỉnh Sa-môn người nước Kế-tân là ngài Tăng-già-la-xoa đọc bản Phạn, ngài Tăng-già-đềhòa chuyển dịch sang tiếng Hán, Sa-môn Thích Đạo Từ người Dự Châu ghi chép, Lý Bảo và Khang Hóa người nước Ngô cùng ghi chép. Năm sau, nhằm ngày 25 tháng 6 năm Mậu Tuất thì bản thảo hoàn tất.
Bản Kinh Trung A-hàm có 5 tụng,[10] gồm 18 phẩm, 222 kinh, tổng cộng có đến 514.825 chữ, chia thành 60 quyển.
[0809c03] Bấy giờ, gặp phải quốc nạn nên chưa kịp biên tập thành bản chính thức. Mãi đến năm Tân Sửu, niên hiệu Long An năm thứ 5 (năm 401), bản thảo mới được ghi chép lại chuẩn xác, hiệu đính và lưu truyền.
Người chuyển dịch đối chiếu bản dịch này so với bản dịch trước đây nhận thấy có nhiều chỗ bất đồng. Trong số 222 kinh, nếu dịch cho uyển chuyển lưu loát thì e trái với ý chỉ của bậc Thánh, nếu căn cứ vào nguyên bản thì các từ ngữ phần nhiều khác với bản dịch cũ, ngược với thói quen xưa, không hợp với nhận thức của số đông, thế nên người dịch không thể tự ý, khi có chỉnh sửa vẫn tuân theo tên gọi trước đây. Tuy nhiên, sự dị đồng giữa năm bộ[11] nào ai biết đâu là chánh lý? Có lẽ vì thiển ý nên Đạo Từ tôi chưa mấy hài lòng về những nhầm lẫn trong bản dịch cũ, thế nên đối với những chỗ cải chính, tôi đều sao chép ra và ghi chú xuống bên dưới, gom cả hai bản cũ và mới làm thành một quyển, rồi đính kèm Mục lục để ở phần sau, hy vọng mai kia sẽ giúp chư Hiền biết rõ những chỗ dị đồng để tiện bề tham khảo. Nếu may gặp được bậc ngoại quốc cao minh, giỏi cả Phạn và Hán thì có thể tham vấn những chỗ đúng sai để chỉnh lý bản dịch thêm hoàn hảo.
[1] Nguyên tác: Hậu xuất Trung A-hàm kinh ký 後出中阿含經記 (T.01. 0026.60. 0809b01-c14).
[2] Nguyên tác: Thích pháp sư (釋法師), chỉ cho các ngài dịch kinh ở thời kỳ đầu như ngài Thích Đạo An, Đàm-ma-nan-đề, Trúc Phật Niệm,…
[3] Tăng-già-la-xoa (僧伽羅叉) còn gọi là Tăng-già-la-sát (僧伽羅剎, Saṁgharakṣa, संघरक्ष). Trường hợp này không phải là tên của một vị cao Tăng mà là tên của một tác phẩm lịch sử Phật giáo, gồm 3 quyển, thuộc bộ Bổn duyên, gọi đủ là Tăng-già-la-sát sở tập kinh 僧伽羅剎所集經 (T.04. 0194.1. 0115b15) do ngài Tăng-già-bạt-trừng (僧伽跋澄) và những người khác cùng dịch vào thời Phù Tần (符秦), cũng gọi là Tiền Tần (前秦, 350-394).
[4] Bà-tu-mật (婆須蜜). Trường hợp này không phải là tên của một vị cao Tăng mà là tên của một tác phẩm gồm 10 quyển, thuộc bộ Tỳ-đàm, gọi đủ là Tôn-bà-tu-mật Bồ-tát sở tập luận 尊婆須蜜菩薩所集論 (T.28. 1549.1. 0721a03), cũng do ngài Tăng-già-bạt-trừng (僧伽跋澄) và những người khác cùng dịch vào thời Phù Tần (符秦).
[5] Giao tranh giữa triều Tiền Tần (350-394) với dòng họ Mộ Dung thuộc triều Tiền Yên (337-370).
[6] Tăng-già-đề-hòa (僧伽提和) cũng viết là Tăng-già-đề-bà (僧伽提婆, Saṁghadeva).
[7] Thích Pháp Hòa (釋法和), bậc cao Tăng, là bạn đồng học và cùng làm việc chung với ngài Đạo An (T.50. 2059. 0354a18).
[8] Nguyên tác: Lạc ấp (洛邑), chỉ cho kinh đô Lạc Dương.
[9] Kinh sư (經師, Bhāṇaka): Vị tu sĩ Phật giáo chuyên học thuộc lòng và trì tụng kinh điển.
[10] Nguyên tác: Ngũ tụng (五誦). Bộ Trung A-hàm được chia ra để tụng đọc trong 5 ngày nên gọi là 5 tụng. Những phẩm được tụng trong ngày thứ nhất thuộc Sơ tụng. Những phẩm được tụng trong ngày thứ 2 thuộc Tiểu Thổ thành tụng. Những phẩm được tụng trong ngày thứ 3 thuộc Niệm tụng. Những phẩm được tụng trong ngày thứ 4 thuộc Phân biệt tụng. Những phẩm được tụng trong ngày thứ 5 thuộc Hậu tụng.
[11] Nguyên tác: Ngũ bộ (五部). Theo Ma-ha-tăng-kỳ luật 摩訶僧祇律 (T.22. 1425.40. 0548b09), chỉ cho 5 bộ phái Phật giáo, gồm Đàm-vô-đức bộ (曇無德部), Tát-bà-đa bộ (薩婆多部), Di-sa-tắc bộ (彌沙塞部), Ca-diếp-di bộ (迦葉遺部) và Độc-tử bộ (犢子部).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.