Viện Nghiên Cứu Phật Học

213. KINH PHÁP TRANG NGHIÊM[1]

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng họ Thích, ngụ tại Di-lũ-ly,2 một thị trấn của dòng họ Thích.

Bấy giờ, vì có việc cần làm nên Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la và Đại tướng Trường Tác[2] đi đến một thị trấn tên gọi là Thành.[3] Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la du ngoạn Ngự viên,[4] nhìn thấy cây cối tĩnh mịch, không một tiếng động, không gian vắng lặng, không có điều xấu, không một bóng người, thích hợp tĩnh tọa. Nhìn thấy như vậy rồi, nhà vua liền nghĩ nhớ đến đức Thế Tôn. Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la hỏi:

Này Trường Tác! Nơi đây cây cối tĩnh mịch, không một tiếng động, không gian vắng lặng, không có điều xấu, không một bóng người, thích hợp tĩnh tọa. Nơi đây, ta thường ghé đến thăm đức Thế Tôn. Này Trường Tác, Thế Tôn đang ngụ tại đâu? Ta muốn đến thăm Ngài.

Trường Tác tâu:

Thưa Thiên vương! Thần nghe đức Thế Tôn đang du hóa trong dân chúng họ Thích, ngụ tại Di-lũ-ly, một thị trấn của dòng họ Thích.

Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la lại hỏi:

Này Trường Tác! Thị trấn Di-lũ-ly của dòng họ Thích cách đây bao xa?

[0795c01] Trường Tác đáp:

Thưa Thiên vương, cách đây khoảng ba câu-lô-xá.[5]Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nói:

Này Trường Tác! Khanh hãy ra lệnh cho sửa soạn xa giá. Ta muốn đến nơi Thế Tôn đang ngự.

Trường Tác vâng lời, liền truyền lệnh cho sửa soạn xa giá rồi tâu:

Tâu Thiên vương! Xa giá đã sửa soạn xong, xin Thiên vương đi cho kịp lúc.

Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la liền lên xe đi ra khỏi thành, đến thị trấn Dilũ-ly của dòng họ Thích. Lúc đó, ngoài cổng Di-lũ-ly có số đông các Tỳ-kheo đang đi kinh hành nơi khoảng đất trống. Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đến chỗ các Tỳ-kheo và hỏi:

Thưa chư Tôn! Đức Thế Tôn hiện đang nghỉ trưa ở đâu?

Các Tỳ-kheo đáp:

Thưa Đại vương! Ở phía Đông kia, nơi ngôi nhà lớn có cửa sổ mở, cửa lớn đóng, đức Thế Tôn đang nghỉ trưa tại đó. Nếu Đại vương muốn thăm thì hãy đến đó. Đến nơi, Ngài đứng bên ngoài tằng hắng và gõ cửa, đức Thế Tôn nghe tiếng sẽ ra mở cửa.

Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la liền bước xuống xe. Khi vị Vua Quán đảnh dòng Sát-lợi xuất hiện để thống trị muôn dân, ban sắc lệnh khắp cõi nước thì vị ấy có năm nghi trượng là kiếm, lọng, tràng hoa, phất trần cán ngọc và giày thêu. Vua Ba-tư-nặc cởi bỏ tất cả năm nghi trượng ấy trao cho Trường Tác. Trường Tác thầm nghĩ: “Hôm nay, Thiên vương ắt vào đây một mình, chúng ta nên đứng đợi ở đây.”

Rồi Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la dẫn quyến thuộc tiến đến ngôi nhà lớn phía Đông kia. Đến nơi, vua đứng bên ngoài tằng hắng và gõ cửa. Đức Thế Tôn nghe tiếng liền ra mở cửa. Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la liền bước vào trong nhà, đến trước đức Phật, cúi lạy sát chân Phật rồi ba lần tự xưng tên họ:

Con là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la! Con là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la.

Đức Thế Tôn đáp:

Đúng vậy, Đại vương! Ngài là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la. Ngài là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la.

Sau ba lần tự xưng tên họ xong, Vua Ba-tư-nặc cúi lạy sát chân Phật và ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn hỏi:

Này Đại vương! Đại vương thấy nơi Như Lai có những thiện lợi gì mà tự hạ mình cúi lạy sát chân và cúng dường cung kính như vậy?

Vua Ba-tư-nặc thưa:

Bạch Thế Tôn! Con có sự suy luận về giáo nghĩa[6] của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng dạy, chúng đệ tử của Thế Tôn cũng khéo hướng đến.”[7]Bạch Thế Tôn! Khi con ngồi nơi công đường,[8] chứng kiến mẹ tranh cãi với con, con tranh cãi với mẹ, cha con, anh em, chị em, bà con quyến thuộc tranh chấp lẫn nhau. Trong khi họ tranh chấp thì mẹ nói con xấu, con nói mẹ xấu, cha con, anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc nói xấu lẫn nhau. Người thân thích trong nhà còn thế, huống gì người ngoài? Con thấy chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn theo Ngài tu hành Phạm hạnh. Nếu có Tỳ-kheo nào gây ít nhiều tranh cãi, xả giới, bỏ đạo cũng không nói xấu Phật, không nói xấu Pháp, không nói xấu chúng Tăng mà chỉ tự trách rằng: “Tôi làm việc xấu, tôi thiếu đức hạnh. Vì sao như vậy? Vì tôi không thể theo Thế Tôn tu hành Phạm hạnh đến trọn đời.” Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng dạy, chúng đệ tử của Thế Tôn cũng khéo hướng đến.”

[0796a08] Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con thấy có một số Sa-môn, Phạm chí khác, ít nhiều cũng có tu hành Phạm hạnh, hoặc chín tháng, mười tháng, nhưng lại bỏ đạo hoàn tục rồi lại bị những tham muốn thấp hèn nhiễm ô, nhiễm dục, đắm dục, bị dục trói chặt, kiêu ngạo, chấp thủ, sống vui thích với dục mà không thấy tai họa, không thấy cần phải xa lìa. Bạch Thế Tôn! Con thấy chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn, nguyện trọn đời tu tập Phạm hạnh, đông đến số ức. Ngoài đây ra, con không thấy ở đâu tu Phạm hạnh thanh tịnh như vậy, như mái nhà của Thế Tôn. Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng dạy, chúng đệ tử của Thế Tôn cũng khéo hướng đến.”

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con thấy có một số Sa-môn, Phạm chí gầy còm tiều tuỵ, tướng mạo xấu xí, mình nổi vảy trắng, chẳng ai muốn nhìn. Con tự nghĩ rằng: “Các Tôn giả này vì sao lại gầy còm tiều tuỵ, tướng mạo xấu xí, mình nổi vảy trắng và chẳng ai muốn nhìn? Phải chăng, chư Tôn này không ưa thích tu hành Phạm hạnh, hoặc vì thân bị bệnh hay lén lút làm việc xấu nên các Tôn giả ấy mới có thân hình gầy còm tiều tụy, hình sắc rất xấu, mình nổi vảy trắng, chẳng ai muốn nhìn.” Rồi con đến hỏi họ: “Các Tôn giả vì sao lại gầy còm tiều tuỵ, tướng mạo xấu xí, mình nổi vảy trắng, chẳng ai muốn nhìn? Có phải các Tôn giả không ưa thích tu hành Phạm hạnh chăng? Hoặc vì mắc bệnh hay lén lút làm việc xấu nên các Tôn giả bị thân thể gầy còm tiều tuỵ, hình sắc bạc nhược, da xấu, thân nổi vảy trắng, đến nỗi chẳng ai muốn nhìn?” Các vị ấy đáp: “Đại vương! Đây là bệnh vảy trắng. Đây là bệnh vảy trắng.”

Thưa Thế Tôn! Con thấy chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn, sống hân hoan đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể sáng sạch, buông bỏ mọi thứ ở đời, sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai, tự nguyện tu hành Phạm hạnh đến trọn đời. Thấy vậy, con nghĩ rằng: “Các Tôn giả này vì sao sống hân hoan, đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể sáng sạch, buông bỏ mọi thứ ở đời, sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai, tự nguyện tu hành Phạm hạnh đến trọn đời? Hay chư Tôn này đã đạt được hạnh lìa dục, hoặc chứng đắc tâm tăng thượng, an trú hạnh phúc trong hiện tại, dễ dàng thành tựu, không phải quá khó?” Vì thế các Tôn giả này mới có được hân hoan, đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể sáng sạch, buông bỏ mọi thứ ở đời, sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai, tự nguyện tu hành Phạm hạnh đến trọn đời như vậy. Nếu sống trong dục lạc mà được hân hoan, đoan chánh thì chính ta phải được đời sống hân hoan, đoan chánh ấy. Vì sao như vậy? Vì ta hưởng thụ năm thứ dục một cách dễ dàng, chẳng khó khăn gì. Nhưng các Tôn giả này đã đạt đến sự lìa dục, chứng đắc tâm tăng thượng, an lạc ngay trong hiện tại, dễ dàng thành tựu, không phải quá khó. Vì vậy, các Tôn giả này sống hân hoan, đoan chánh, với nét mặt vui tươi, hình thể sáng sạch, buông bỏ mọi thứ ở đời, sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai, tự nguyện tu hành Phạm hạnh đến trọn đời. Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng, chúng đệ tử của Thế Tôn cũng khéo hướng đến.”

[0796b15] Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con thấy có một số Sa-môn, Phạm chí thông minh trí tuệ, tự xưng mình thông minh trí tuệ, nghe nhiều quyết đoán, am hiểu các kinh, chế phục cường địch, đàm luận thông suốt, tiếng tăm lẫy lừng, lưu truyền khắp chốn, ai cũng nghe danh, nhưng các vị ấy đi đến đâu cũng đả phá các tông chủ khác và tự lập luận điểm: “Chúng ta hãy đến chỗ Sa-môn Cùđàm để hỏi những việc như vậy, như vậy. Nếu Sa-môn Cù-đàm trả lời được thì ta sẽ chất vấn việc khác, nếu không thể trả lời được thì ta cũng chất vấn rồi bỏ đi.” Rồi họ nghe tin Thế Tôn du hóa tại làng nọ, liền tìm đến chỗ Phật, nhưng khi gặp Ngài thì họ còn không dám hỏi lời nào huống nữa là chất vấn. Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng dạy, chúng đệ tử của Thế Tôn nghe cũng khéo hướng đến.”

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con thấy có một số Sa-môn, Phạm chí thông minh trí tuệ, tự xưng mình thông minh trí tuệ, nghe nhiều quyết đoán, am hiểu các kinh, chế phục cường địch, đàm luận thông suốt, tiếng tăm lẫy lừng, lưu truyền khắp chốn, ai cũng nghe danh, nhưng họ đi đến đâu cũng đả phá tông chỉ của người khác mà tự lập luận điểm của mình rồi bảo rằng: “Chúng ta hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi những việc như vậy, như vậy. Nếu Sa-môn Cù-đàm trả lời được thì ta sẽ chất vấn việc khác, nếu không thể trả lời được thì ta cũng chất vấn xong rồi bỏ đi.” Rồi họ nghe tin Thế Tôn du hóa tại làng nọ, liền tìm đến chỗ Phật để hỏi, được Thế Tôn giải đáp rõ ràng. Khi nghe giải đáp xong, các Sa-môn, Phạm chí ấy rất vui mừng liền cúi lạy sát chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lui ra. Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế

Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng dạy, chúng đệ tử của Thế Tôn nghe cũng khéo hướng đến.”

[0796c07] Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con thấy có một số Sa-môn, Phạm chí khác thông minh trí tuệ, tự xưng là thông minh trí tuệ, nghe nhiều quyết đoán, am hiểu các kinh, chế phục cường địch, đàm luận thông suốt, tiếng tăm lẫy lừng, lưu truyền khắp chốn, ai cũng nghe danh, nhưng họ đi đến đâu cũng đả phá tông chỉ của người khác mà tự lập luận điểm của mình rồi bảo rằng: “Chúng ta hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi những việc như vậy, như vậy. Nếu Sa-môn Cù-đàm trả lời được thì ta hãy chất vấn việc khác, nếu không thể trả lời được thì ta cũng chất vấn rồi bỏ đi.” Rồi họ nghe tin Thế Tôn du hóa tại làng nọ, liền tìm đến chỗ Phật để hỏi, được Thế Tôn giải đáp rõ ràng. Các vị ấy nghe xong, lòng rất vui mừng, liền nguyện quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, cúi xin Thế Tôn nhận họ làm ưu-bà-tắc, trọn đời quy y cho đến lúc qua đời. Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng dạy, chúng đệ tử của Thế Tôn nghe cũng khéo hướng đến.”

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con thấy có một số Sa-môn, Phạm chí khác thông minh trí tuệ, tự xưng là thông minh trí tuệ, nghe nhiều quyết đoán, am hiểu các kinh, chế phục cường địch, đàm luận thông suốt, tiếng tăm lẫy lừng, lưu truyền khắp chốn, ai cũng nghe danh, nhưng họ đi đến đâu cũng đả phá tông chỉ của người khác mà tự lập luận điểm của mình rồi bảo rằng: “Chúng ta hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi những việc như vậy, như vậy. Nếu Sa-môn Cù-đàm trả lời được thì ta sẽ chất vấn việc khác, nếu không trả lời được thì ta cũng chất vấn rồi bỏ đi.” Rồi họ nghe tin Thế Tôn du hóa tại làng nọ, liền tìm đến chỗ Phật để hỏi, được Thế Tôn giải đáp rõ ràng. Khi nghe xong, các Sa-môn, Phạm chí ấy rất vui mừng, liền theo Thế Tôn cầu xin xuất gia, thọ giới Cụ túc, thành tựu pháp Tỳ-kheo. Phật liền độ cho họ và truyền trao giới Cụ túc, thành tựu pháp Tỳ-kheo.

Khi chư Tôn ấy được xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc và được pháp Tỳkheo rồi, các vị ấy sống một mình ở nơi thanh vắng, tâm không buông lung, siêng năng tu hành. Sau khi sống một mình ở nơi thanh vắng, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, Tỳ-kheo ấy đã đạt được mục đích mà người thiện nam đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, chỉ mong thành tựu Phạm hạnh vô thượng, ngay trong hiện đời, tự biết tự ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu an trú và biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Khi các Tôn giả ấy biết pháp rồi,... (cho đến) chứng đắc A-la-hán. Khi chứng đắc A-la-hán rồi thì họ liền suy nghĩ: “Chư Hiền, trước kia tôi gần như bị suy vong, gần như bị hủy diệt. Vì sao như vậy? Trước kia tôi không phải là Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn, không phải Phạm hạnh mà tự xưng là Phạm hạnh, không phải A-la-hán mà tự xưng A-la-hán. Bây giờ, chúng ta mới thực sự là Sa-môn, thực sự là Phạm hạnh, thực sự là A-lahán.” Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng, chúng đệ tử của Thế Tôn nghe cũng khéo hướng đến.”

[0797a12] Lại nữa, bạch Thế Tôn! Trong đất nước của mình, con tự do muốn giết ai thì ra lệnh giết, bất luận là người có tội hay vô tội; nhưng khi con ngồi trên công đường, con vẫn không thể ra lệnh như vầy: “Các khanh hãy giữ im lặng, không ai hỏi việc với các khanh mà chính là hỏi việc nơi ta. Các khanh không thể quyết đoán việc này, chỉ có ta mới có thể quyết đoán việc này.” Thế nhưng ở trong đó vẫn có người bàn cãi việc khác, không đợi người trước nói xong. Trong khi đó, con nhiều lần thấy đại chúng ngồi vây quanh nghe Thế Tôn thuyết pháp thì có một người ngủ gục và ngáy ra tiếng, thấy vậy một người đến đánh thức và nói: “Ngài chớ ngủ gục và ngáy ra tiếng. Ngài không muốn nghe Thế Tôn thuyết pháp như cam lồ chăng?” Người kia nghe vậy liền im lặng. Con nghĩ rằng: “Thật là kỳ diệu! Thật là đặc thù! Như Lai là bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, là bậc Điều Ngự đại chúng. Vì sao như vậy? Vì Ngài không dùng dao gậy, nhưng tất cả đều đúng như pháp mà được an ổn khoái lạc.” Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng dạy, chúng đệ tử của Thế Tôn nghe cũng khéo hướng đến.”

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Hai cận thần phụ chính là Tiên Dư và Túc Cựu luôn được con chiếu cố, ban phát cho bổng lộc, thường được con khen ngợi, đời sống của họ nhờ con mà có. Nhưng con không thể ra lệnh hai cận thần phụ chính này hết lòng cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự cho con, như hết lòng cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Thế Tôn vậy. Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng, chúng đệ tử của Thế Tôn nghe cũng khéo hướng đến.”

[0797b02] Lại nữa, bạch Thế Tôn! Thuở xưa, trong lúc ra trận, con nghỉ đêm trong một ngôi nhà nhỏ, con muốn thử hai cận thần là Tiên Dư và Túc Cựu để biết khi ngủ, hai người ấy quay đầu về phía nào, phía con hay phía Thế Tôn? Khi quan sát, con thấy hai cận thần Tiên Dư và Túc Cựu, vào đầu đêm ngồi kiết-già, yên lặng tĩnh tọa, đến nửa đêm họ nằm ngủ, đầu hướng về phía mà họ biết Thế Tôn đang ngụ, còn chân thì quay về phía con. Thấy vậy, con suy nghĩ: “Hai cận thần Tiên Dư và Túc Cựu này không quan tâm đến sự lợi ích trước mắt, cho nên họ không hết lòng cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự ta như hết lòng cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Thế Tôn.” Đó gọi là con có sự suy luận về giáo nghĩa của đức Thế Tôn, vì lý do đó nên con nghĩ rằng: “Pháp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khéo giảng dạy, chúng đệ tử của Thế Tôn nghe cũng khéo hướng đến đó.”

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con là quốc vương, Thế Tôn cũng là Pháp vương. Con thuộc dòng Sát-lợi, Thế Tôn cũng thuộc dòng Sát-lợi. Con là người Câutát-la, Thế Tôn cũng là người Câu-tát-la. Con đã tám mươi tuổi, Thế Tôn cũng tám mươi tuổi. Bạch Thế Tôn, từ những việc này, con phát nguyện hết lòng cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Thế Tôn cho đến trọn đời.

Bạch Thế Tôn! Nay con bận việc, xin phép được cáo từ.

Đức Thế Tôn bảo:

Đại vương, xin cứ tùy ý!

Rồi Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, sau khi nghe những lời Phật dạy, khéo ghi nhớ kỹ, từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi ra về. Lúc đó, Tôn giả A-nan đang cầm quạt đứng hầu sau lưng đức Phật. Thế Tôn quay lại bảo:

Này A-nan! Nếu có Tỳ-kheo nào đang sống ở rừng Di-lũ-ly này thì hãy bảo tất cả nhóm họp tại giảng đường.

Tôn giả A-nan vâng lời đức Phật, tập hợp tất cả Tỳ-kheo đang sống ở rừng Di-lũ-ly vào giảng đường rồi trở lại chỗ Phật và thưa:

Bạch đức Thế Tôn! Chúng Tỳ-kheo đang sống ở rừng Di-lũ-ly này, tất cả đã tập hợp tại giảng đường. Kính mong đức Thế Tôn biết đã hợp thời.

Lúc ấy, đức Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đi đến giảng đường. Ngài trải tọa cụ ngồi trước chúng Tỳ-kheo và dạy:

Này các Tỳ-kheo! Hôm nay, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la ở trước Ta vừa nghe nói Kinh pháp trang nghiêm xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ sát chân Ta, nhiễu quanh Ta ba vòng rồi ra về. Này các Tỳ-kheo! Các Thầy nên thọ trì Kinh pháp trang nghiêm này, hãy khéo tụng đọc thông suốt. Vì sao như vậy? Này Tỳ-kheo, vì Kinh pháp trang nghiêm này đúng pháp và đúng nghĩa, là căn bản của Phạm hạnh, đưa đến trí tuệ, đưa đến giác ngộ, đưa đến cứu cánh Niết-bàn. Nếu một người thiện nam đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì hãy nên khéo thọ trì, hãy khéo tụng đọc và tu tập theo Kinh pháp trang nghiêm này.

Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe đức Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú thích:

[1] Nguyên tác: Pháp trang nghiêm kinh 法莊嚴經 (T.01. 0026.213. 0795b17). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.38.10. 0724b28); M. 89, Dhammacetiya Sutta (Kinh pháp trang nghiêm); A. 10.30 - V. 65. 2 Di-lũ-ly (彌婁離, Medatalumpa) còn gọi Trân-lũ-ly (珎婁離), một thị trấn cách làng Nangaraka khoảng 3 dặm.

[2] Trường Tác (長作, Dīghakārāyana).

[3] Ấp Danh Thành (邑名城, Nagaraka), một thị trấn nhỏ thuộc dòng họ Thích gần Medatalumpa.

[4] Nguyên tác: Viên quán (園觀): Hoa viên, khu vườn cây có lầu gác để nghỉ ngơi. M. 89: Dhammacetiya Sutta (Kinh pháp trang nghiêm) ghi là Uyyānabhūmi (Ngự viên).

[5] Câu-lũ-xá (拘婁舍). Theo M. 89, đây là tên gọi khác chỉ cho do-tuần (yojana).

[6] Nguyên tác: Pháp tĩnh (法靖). Tĩnh (靖): Suy tư, bàn luận, suy luận (謀慮, 謀議). Tương đồng với nghĩa này, trong M. 12, Mahāsīhanāda Sutta (Ðại kinh sư tử hống) dùng từ dhammanvaya được Tỳ-kheo Bodhi dịch sang tiếng Anh là “suy luận từ giáo pháp” (by inference from dhamma). Vì anvaya ñāṇaṁ nghĩa là “loại trí” (類智) hoặc dịch làtỷ trí” (比智). Trong Chú giải Kinh Nālanda (Nālandasuttavaṇṇanā), ngài Buddhaghosa giải thích từ dhammanvaya là “trí hiện lượng” (paccakkhato ñāṇassa).

[7] Tham chiếu: M. 89: Svākkhato bhagavato dhammo suppaṭipanno sāvakasaṅgho (Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo thực hành).

[8] Đô tọa (都坐, atthakaraṇa): Công đường (政事堂).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.