Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tác phẩm Đại Đường Tây Vức ký của ngài Huyền Trang đã ghi nhận rằng, có một số hậu duệ của dòng họ Thích-ca sau vương nạn Tỳ-lưu-ly đã thiên di đến một số quốc gia thuộc về khu vực phía Bắc Ấn Độ.1 Trong số những hậu duệ tiêu biểu của dòng họ Thích-ca ở khu vực này có ngài Cù-đàm Tăng-già-đề-bà (瞿曇僧伽提婆, Gautama Saṃghadeva), vị Tôn giả đã góp phần giữ gìn và truyền dịch bản Kinh Trung A-hàm (中阿含經) hiện còn lưu lại đến ngày nay.
Tôn giả Cù-đàm Tăng-già-đề-bà người nước Kế-tân (罽賓), không những rất giỏi về A-tỳ-đàm Tâm luận2 mà còn quán thông cả Tam tạng.3 Nơi ngài sinh trưởng thuộc nước Kế-tân về sau được gọi là Ca-thấp-di-la (迦濕彌羅, Kashmir),4 vốn là vùng đất Thánh của bộ phái Phật giáo Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ (Mūlasarvāstivāda). Đồng thời, đây cũng là nơi sinh trưởng của những luận sư nổi tiếng thuộc Nhất Thiết Hữu bộ (Sarvāstivāda) như ngài Tăng-già-bạt-đà-la (僧伽跋陀羅, Saṁghabhadra),5 ngài Sách-kiến-địa-la (索建地羅, Skandhila).6
Vào giữa niên hiệu Kiến Nguyên (365-385) đời Vua Tần Phù Kiên, ngài Tăng-già-đề-bà đến Trường An. Lúc bấy giờ, Kinh Trung A-hàm đã được ngài Đàm-ma-nan-đề (曇摩難提, Dharmānandī) dịch sang Hán ngữ, ngài Đạo An (道安) và ngài Pháp Hòa (法和) cùng khảo chánh. Tuy nhiên, việc khảo chánh Kinh Trung A-hàm chưa hoàn thành thì triều đại nhà Tần (秦) phải liên tục đối diện với những cuộc biến loạn của thân tộc dòng họ Mộ Dung (慕容, 350-384).7 Khi nhà Tần diệt vong, cũng vào năm đó tức vào niên hiệu Thái Nguyên năm thứ 10, ngài Đạo An cũng viên tịch. Vì chiến loạn xảy ra liên miên và cũng do ngài Đạo An viên tịch nên việc giảo chánh bản Kinh Trung A-hàm do ngài Đàm-ma-nan-đề dịch vẫn chưa thực hiện được.
Vốn là bạn đồng học với ngài Đạo An8 và cũng là một trong những vị cao Tăng cùng san định bản Kinh Trung A-hàm do ngài Đàm-ma-nan-đề dịch, ngài Pháp Hòa biết rõ về những điều bất cập trong những dịch phẩm kinh điển đời trước,9 trong số đó có cả Kinh Trung A-hàm. Vì vậy, khi ngài Tăng-già-đề-bà đến Trung Hoa, ngài Pháp Hòa đã cùng vị Tôn giả này giảo chánh lại một số bộ kinh đã được dịch trước đó, nhưng vẫn chưa đủ nhân duyên để dịch lại Kinh Trung A-hàm.
Khi ngài Tăng-già-đề-bà du hóa miền Giang Tả, lúc đó có vị cư sĩ tại gia với tước vị là Đông Đình Hầu, Thượng Thư Lệnh, Vệ Tướng Quân tên là Vương Nguyên Lâm (王元琳)10 đã phát tâm hộ trì Phật pháp. Vị cư sĩ này đã xây dựng tinh xá, cung thỉnh nhiều bậc cao Tăng và đã cúng dường tứ sự liên tục nhiều năm. Trong số hơn 40 vị cao Tăng được thỉnh cầu về tinh xá, có ngài Thích Tuệ Trì (釋慧持)11 vốn là pháp đệ ưu tú của ngài Huệ Viễn (惠遠) và cũng là người giữ vai trò quan trọng trong việc san định Kinh Trung A-hàm. Đặc biệt nhất là có ngài Tăng-già-la-xoa (僧伽羅叉), vị cao Tăng cũng thuộc nước Kế-tân, chuyên về việc học thuộc lòng và trì tụng kinh điển, gọi là Kinh sư (經師, Bhāṇaka).12
Nhân duyên hội đủ, cư sĩ Vương Nguyên Lâm đã phát nguyện làm đại thí chủ của dịch trường dịch Kinh Trung A-hàm, được thực hiện tại tinh xá của mình ở quận Đan Dương, Dương Châu, thuộc huyện Kiến Khang (建康). Trong dịch trường này, ngài Tăng-già-la-xoa tay cầm bản Phạn tuyên đọc Phạn văn, ngài Tăng-già-đề-bà dịch sang Hán ngữ,13 Sa-môn người Dự Châu (豫州) tên là Đạo Từ (道慈) ghi chép,14 hai vị Lý Bảo (李寶) và Khang Hóa (康化) người nước Ngô (吳) viết ra chữ Hán. Công việc dịch Kinh Trung A-hàm được khởi đầu từ mùng 10 tháng 11 năm Đinh Dậu, năm đầu niên hiệu Long An (năm 397) cho đến ngày 25 tháng 6 năm sau (năm 398) thì hoàn tất bản thảo. Bản dịch Trung A-hàm này gồm 5 tụng, 18 phẩm, 222 kinh được phân chia thành 60 quyển. Tuy nhiên, vào lúc đó đất nước lại xảy ra loạn lạc nên bản thảo chưa kịp giảo chánh, phải chờ mãi đến năm năm sau mới có thể khảo định để lưu truyền. Bản Kinh Trung A-hàm này là để bản duy nhất để chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ trên thế giới và cũng là để bản của những dịch phẩm tiếng Việt Kinh Trung A-hàm.
Bản Kinh Trung A-hàm hiện được giữ gìn trong Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh (ĐCT) mang số hiệu 26 với tên người dịch sang Hán ngữ là ngài Cù-đàm Tăng-già-đề-bà.15 Sự ghi nhận đặc thù này có lẽ xuất phát từ vai trò chủ yếu của ngài Tăng-già-đề-bà trong việc truyền dịch bản kinh. Vì lẽ, ngài Tăng-già-la-xoa tuy có công lao nhưng chỉ đóng vai trò là người trùng tụng bản Phạn ngữ. Một điểm đặc thù cần ghi nhận là bản dịch Trung A-hàm này được dịch trên cơ sở Phạn bản, chứ không phải được dịch từ sự học thuộc lòng như bản Kinh Trường A-hàm do ngài Phật-đà-da-xá đã từng dịch trước đây. Cơ sở Phạn ngữ thể hiện bằng văn bản là một trong những tiêu chuẩn góp phần khẳng định tính chân thực của mọi bản kinh, mà ở đây chính là Kinh Trung A-hàm.
Mãi đến ngày hôm nay, Phạn bản Kinh Trung A-hàm về cơ bản vẫn chưa tìm thấy đầy đủ. Mặc dù vậy, vào đầu thế kỷ XX, các nhà khảo cổ đã phát hiện trong một cổ tháp ở miền Đông Turkestan có nhiều phiến đoạn kinh điển, và trong số chúng có hai phiến đoạn thuộc Kinh Trung A-hàm. Hai phiến đoạn này thuộc về kinh số 133 tức Ưu-bà-ly kinh (優婆離經) và kinh số 170 tức Anh Vũ kinh (鸚鵡經). Hai phiến đoạn này được ghi lại trên giấy với tự dạng Phạn ngữ thuộc ngữ hệ Gupta, gọi là Slanting Gupta.16 Đáng chú ý là nội dung Kinh Anh Vũ thuộc Trung A-hàm cũng là một thể tài quan trọng trong nghệ thuật Phật giáo Gandhara. Vì lẽ, các nhà khảo cổ ở Pakistan ngày nay đã phát hiện nội dung bản kinh này cũng được thể hiện trên một bức phù điêu bằng đá, có niên đại vào khoảng từ thế kỷ II-III.17 Cũng bàn về vấn đề ngôn ngữ, tác giả Tân Đảo Tĩnh Chí (辛嶋静志, Seishi Karashima), vị Giáo sư hiện đang giảng dạy tại Đại học Soka, Nhật Bản, sau những tỷ giảo từ ba ngôn ngữ Sanskrit, Prakrit và Gandharī về một vài từ khóa trong Kinh Trung A-hàm như: Di-hê (彌醯), Na-lợi-ương-già (那利鴦伽), A-di-la-bà-đề (阿夷羅婆提),… đã đi đến kết luận rằng, ngôn ngữ chủ yếu của Kinh Trung A-hàm là Phạn ngữ chính thống (Sanskrit), được kết hợp với một vài yếu tố thuộc về ngôn ngữ Prakrit và cả Gandharī.18
Qua những dẫn luận về lịch sử và phân tích ngữ nghĩa vừa nêu đã cho thấy, mặc dù Kinh Trung A-hàm có những liên hệ mang tính cội nguồn với bộ phái Phật giáo Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ (Mūlasarvāstivāda) nhưng vẫn chưa có những bằng chứng xác thực, cụ thể. Trong khi đó, theo sự khẳng định nhiều lần của ngài Huyền Trang (602-664) trong Thành duy thức luận (成唯識論), Nhiếp Đại thừa luận bổn (攝大乘論本),19 Nhiếp Đại thừa luận thích (攝大乘論釋)20 đã cung cấp bằng chứng góp phần khẳng định rằng, Kinh Trung A-hàm thuộc về bộ phái Đại Chúng bộ (Mahāsāṅghika).
Trong Thành duy thức luận quyển thứ 3 ghi: “Trong kinh điển thuộc các bộ phái cũng có ẩn ý cho rằng, thức A-lại-da có tự tánh riêng biệt, như trong Kinh A-hàm của Đại Chúng bộ có ẩn ý cho rằng thức này được gọi là thức căn bản, vì đó là chỗ nương tựa của nhãn thức, v.v... Ví như gốc rễ cây là cơ sở của nhánh lá.”21
Khảo sát cả bốn bộ A-hàm, tức là bốn bộ A-cấp-ma (阿笈摩), theo như cách gọi của ngài Huyền Trang thì nội dung Kinh A-hàm mà ngài đề cập trong Thành duy thức luận thuộc về Trung A-hàm, số 97 với tên gọi là Đại nhân kinh (大因經).
Kinh ghi:
– Này A-nan, nếu thức căn bản22 của bé trai hoặc bé gái bị đoạn hoại và chẳng tồn tại thì danh sắc có tăng trưởng dần lên chăng?
– Bạch Thế Tôn, không.23
Như vậy, với những thông tin vừa nêu đã cung cấp thêm những cơ sở quan trọng, góp phần khẳng định rằng Kinh Trung A-hàm thuộc về bộ phái Đại Chúng bộ.
Đến ngày hôm nay, Kinh Trung A-hàm đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Ở Việt Nam, dịch phẩm tiếng Việt đầu tiên của Kinh Trung A-hàm phải kể đến là công trình của tập thể học Tăng thuộc Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức, Nha Trang, dịch trước năm 1975, được thực hiện dưới sự hướng dẫn và hiệu đính của cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam biên tập 1991, do Cục Xuất bản cấp giấy phép, in năm 1991-92. Hơn 17 năm sau, bản Kinh Trung A-hàm đã được Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ dịch và chú thích, NXB. Tôn giáo, Hà Nội cấp giấy phép, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam in năm 2008, nhằm chào mừng Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc 2008. Ấn bản này được Thư quán Hương Tích tái bản năm 2013, NXB. Hồng Đức, Hà Nội cấp phép.
Có thể nói, so với Kinh Trường A-hàm và Kinh Tăng nhất A-hàm, Kinh Trung A-hàm có cấu trúc văn pháp với nhiều điểm đặc dị, nếu không nói là hơi khúc chiết, cô đọng. Vì lẽ, có những cấu trúc Hán ngữ khá tối nghĩa trong Kinh Trung A-hàm vẫn chưa được những dịch phẩm tiếng Việt hiện có giải mã hợp lý. Đơn cử cho những trường hợp đó, có thể điểm qua một số cấu trúc từ ngữ đặc thù như: Thích-ki-sấu (釋羇瘦); Như kỳ tượng (如其像); thí chủ đàn-việt (施主檀越); bảo vũ chi xa (寶羽之車); Chi-ly-di-lê (支離彌梨); Tiên Dư tài chủ (仙餘財主); ngũ dục công đức (五欲功德); nhân, duyên, chánh, văn, hý, ngũ cú thuyết (因, 緣, 正, 文, 戲, 五句說); Bích-chi Phật (辟支佛); nhược vương đại tượng, hoặc hữu thất bảo, hoặc phục giảm bát (若王大象, 或有七寶, 或復減八)... Trong ấn bản tiếng Việt Kinh Trung A-hàm lần này, những cú ngữ vừa nêu phần lớn đã được giải thích tương đối thỏa đáng, dựa trên những tư liệu tham chiếu khả tín.
Căn cứ vào thành tựu từ những dịch phẩm, công trình nghiên cứu về Kinh Trung A-hàm hiện có, gồm bản tiếng Việt,24 bản Hán cổ,25 bản tiếng Trung,26 bản tiếng Anh,27... nhưng trên hết vẫn là để bản Hán ngữ được lưu giữ trong ĐCT; Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh đã dịch mới Kinh Trung A-hàm cùng với sự cẩn trọng cao nhất có thể, tuân theo tôn chỉ xuyên suốt mà Trung tâm đã đề ra. Trong việc phân bổ nhân sự phụ trách dịch thuật và hiệu chú Kinh Trung A-hàm, Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh đã phân công cho 11 vị Tăng, Ni thực hiện liên tục từ tháng 12 năm 2018 và đã hoàn tất vào tháng 5 năm 2021.
Như vậy, ngay từ ban đầu, Kinh Trung A-hàm đã có những liên hệ nguồn cội với dòng họ Thích-ca và bộ phái Phật giáo Nhất Thiết Hữu bộ; thế nhưng, căn cứ vào những tư liệu khả tín của ngài Huyền Trang, bộ kinh này có cơ sở thuộc về Đại Chúng bộ. Trải qua bao biến chuyển thịnh suy của thế cuộc, nhưng nguồn mạch của Phật giáo được gìn giữ trong bộ kinh này vẫn được lưu truyền và tiếp nối. Xuyên qua vài nét chấm phá của lịch sử đã chứng tỏ rằng, sứ mạng giữ gìn và truyền thừa kinh điển là một trong những sứ mạng vô cùng trân trọng và rất mực thiêng liêng. Chỉ xét riêng bản dịch tiếng Việt đầu tiên về Kinh Trung A-hàm cũng đủ thấy sự cần mẫn, sự nỗ lực, sự kiên định của chư Tôn đức tiền nhân đáng quý trọng muôn phần. Trong điều kiện nguồn tư liệu dùng để tham khảo bị hạn chế, trong bối cảnh những điều kiện phụ trợ cho việc dịch thuật còn khó khăn trăm bề, nhưng quý ngài đã hoàn thiện dịch phẩm Kinh Trung A-hàm với nỗ lực cao nhất có thể.
Trân trọng những cống hiến đó, Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh nguyện tiếp bước tiền nhân, cố gắng làm sáng tỏ thêm những điều mà những bản dịch Kinh Trung A-hàm trước đây còn bỏ ngỏ; đồng thời tham chiếu những thành tựu liên quan đến Kinh Trung A-hàm đã được nhiều học giả trên thế giới công bố gần đây để định hình nên một bản dịch tiếng Việt Kinh Trung A-hàm theo phương châm: Chân thực - Uyên thâm - Văn nhã.
Có sống với kinh điển mới phần nào hiểu được lời dạy của đức Phật, có trầm tư vào kinh điển mới nhận ra sự khổ nhọc của bao thế hệ truyền dịch thời xưa. Bản dịch tiếng Việt Kinh Trung A-hàm này, nếu như có được một phần công đức bé nhỏ, xin nguyện kính dâng lên chư Phật, chư Tổ, chư vị truyền dịch tiền nhân, những bậc đã tận hiến đời mình vì sự xương minh của Phật pháp.
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH thực hiện
Chú Thích
1 Đại Đường Tây Vức ký 大唐西域記 (T.51. 2087.6. 0900c22). Nguyên tác: Kiếp-tỷ-la-phạt-tốt-đổ quốc (劫比羅伐窣堵國).
2 A-tỳ-đàm Tâm luận 阿毘曇心論 (T.28. 1550. 0809a11), gồm 4 quyển, do ngài Tăng-già-đề-bà (僧伽提婆) và ngài Huệ Viễn (惠遠) cùng dịch tại Lô Sơn (鑪山).
3 Cao Tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.1. 0328c22).
4 Câu-xá luận ký 俱舍論記 (T.41. 1821.2. 0046c21).
5 A-tỳ-đạt-ma Thuận chánh lý luận 阿毘達磨順正理論 (T.29.1562. 0329a03). Tác giả Luận Thuận chánh lý gồm 80 quyển là ngài Tăng-già-bạt-đà-la (僧伽跋陀羅, S. Saṁghabhadra). Trong bộ luận này, tên tác giả được ngài Huyền Trang dịch nghĩa là Chúng Hiền (眾賢).
6 Tác giả của Chúng sự phần Tỳ-bà-sa luận (眾事分毘婆沙論) hiện nay vẫn chưa tìm thấy. Theo Đại Đường Tây Vức ký 大唐西域記 (T.51. 2087.3. 0887c14).
7 Cao Tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.1. 0328c22).
8 Cao Tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.5. 0354a18). Nguyên tác: 少與安公同學.
9 Xuất Tam tạng ký tập 出三藏記集 (T.55. 2145.9. 0063c21. Nguyên tác: 並違本失旨名不當實, 依悕屬辭句味亦差. 良由譯人造次未善晉言故使爾耳. Xem thêm: Xuất Tam tạng ký tập 出三藏記集 (T.55. 2145.13. 0099c12). Nguyên tác: 方知先所出經多有乖失. 法和歎恨未定.
10 Xuất Tam tạng ký tập 出三藏記集 (T.55. 2145.1. 0063c21). Nguyên tác: 尚書令衛將軍東亭侯優婆塞王元琳. Trong Cao Tăng truyện, truyện ngài Tăng-già-đề-bà, vị đại thí chủ này tên là Vương Tuần (王珣).
11 Cao Tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.6. 0361b14).
12 Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm luận 舍利弗阿毘曇論 (T.28. 1548.1. 0525b08). Thập tụng luật 十誦律 (T.23. 1435.18. 0125a14). Nam Hải ký quy nội pháp truyện 南海寄歸內法傳 (T.54. 2125.4. 0227a11).
13 Cao Tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.1. 0329a23). Nguyên tác: 罽賓沙門僧伽羅叉執梵本.
14 Nguyên tác: Dự Châu Sa-môn Đạo Từ bút thọ (豫州沙門道慈筆受). Thực tế đã có sự nhầm lẫn ở dòng phụ chú Kinh Trung A-hàm, quyển thứ nhất theo bản Đại Chánh, vì đã ghi nhận rằng, người ghi chép là ngài Đạo Tổ (道祖筆受). Hai bản dịch tiếng Việt Kinh Trung A-hàm hiện có đều đi theo sự nhầm lẫn này. Cả 3 bản Tống, Nguyên, Minh trong Hán tạng không ghi dòng này. Đọc lại Cao Tăng truyện, quyển thứ 6, truyện của ngài Đạo Tổ cũng không ghi nhận chi tiết ngài đảm trách ghi chép Kinh Trung A-hàm. Trong khi đó, tác phẩm kinh lục xưa nhất hiện còn là Xuất Tam tạng ký tập, quyển thứ 9, ở bài Tựa Kinh Trung A-hàm, đã ghi rõ là ngài Đạo Từ chấp bút viết bài tựa này và cũng ghi rõ là chính ngài Đạo Từ ghi chép Trung A-hàm. Tác phẩm Khai Nguyên Thích giáo lục, quyển thứ 3, cũng xác tín rằng người ghi chép Kinh Trung A-hàm, bản dịch của ngài Tăng-già-đề-bà chính là Sa-môn Đạo Từ, người Dự Châu.
15 Trung A-hàm kinh 中阿含經 (T.01. 0026. 0421a03).
16 Rudolf Hoernlé, Manuscript Remains of Buddhist Literature Found in Eastern Turkestan: Facsimiles with Transcripts, Translation and Notes, Vol. 1 (Oxford: Clarendon Press, 1916), pp. 27, 46
17 Ihsan Ali - Muhammad Naeem Qazi, Gandharan Sculptures in the Peshawar Museum (Life Story of Buddha) (Pakistan: Hazara University Mansehra NWFP, 2008), p. 214.
18 Seishi Karashima, The Underlying Language of the Chinese Translation of the Madhyama-Āgama, Research on the Madhyama-Āgama, Dhammadinnā ed. 2017 (Taipei: Dharma Drum Publishing Co., 2017), p. 205.
19 Nhiếp Đại thừa luận bổn 攝大乘論本 (T.31. 1594.1. 0134a23).
20 Nhiếp Đại thừa luận thích 攝大乘論釋 (T.31. 1597.2. 0326c29).
21 Thành duy thức luận 成唯識論 (T.31. 1585.3. 0015a18). Nguyên tác: 餘部經中亦密意說阿賴耶識有別自性, 謂大眾部阿笈摩中密意說此名根本識, 是眼識等所依止故, 譬如樹根是莖等本.
22 Nguyên tác: Thức sơ (識初), còn gọi là thức ban đầu, thức căn bản, cũng gọi là thức thứ 8, thức A-lại-da.
23 Trung A-hàm kinh 中阿含經 (T.01. 0026.001. 0579c19). Nguyên tác: 阿難!若幼童男, 童女識初斷壞不有者, 名色轉增長耶?答曰:不也.
24 Kinh Trung A-hàm, Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức - Nha Trang dịch, HT. Thích Thiện Siêu hiệu đính, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam biên tập 1991, do Cục Xuất bản cấp giấy phép, in năm 1991-92. Tiểu tạng kinh, Trung A-hàm, HT. Thích Tuệ Sỹ dịch và chú, NXB. Tôn giáo, Hà Nội cấp giấy phép, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam in năm 2008.
25 Bản đối chiếu, chú thích, dẫn giải giữa Kinh Trung bộ và Kinh Trung A-hàm của học giả Trang Xuân Giang (莊春江). Xem tại: https://agama.buddhason.org/MA/index.htm.
26 中阿含經譯註, 悟慈和尚譯述.
27 Bhikkhu Analayo, Marcus Bingenheimer, Rodney S. Bucknell, Co-editors (2013). The Madhyama Agama: Middle-length Discourses. BDK English Tripitaka, Berkeley (Morago, California: Bukkyo Dendo Kyokai America Inc., 2014).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.