Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, sau khi đức Phật nhập Niết-bàn không lâu, có số đông Tỳ-kheo thượng tôn danh đức đến thành Ba-la-lợi tử,[2] rồi trú tại Kê Viên.[3]
Bấy giờ, cư sĩ Đệ Thập, người ở Bát thành,4 mang nhiều hàng hóa quý giá đến thành Ba-la-lợi tử để buôn bán, đổi chác. Số hàng hóa quý giá ấy bán được rất đắt hàng nên thu nhiều lãi lớn, thế nên cư sĩ Đệ Thập, người Bát thành hết sức vui mừng, liền rời khỏi thành Ba-la-lợi tử, ghé đến Kê Viên, nơi số đông Tỳ-kheo thượng tôn danh đức cư ngụ, cúi đầu lễ sát chân rồi ngồi sang một bên. Khi ấy, các Tỳ-kheo thượng tôn danh đức thuyết pháp cho cư sĩ nghe, khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi dùng vô số phương tiện thuyết pháp cho cư sĩ, khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ xong, các Tỳkheo ngồi im lặng.
Nghe các Tỳ-kheo thượng tôn danh đức thuyết pháp, khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ rồi, cư sĩ Đệ Thập, người Bát thành, thưa rằng:
Bạch chư Thượng tôn, Tôn giả A-nan hiện giờ ở đâu? Con muốn được gặp.
Các Tỳ-kheo Thượng tôn đáp:
Này cư sĩ, Tôn giả A-nan hiện đang ở tại ngôi nhà gác cao, bên ao Di Hầu, thành Tỳ-xá-ly,[4] nếu ông muốn gặp thì hãy đến đó!
Bấy giờ, cư sĩ Đệ Thập, người Bát thành từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu lạy sát chân các Tỳ-kheo Thượng tôn, nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi, đến chỗ Tôn giả A-nan. Đến nơi, cúi đầu lạy sát chân Tôn giả rồi ngồi sang một bên và thưa: – Bạch Tôn giả A-nan, con có điều muốn hỏi, ngài cho phép con hỏi chăng?
Tôn giả A-nan bảo:
Này cư sĩ! Muốn hỏi gì thì cứ hỏi, tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.
[0802b01] Cư sĩ hỏi:
Bạch Tôn giả A-nan! Đức Thế Tôn, đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Giác đã thành tựu mắt tuệ, thấy được chân lý tối thượng, Ngài có dạy một pháp nào mà vị Thánh đệ tử nếu an trú vào đó thì sẽ đoạn sạch hoàn toàn lậu hoặc, tâm được giải thoát không?
Tôn giả A-nan đáp:
Có pháp đó, này cư sĩ!
Cư sĩ hỏi tiếp:
Bạch Tôn giả A-nan! Đức Thế Tôn, đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Giác đã thành tựu mắt tuệ, thấy được chân lý tối thượng, Ngài dạy một pháp gì mà nếu vị Thánh đệ tử an trú vào pháp đó thì sẽ đoạn sạch hoàn toàn lậu hoặc, tâm được giải thoát?
Tôn giải A-nan đáp:
Này cư sĩ! Thánh đệ tử đa văn ly dục, ly ác bất thiện pháp,… (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú. Vị ấy nương tựa nơi này mà quán pháp đúng như pháp. Vị ấy nương tựa nơi này mà quán pháp đúng như pháp rồi, an trú vào pháp quán đó mà đoạn sạch các lậu. Hoặc có trường hợp an trú vào pháp đó nhưng không đoạn sạch các lậu thì nhờ nơi pháp này, ước muốn pháp này, ưa thích pháp này, vui với pháp này, an trú pháp này, hoan hỷ, say mê pháp này[5] mà đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, rồi hóa sanh nơi cõi kia mà nhập Niết-bàn, được pháp bất thoái, vĩnh viễn không còn trở lại cõi này nữa.
Lại nữa, này cư sĩ! Tâm của vị Thánh đệ tử đa văn cùng tương ưng với từ, đầy khắp một phương, thành tựu và an trú. Cũng vậy, trong hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và phương trên, phương dưới, rải khắp mọi nơi, tâm vị ấy tương ưng với từ, không gây thù kết oán, không sân hận tổn hại, rộng lớn bao la, khéo tu vô lượng, rải khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú. Cũng vậy, tâm vị ấy tương ưng với bi, hỷ và xả, không gây thù kết oán, không sân giận tổn hại, rộng lớn bao la, khéo tu vô lượng, rải khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú. Vị ấy nương tựa nơi này mà quán pháp đúng như pháp. Vị ấy nương tựa nơi này mà quán pháp đúng như pháp rồi, an trú vào pháp đó mà đoạn sạch các lậu. Hoặc có trường hợp an trú vào pháp đó nhưng không đoạn sạch các lậu thì nhờ nơi pháp này, ước muốn pháp này, ưa thích pháp này, vui với pháp này, an trú pháp này, hoan hỷ, say mê pháp này mà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, rồi hóa sanh vào cõi kia mà nhập Niết-bàn, được pháp bất thoái, vĩnh viễn không còn tái sanh lại cõi này nữa.
Đây là chính là một pháp mà đức Thế Tôn, đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Chánh Giác đã thành tựu mắt tuệ, thấy được chân lý tối thượng thuyết giảng, nếu Thánh đệ tử đa văn an trú vào pháp này thì sẽ đoạn sạch các lậu, tâm được giải thoát.
Lại nữa, này cư sĩ, Thánh đệ tử đa văn vượt qua tất cả sắc tưởng cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu và an trú. Vị ấy ở nơi này mà quán pháp đúng như pháp. Vị ấy ở nơi này mà quán pháp đúng như pháp rồi, an trú vào pháp đó mà đoạn sạch các lậu. Hoặc có trường hợp an trú vào pháp đó nhưng không đoạn sạch các lậu thì nhờ pháp này, ước muốn pháp này, ưa thích pháp này, vui với pháp này, an trú pháp này, hoan hỷ, say mê pháp này mà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, rồi hóa sanh vào cõi kia mà nhập Niết-bàn, được pháp bất thoái, vĩnh viễn không còn tái sanh lại cõi này nữa.
Đây là chính là một pháp mà đức Thế Tôn, đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Chánh Giác đã thành tựu mắt tuệ, thấy được chân lý tối thượng thuyết giảng, nếu Thánh đệ tử đa văn an trú vào pháp này sẽ đoạn sạch các lậu hoặc, tâm được giải thoát.
[0802c05] Bấy giờ, cư sĩ Đệ Thập, người ở Bát thành, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai phải, chắp tay và bạch:
– Thưa Tôn giả A-nan, thật là kỳ diệu, thật là đặc thù! Con chỉ hỏi Tôn giả A-nan một cánh cửa bất tử, thế mà Tôn giả đã nói cho con nghe một lượt đến mười hai[6] cánh cửa bất tử. Ngay đây, nếu thực tập theo một pháp trong mười hai pháp ấy thì sẽ được giải thoát an ổn.
Thưa Tôn giả A-nan! Cũng như cách ngôi làng không xa, có một ngôi nhà lớn, có mười hai cánh cửa đều mở toang. Một người có việc cần nên vào trong ngôi nhà ấy. Lại có một người khác đến, nhưng không muốn đem lại sự lợi ích và phước lạc, không muốn sự an ổn cho người kia nên châm lửa đốt nhà. Thưa Tôn giả A-nan! Người ở trong ngôi nhà có thể theo một trong mười hai cửa để thoát ra ngôi nhà bị cháy kia một cách an toàn. Cũng vậy, bạch Tôn giả, con chỉ hỏi một cửa bất tử mà ngài đã nói cho con nghe một lượt đến mười hai cửa pháp bất tử. Ngay đây, con thực tập một trong mười hai cửa pháp bất tử này thì sẽ được an ổn giải thoát.
Bạch Tôn giả A-nan, trong giáo pháp và giới luật của Phạm chí có nói về giáo pháp và giới luật bất thiện mà vẫn còn có sự cúng dường thầy, huống gì con lại không cúng dường bậc Đại sư như Tôn giả A-nan hay sao?
Rồi ngay trong đêm ấy, cư sĩ Đệ Thập, người ở Bát thành, sắm sửa các món ăn thơm ngon, tinh khiết, đầy đủ các loại cứng và mềm, dễ tiêu hóa. Sau khi bày biện thức ăn xong, vào lúc sáng sớm, trải sẵn chỗ ngồi, cư sĩ cung thỉnh chúng Tăng ở Kê Viên và chúng Tăng ở thành Tỳ-xá-ly nhóm họp lại, rồi tự đi lấy nước rửa, đem nhiều món ngon tinh khiết và các loại thức ăn dễ tiêu hóa, tự tay cúng dâng khiến chúng Tăng no đủ. Thọ trai xong, thu bát, lấy nước rửa tay, cư sĩ dùng năm trăm vật phẩm để mua một ngôi nhà[7] cúng riêng cho Tôn giả A-nan. Tôn giả A-nan nhận lãnh rồi đem cúng cho chư Tăng bốn phương.[8]
Tôn giả A-nan dạy như vậy, cư sĩ Đệ Thập, người ở Bát thành, sau khi nghe Tôn giả A-nan dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
[1] Nguyên tác: Bát thành kinh 八城經 (T.01. 0026.217. 0802a11). Tham chiếu: Thập chi cư sĩ Bát thành nhân kinh 十支居士八城人經 (T.01. 0092. 0916a17); M. 52, Aṭṭhakanāgara Sutta (Kinh Bát thành); A. 11.16 - V. 342.
[2] Ba-la-lợi tử thành (波羅利子城) tức thành Pāṭaliputta.
[3] Kê Viên (雞園, Kukkuṭārāma), khu vườn ở thành Pāṭaliputta. Theo Mahāvagga, khu vườn này cũng là nơi lưu trú của nhiều vị Tỳ-kheo danh đức như Nilavāsi, Sānavāsi, Gopaka, Bhagu, Phalikasandāna. 4 Đệ Thập cư sĩ Bát thành (第十居士八城). M. 52: Dasamo gahapati Aṭṭhaka nāgaro (gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka).
[4] Di Hầu giang biên Cao Lâu đài quán (獮猴江邊高樓臺觀). Tham chiếu: M. 52: Beluvagāmaka (ấp Trúc Lâm).
[5] Dục pháp, ái pháp, lạc pháp, tĩnh pháp, ái lạc hoan hỷ (欲法愛法樂法靜法愛樂歡喜). Tham chiếu: M. 52: Teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā (do sự đam mê đối với pháp, do sự vui say đối với pháp).
[6] Tức 4 Sắc giới thiền (四色界禪), 4 Vô lượng tâm (四無量心), 4 Vô sắc định (四無色定).
[7] Nguyên tác: Trì ngũ bách chủng vật mại ốc (持五百種物買屋). M. 52 và A. 11.16 - V. 342 đều ghi: Pañcasatavihāraṃ. HT. Thích Minh Châu cho rằng cụm từ này mang 2 nghĩa: Thứ nhất là tinh xá có giá trị đến 500 đồng tiền vàng; thứ hai là tinh xá có 500 phòng. Nếu y cứ bản Hán thì nghĩa thứ nhất hợp lý hơn.
[8] Nguyên tác: Chiêu-đề-tăng (招提僧, Catuddisāsaṅgha), dịch nghĩa là chư Tăng bốn phương.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.