Viện Nghiên Cứu Phật Học

215. KINH CHỨNG ĐẮC BẬC NHẤT[1]

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

[0799c01] Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Tất cả những nơi nào mà Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la được quyền ban giáo lệnh đến thì nơi đó Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la là bậc nhất. Tuy nhiên Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la vẫn chịu sự biến chuyển và đổi thay. Vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vậy liền sanh nhàm chán cái bậc nhất đó. Khi đã nhàm chán điều đó rồi, đối với cái bậc nhất mà còn không ham muốn, huống gì những thứ thấp kém khác?

Những nơi mà ánh sáng của mặt trời, mặt trăng chiếu đến, những phương được chiếu đến gồm có một ngàn thế giới.[2] Trong một ngàn thế giới đó có một ngàn mặt trời, một ngàn mặt trăng, một ngàn châu Phất-vu-đãi,[3] một ngàn châu Diêm-phù,[4] một ngàn châu Câu-đà-ni,[5] một ngàn châu Uất-đan-việt,[6] một ngàn núi Tu-di,[7] một ngàn cõi Tứ Đại Thiên Vương, một ngàn Vương tử cõi Tứ Thiên Vương, một ngàn cõi trời Ba Mươi Ba,[8] một ngàn Thích thiên Nhânđà-la,[9] một ngàn cõi trời Diệm-ma,[10] một ngàn thiên tử cõi Tu-diệm-ma, một ngàn cõi trời Đâu-suất-đà,[11] một ngàn thiên tử cõi Đâu-suất-đà, một ngàn cõi trời Hóa Lạc,[12] một ngàn thiên tử cõi Thiện Hóa Lạc,[13] một ngàn cõi trời Tha Hóa Lạc,[14] một ngàn thiên tử cõi Tự Tại, một ngàn Phạm thế giới15 và một ngàn cõi Phạm khác. Trong đó có một vị Đại Phạm, vị này là bậc biến hóa tôn quý, ban phước phù trợ, là đấng tạo hóa chúng sanh đã sanh và sẽ sanh. Tuy nhiên, vị Đại Phạm ấy cũng chịu sự biến chuyển và đổi thay. Vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vậy liền sanh ra nhàm chán cái bậc nhất ấy. Khi đã nhàm chán điều đó rồi, đối với cái bậc nhất kia mà còn không ham muốn, huống gì những thứ thấp kém khác?

Về sau thế giới này sẽ tan hoại. Khi thế giới này tan hoại, chúng sanh sanh lên cõi trời Hoảng Dục.[15] Chúng sanh trong cõi đó có sắc thân, nương ý mà sanh ra,[16] đầy đủ các thân phần, chi thể không thiếu, các căn không hư hoại, lấy niềm vui làm thức ăn, hình sắc thanh tịnh, thân tỏa ánh sáng, bay trong hư không, sống ở đó rất lâu. Nhưng cõi trời Hoảng Dục vẫn chịu sự biến chuyển và đổi thay. Vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vậy cho nên nhàm chán cõi ấy. Khi đã nhàm chán cõi ấy rồi, đối với cái bậc nhất ấy mà còn không ham muốn, huống gì những thứ thấp kém khác?

Lại nữa, có bốn tưởng. Có Tỳ-kheo suy tưởng với tưởng nhỏ, hoặc suy tưởng với tưởng lớn, hoặc suy tưởng với tưởng vô lượng, hoặc tưởng vô sở hữu. Nhưng những chúng sanh tin hiểu[17] nơi những lạc tưởng như vậy[18] cũng chịu sự biến chuyển và đổi thay. Vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vậy cho nên nhàm chán những lạc tưởng ấy. Khi đã nhàm chán rồi, đối với cái bậc nhất ấy mà còn không ham muốn, huống gì những thứ thấp kém khác?

Lại nữa, có tám Trừ xứ.[19] Là tám Trừ xứ nào? Này Tỳ-kheo, bên trong có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, một lượng nhỏ sắc đẹp hoặc sắc xấu; đối với sắc ấy biết rằng đã trừ, thấy rằng đã trừ, tưởng như vậy gọi là Trừ xứ thứ nhất.

Lại nữa, Tỳ-kheo! Bên trong có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, vô lượng sắc đẹp và sắc xấu; đối với sắc ấy biết rằng đã trừ, thấy rằng đã trừ, tưởng như vậy được gọi là Trừ xứ thứ hai.

Lại nữa, Tỳ-kheo! Bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, một lượng nhỏ sắc đẹp hoặc sắc xấu; đối với sắc ấy biết rằng đã trừ, thấy rằng đã trừ, tưởng như vậy được gọi là Trừ xứ thứ ba.

Lại nữa, Tỳ-kheo! Bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, vô lượng sắc đẹp hoặc sắc xấu; đối với sắc ấy biết rằng đã trừ, thấy rằng đã trừ, tưởng như vậy được gọi là Trừ xứ thứ tư.

[0800a05] Lại nữa, Tỳ-kheo! Bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, màu sắc xanh mượt, sắc xanh hiển hiện, sắc xanh chiếu sáng. Giống như hoa thanh thủy có màu sắc xanh mượt, sắc xanh hiển hiện, sắc xanh chiếu sáng. Cũng như chiếc áo lụa nước Ba-la-nại[20] được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, màu sắc sáng tươi mát, màu sắc xanh mượt, sắc xanh hiển hiện, sắc xanh chiếu sáng. Cũng vậy, Tỳ-kheo! Bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, màu sắc xanh mượt, sắc xanh hiển hiện, sắc xanh chiếu sáng, vô lượng vô biên, ý thanh tịnh, ý thấm nhuần, ưa thích, không chán ghét. Đối với sắc ấy, biết rằng đã trừ, thấy rằng đã trừ, tưởng như vậy được gọi là Trừ xứ thứ năm.

Lại nữa, Tỳ-kheo! Bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, màu sắc vàng ánh, sắc vàng hiển hiện, sắc vàng chiếu sáng. Giống như hoa tần-đầuca-la[21] có màu vàng ánh, sắc vàng hiển hiện, sắc vàng chiếu sáng. Cũng như chiếc áo lụa nước Ba-la-nại, được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, màu sắc vàng ánh, sắc vàng hiển hiện, sắc vàng chiếu sáng. Cũng vậy, Tỳ-kheo! Bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, màu sắc vàng ánh, sắc vàng hiển hiện, sắc vàng chiếu sáng, vô lượng vô biên, ý thanh tịnh, ý thấm nhuần, ưa thích, không chán ghét. Đối với sắc ấy, biết rằng đã trừ, thấy rằng đã trừ, tưởng như vậy được gọi là Trừ xứ thứ sáu.

Lại nữa, Tỳ-kheo! Bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, màu sắc đỏ rực, sắc đỏ hiển hiện, sắc đỏ chiếu sáng. Giống như hoa ca-ni-ca-la[22] màu sắc đỏ rực, sắc đỏ hiển hiện, sắc đỏ chiếu sáng. Cũng như chiếc áo lụa nước Ba-la-nại được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, màu sắc tươi sáng, màu sắc đỏ rực, sắc đỏ hiển hiện, sắc đỏ chiếu sáng. Cũng vậy, Tỳ-kheo bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, màu sắc đỏ rực, sắc đỏ hiển hiện, sắc đỏ chiếu sáng, vô lượng vô biên, ý thanh tịnh, ý thấm nhuần, ưa thích, không chán ghét. Đối với sắc ấy, biết rằng đã trừ, thấy rằng đã trừ, tưởng như vậy được gọi là Trừ xứ thứ bảy.

Lại nữa, Tỳ-kheo! Bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, màu sắc trắng tinh, sắc trắng hiển hiện, sắc trắng chiếu sáng. Giống như sao Thái Bạch, màu sắc trắng tinh, sắc trắng hiển hiện, sắc trắng chiếu sáng. Cũng như chiếc áo lụa nước Ba-la-nại được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến trắng tinh, màu sắc tươi sáng, màu sắc trắng tinh, sắc trắng hiển hiện, sắc trắng chiếu sáng. Cũng vậy, Tỳ-kheo! Bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, màu sắc trắng tinh, sắc trắng hiển hiện, sắc trắng chiếu sáng, vô lượng vô biên, ý thanh tịnh, ý thấm nhuần, ưa thích, không chán ghét. Đối với sắc ấy biết rằng đã trừ, thấy rằng đã trừ, tưởng như vậy được gọi là Trừ xứ thứ tám.

Những chúng sanh tin hiểu và vui thích theo những Trừ xứ như vậy cũng chịu sự biến chuyển và đổi thay. Vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vậy cho nên nhàm chán những Trừ xứ đó. Khi đã nhàm chán chúng rồi, đối với cái bậc nhất ấy mà còn không ham muốn, huống gì những thứ thấp kém khác?

[0800b03] Lại nữa, có mười biến xứ.[23] Là mười biến xứ nào? Nghĩa là có Tỳkheo tu tập với một đối tượng[24] là biến xứ đất,[25] tư duy trên dưới các phương, không hai. Vị ấy tu tập với một đối tượng là biến xứ nước, một biến xứ lửa, một biến xứ gió, một biến xứ màu xanh, một biến xứ màu vàng, một biến xứ màu đỏ, một biến xứ màu trắng, một biến xứ hư không và một biến xứ thức là thứ mười. Tu tập với một biến xứ, tư duy trên dưới các phương, không hai. Những chúng sanh tin hiểu và vui thích nơi các biến xứ như vậy cũng biến chuyển và đổi thay. Vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vậy cho nên sanh nhàm chán điều đó. Khi đã nhàm chán rồi, đối với cái bậc nhất mà còn không ham muốn, huống gì những thứ thấp kém khác?

Đó gọi là giáo thuyết thanh tịnh bậc nhất, là sự an lập tối thượng bậc nhất, gọi là “Ngã là hư vô, ngã không tồn tại.”[26] Vì để thành tựu chủ trương đó mà thiết lập con đường thực hành, được xem như là chỗ y cứ bậc nhất của kiến chấp ngoại đạo, cũng gọi là vượt qua tất cả sắc tưởng, cho đến chứng phi hữu tưởng, phi vô tưởng xứ, thành tựu và an trú. Đó gọi là ngay trong hiện tại mà mong cầu bậc nhất đạt đến Niết-bàn, ngay trong hiện tại mà kiến lập tối thượng về Niết-bàn, nghĩa là sáu xúc xứ về sự sanh khởi, sự diệt tận, vị ngọt và sự xuất ly được thấy như thật bằng trí tuệ, cho đến vì để chứng ngộ điều đó mà thiết lập con đường thực hành.

Lại nữa, có bốn con đường thực hành.[27] Là bốn con đường nào? Có con đường thực hành an vui mà chậm chứng đắc; có con đường thực hành an vui mà nhanh chứng đắc; có con đường thực hành khổ nhọc mà chậm chứng đắc và có con đường thực hành khổ nhọc mà nhanh chứng đắc.

Trong đó, hoặc có con đường thực hành an vui mà chậm chứng đắc, vì an vui mà chậm chứng đắc, cho nên nói đây là cách thấp kém.[28]

[0800c01] Trong đó, hoặc có con đường thực hành an vui mà nhanh chứng đắc, vì an vui mà nhanh chứng đắc, cho nên con đường thực hành này được gọi là thấp kém.

Trong đó, hoặc có con đường thực hành khổ nhọc mà chậm chứng đắc, vì khổ nhọc mà chậm chứng đắc, cho nên con đường thực hành này được gọi là thấp kém.

Trong đó, hoặc có con đường thực hành khổ nhọc mà nhanh chứng đắc, vì khổ nhọc mà nhanh chứng đắc, cho nên con đường thực hành này không được truyền bá rộng rãi, cho đến chư thiên và loài người cũng không khen ngợi và truyền bá rộng rãi.

Con đường thực hành của Như Lai được lưu truyền và quảng bố rộng rãi, cho đến chư thiên và loài người cũng khen ngợi và truyền bá rộng rãi. Vì sao con đường thực hành của Như Lai được lưu truyền và quảng bố rộng rãi, cho đến chư thiên và loài người cũng khen ngợi và truyền bá rộng rãi? Đó là thực hành theo tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó gọi là con đường thực hành của Như Lai được lưu truyền và quảng bố rộng rãi, cho đến chư thiên và loài người cũng khen ngợi và truyền bá rộng rãi.

Như Lai giảng dạy như vậy, nhưng các Sa-môn, Phạm chí hư ngụy, dối trá, bất thiện, không chân thật đã hủy báng Như Lai: “Quả thật có chúng sanh được an lập trong sự đoạn diệt[29] nhưng Sa-môn Cù-đàm không tuyên bố điều đó.” Thật sự là có chúng sanh được an lập trong sự đoạn diệt,[30] vì nếu không có điều đó thì Như Lai đã không thuyết giảng như vậy. Ngay trong đời này Như Lai đã đoạn trừ tất cả, chứng đắc Niết-bàn tịch tĩnh, ngưng nghỉ, diệt tận.[31]

Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

***

Kệ tóm tắt:

Cúng dường tam thiện căn,       
Tam thống tam phú lộ,
Tướng pháp tam bất giác,          
Ái kính vô yểm túc.[32]

 

Chú thích:

[1] Nguyên tác: Đệ nhất đắc kinh 第一得經  (T.01. 0026.215. 0799b27). Tham chiếu: A. 10.29 - V. 59.

[2] Thiên thế giới (千世界, Sahassadhā loka / Sahassīlokadhātu).

[3] Phất-vu-đãi (弗于逮, Pubbavideha).

[4] Diêm-phù châu (閻浮洲, Jambudīpa).

[5] Câu-đà-ni châu (拘陀尼洲, Aparagoyāna).

[6] Uất-đan-việt (欝單越, 欝單曰, Uttarakuru).

[7] Tu-di sơn (須彌山, Sinerupabbatarāja).

[8] Tam Thập Tam thiên (三十三天, Tāvatiṃsa) tức Đao-lợi thiên (忉利天).

[9] Thích thiên Nhân-đà-la (釋天因陀羅, Sakka Devanaṃ Inda) tức Thiên Đế-thích.

[10] Diệm-ma thiên (焰摩天, Yāma).

[11] Đâu-suất-đà thiên (兜率哆天, Tusita).

[12] Hóa Lạc thiên (化樂天, Nimmānarati).

[13] Thiện Hóa Lạc (善化樂, 化善樂, Nimmanarati).

[14] Tha Hóa Lạc (他化樂, Paranimmitavasavattin). 15 Phạm thế giới (梵世界, Brahmaloka).

[15] Hoảng Dục thiên (晃昱天) hay Quang Âm thiên (光音天), Cực Quang thiên (極光天).

[16] Ý sinh (意生, Manomayā).

[17] Nguyên tác: Ý giải (意解, adhimucca), còn gọi là “thắng giải” (勝解) hoặc “tín giải” (信解).

[18] Chỉ các chúng sinh trên cõi Vô Sở Hữu Xứ (無所有處, Ākiñcaññāyatana).

[19] Nguyên tác: Bát Trừ xứ (八除處): DĀ. 10 ghi: Bát Trừ nhập (八除入). Ngài Huyền Trang trong Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh 大般若波羅蜜多經 (T.05. 0220.3. 0012a10) dịch: Bát Thắng xứ (八勝處, aṭṭha Abhibhāyatanāni), là 8 nền tảng của sự siêu việt, 8 phương cách quán tưởng trong khi tu tập thiền định.

[20] Ba-la-nại (波羅㮈, Bārāṇasī).

[21] Tần-đầu-ca-la hoa (頻頭歌羅華, bandhujīvaka puppha). Theo PED, đó là loài hoa có tên gọi khoa học là Pentapetes Phoenicea, thuộc họ Cẩm Quỳ, là loài hoa màu đỏ. Để bản nhầm loài hoa này với hoa ca-ni-ca-la (加尼歌羅華, kaṇṇikāra puppha), là loài hoa màu vàng. Xem thêm A. 10.29 - V. 59: Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, như hoa kaṇṇikāra màu vàng… Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, như hoa bandhujīvaka màu đỏ… (HT. Thích Minh Châu dịch).

[22] Ca-ni-ca-la (加尼歌羅華, kaṇṇikāra puppha), một loài cây thân mộc, có gỗ màu đỏ, thuộc họ Cẩm Quỳ, có tên khoa học là Pterospermum Acerifolium.

[23] Nguyên tác: Thập nhất thiết xứ (十一切處, dasa kasiṇāyatanāni), còn gọi là “thập nhất thiết nhập” hay “thập biến xứ”, là tổng hợp tất cả vạn hữu thành một đối tượng để quán, phương pháp đó có 10 loại: đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, trắng, đỏ, không và thức.

[24] Nguyên tác: Tu nhất (修一).

[25] Nguyên tác: Địa xứ (地處, paṭhavī kasiṇa).

[26] Nguyên tác: Ngã vô, ngã bất hữu (我無, 我不有). Đây thuộc về quan điểm “đoạn kiến” (斷見) hoặc còn gọi là “hoại hữu kiến” (壞有見, ucchedadiṭṭhi). Tham chiếu: S. 22.81 - III. 95: Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta (HT. Thích Minh Châu dịch).

[27] Nguyên tác: Tứ đoạn (四斷). ghi: Tứ đạo (四道); ghi: Tứ sự hành tích (四事行跡); A. 4.162 - II. 149 gọi Catasso… paṭipadā, là 4 con đường thực hành. Đoạn (斷) trong bản kinh này được dùng như đạo (道, paṭipadā).

[28] Từ đoạn này, bản dịch Việt căn cứ vào chú thích trong bản Đại Chánh, nằm ở cuối kinh, từ dòng 0800c1 đến c14, gồm 213 chữ, được thâu nạp từ bản Nguyên (元本).

[29] Nguyên tác: Thi thiết đoạn hoại (施設斷壞): Chủ trương đoạn diệt của ngoại đạo. Đây chủ trương Đoạn diệt luận (Ucchedavāda) của Ajīta Kesakambala. Xem thêm chủ trương của ông ta trong . 27: Con người vốn do 4 đại hợp thành, đến lúc mạng chung thì đất trở về đất, nước trở về nước, lửa trở về lửa, gió trở về gió, tất cả đều phải tan rã, các căn phải trở về hư không. Khi con người lâm chung thì người ta khiêng tử thi bỏ ngoài bãi tha ma, thiêu cháy xương cốt thành màu như chim bồ câu, hoặc biến thành tro đất, bất luận kẻ ngu hay người trí, đến lúc mạng chung cũng đều bị tan rã, là pháp đoạn diệt.

[30] Nguyên tác: Đoạn hoại (斷壞), chỉ cho việc đoạn diệt tất cả phiền não và những nguyên nhân của sanh tử. Chúng sanh được an lập trong sự đoạn diệt ở đây chỉ cho bậc Thánh A-la-hán.

[31] Đoạn kết luận trong bản Đại Chánh gồm 88 chữ, từ dòng 0800b19 đến dòng b24. Chú thích bản Đại Chánh cho biết rằng, đoạn kết này có nhiều dị biệt trong cả 3 bản Tống, Nguyên, Minh. Đoạn kết này được thâu nhập ở phần cuối bản Thánh (聖本). Nguyên văn: Nếu có người đoạn dục lạc, hoặc có người thực hành pháp này không bao giờ thấy chán, hoặc có người tập tành uống rượu không bao giờ thấy chán, hoặc có người ham mê ngủ nghỉ không bao giờ thấy chán. Này Tỳ-kheo, đó là nói hoặc có người học làm theo 3 pháp này không bao giờ thấy chán và cũng không thể đi đến chỗ diệt tận. Cho nên, các Tỳ-kheo hãy thường từ bỏ 3 pháp này, không thân cận chúng. Như vậy, các Tỳ-kheo hãy học như

vậy. (若有斷樂欲,若有人習此法初無厭足,若復有人習飲酒者初無厭足,若復有人修習睡眠初無厭足是謂比丘,若人有習此三法者初無厭足亦復不能至滅盡處.是故諸比丘常當捨離此三法,不親近之.如是諸比丘當作是學).

[32] Nguyên tác Nhiếp tụng: 供養三善根,三痛三覆露,相法三不覺,愛敬無厭足. Bài kệ Nhiếp tụng này vốn nằm ở Tăng. 增 (T.02. 0125.21.10. 0609a05). Phải chăng đã có sự nhầm lẫn phần trong văn khắc ở bản Hán, hoặc trong khi san định phần cuối đoạn kinh này trong tạng Đại Chánh? Bản Hán, hết quyển 59.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.