Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa Uất-đầu-tùy-nhã, ngụ tại rừng Phổ-cức-thích.[2]
Bấy giờ, Ba-tư-nặc, vua nước Câu-tát-la, nghe tin Sa-môn Cù-đàm đang du hóa Uất-đầu-tùy-nhã, ngụ tại rừng Phổ-cức-thích, liền bảo cận thần:
Khanh hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, thay ta thăm hỏi Thánh thể có được mạnh khỏe, an lạc không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Rồi hãy thưa như vầy: “Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la kính lời thăm hỏi Thánh thể có được mạnh khỏe, an lạc không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?” Rồi khanh lại thưa thêm: “Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la rất muốn đến thăm Ngài.”
Cận thần vâng lệnh liền đi đến chỗ Phật, chào hỏi nhau xong, ngồi sang một bên và thưa:
Bạch đức Cù-đàm! Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la kính lời thăm hỏi Thánh thể có được mạnh khỏe, an lạc không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la rất muốn đến thăm Ngài.
Thế Tôn đáp:
Ta mong cho Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la được an ổn và hân hoan, cũng như chư thiên, loài người, a-tu-la, kiền-tháp-hòa,[3] la-sát và mọi loài khác đều được an ổn, hân hoan. Nếu Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la muốn đến thì hãy tùy ý.
Lúc đó, vị cận thần nghe Phật nói liền ghi nhớ kỹ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu quanh Phật ba vòng và lui về. Bấy giờ, Tôn giả A-nan đang cầm quạt đứng hầu sau lưng Thế Tôn. Sau khi vị cận thần ra về, đức Thế Tôn quay lại bảo:
Này A-nan! Thầy hãy cùng Ta đi đến ngôi nhà lớn ở phía Đông kia, mở cửa sổ ra và đóng cửa lớn lại, dọn chỗ ngồi ở nơi kín đáo. Hôm nay, Vua Ba-tưnặc nước Câu-tát-la tha thiết chí thành, muốn được lãnh thọ giáo pháp. [0793a04] Tôn giả A-nan bạch Phật:
Kính vâng!
Rồi đức Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đến ngôi nhà lớn ở phía Đông kia, mở cửa sổ ra và đóng cửa lớn lại, dọn một nơi kín đáo, trải tọa cụ ngồi kiết-già. Lúc đó, vị cận thần trở về đến chỗ Vua Ba-tư-nặc nuớc Câu-tát-la thưa:
Tâu Đại vương! Thần đã thưa với Sa-môn Cù-đàm và Ngài đang đợi Đại vương, kính mong Đại vương biết đã hợp thời.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la bảo người đánh xe:
Khanh hãy sửa soạn xa giá, hôm nay trẫm muốn đến thăm Sa-môn Cù-đàm!
Người đánh xe vâng lời, liền sửa soạn xa giá. Bấy giờ, hai chị em Hiền và Nguyệt[4] đang ngồi dùng bữa cùng với Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, nghe nói hôm nay Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đến thăm đức Phật liền thưa:
Tâu Đại vương! Nếu hôm nay Ngài đến thăm đức Thế Tôn, xin thay chúng thiếp cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn, thăm hỏi Thánh thể có được mạnh khỏe, an lạc không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Đại vương hãy thưa như vầy: “Chị em Hiền và Nguyệt kính lễ Thế Tôn, thăm hỏi Thánh thể có được mạnh khỏe, an lạc không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?”
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la im lặng nhận lời. Lúc đó, người đánh xe sửa soạn xa giá xong nên đến thưa:
Tâu Đại vương! Xa giá đã sẵn sàng, xin Ngài ngự giá.
Vua nghe vậy liền lên xe rời khỏi Uất-đầu-tùy-nhã đi đến rừng Phổ-cứcthích. Lúc đó, ngoài cửa rừng Phổ-cức-thích có rất đông Tỳ-kheo đi kinh hành nơi khu đất trống. Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đến chỗ các Tỳ-kheo và hỏi:
Chư Hiền! Sa-môn Cù-đàm hiện đang ở đâu? Trẫm muốn đến thăm Ngài.
Các Tỳ-kheo đáp:
Tâu Đại vương! Ở phía Đông kia, nơi ngôi nhà lớn có cửa sổ mở, cửa lớn đóng, đức Thế Tôn đang ngụ trong đó. Đại vương muốn thăm thì hãy đến ngôi nhà ấy, đứng bên ngoài tằng hắng và gõ cửa, đức Thế Tôn nghe tiếng, sẽ ra mở.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la liền xuống xe, dẫn quyến thuộc cùng đi bộ đến ngôi nhà lớn đó. Đến nơi, vua đứng bên ngoài tằng hắng rồi gõ cửa. Đức Thế Tôn nghe tiếng liền ra mở cửa. Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la liền đi vào trong, đến đứng trước chỗ Phật, bạch rằng:
Thưa đức Cù-đàm! Hai chị em Hiền và Nguyệt kính đảnh lễ Thế Tôn, thăm hỏi Thánh thể có được mạnh khỏe, an lạc không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?
[0793b02] Thế Tôn hỏi nhà vua:
Hai chị em Hiền và Nguyệt không còn ai để nhờ cậy hay sao?
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la thưa:
Bạch đức Cù-đàm! Mong Ngài biết cho. Hôm nay, hai chị em Hiền và Nguyệt cùng ngồi dùng bữa với con, hay tin con muốn đến thăm Phật, liền thưa rằng: “Thưa Đại vương, nếu ngài đến thăm đức Phật thì xin thay chúng thiếp cúi đầu đảnh lễ đức Thế Tôn và thăm hỏi Thánh thể có được mạnh khỏe, an lạc không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?” Nên con thưa lại với Thế Tôn y như vầy: “Hai chị em Hiền và Nguyệt kính đảnh lễ Thế Tôn, thăm hỏi Thánh thể có được mạnh khỏe, an lạc không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?” Thưa đức Cù-đàm! Hai chị em Hiền và Nguyệt kính đảnh lễ Thế Tôn, thăm hỏi Thánh thể có được mạnh khỏe, an lạc không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?
Thế Tôn đáp:
Này Đại vương! Ta mong cho hai chị em Hiền và Nguyệt được an ổn và hân hoan, cũng như chư thiên, loài người, a-tu-la, kiền-tháp-hòa, la-sát và các loài khác đều được an ổn và hân hoan.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nói lời thăm hỏi Phật xong, liền ngồi sang một bên và thưa:
Thưa đức Cù-đàm! Con có điều muốn hỏi, được Ngài cho phép thì con mới dám thưa.
Thế Tôn đáp:
Này Đại vương! Ngài muốn hỏi điều gì thì xin tùy ý.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la liền hỏi:
Bạch đức Cù-đàm! Con nghe nói Sa-môn Cù-đàm tuyên bố như vầy: “Quá khứ không có, tương lai không có và hiện tại cũng không có Sa-môn, Phạm chí nào là bậc Nhất thiết trí, thấy biết tất cả.” Thưa Cù-đàm, Ngài có nhớ là đã nói như vậy chăng?
Thế Tôn đáp:
Này Đại vương! Ta nhớ là đã không nói như vầy: “Quá khứ không có, tương lai không có và hiện tại cũng không có Sa-môn, Phạm chí nào là bậc
Nhất thiết trí, thấy biết tất cả.”
Lúc đó, Đại tướng Tỳ-lưu-la[5] đang cầm quạt đứng hầu sau lưng Vua Batư-nặc nước Câu-tát-la. Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la quay lại hỏi Đại tướng Tỳ-lưu-la rằng:
Hôm trước, ta ngồi với mọi người, ai là người đầu tiên nói: “Sa-môn Cù-đàm tuyên bố như vầy: ‘Quá khứ không có, tương lai không có và hiện tại cũng không có Sa-môn, Phạm chí nào là bậc Nhất thiết trí, thấy biết tất cả?’” Đại tướng Tỳ-lưu-la đáp:
Tâu Đại vương! Có Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử[6] là người đầu tiên nói như vậy.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe xong liền sai một người:
Khanh hãy đến chỗ Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử nói như vầy: “Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la truyền gọi ông!”
[0793c01] Người ấy vâng lệnh, liền đi đến chỗ Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử báo như vầy: “Này Niên Thiếu, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la truyền gọi ông.”
Sau khi người ấy đi, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la bạch Thế Tôn:
Thưa Sa-môn Cù-đàm! Có thể có những lời nói khác, nhưng được ghi nhớ khác. Sa-môn Cù-đàm có nhớ đã nói những gì chăng?
Thế Tôn đáp:
Này Đại vương! Ta nhớ đã từng nói như vầy: “Quá khứ không có, tương lai không có và hiện tại cũng không có Sa-môn, Phạm chí nào trong một lúc mà biết tất cả, trong một lúc mà thấy tất cả.” Này Đại vương! Ta nhớ đã nói như vậy.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe xong thì khen ngợi:
Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy! Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy tài giỏi! Con lại có điều muốn hỏi, Ngài cho phép con hỏi chăng?
Thế Tôn đáp:
Này Đại vương! Ngài muốn hỏi gì thì xin tùy ý.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la hỏi:
Bạch Cù-đàm! Ở đây có bốn chủng tộc là Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la. Bốn chủng tộc này có sự hơn kém hay có sự khác biệt gì chăng?
Đức Thế Tôn đáp:
Bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la có sự hơn kém và có sai biệt. Hạng Sát-lợi và Phạm chí được coi là cao thượng trong nhân gian. Hạng Tỳ-xá và Thủ-đà-la được xem là hạng thấp kém trong nhân gian. Cho nên, bốn chủng tánh Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá, Thủ-đà-la này có hơn kém, có sự sai biệt.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe xong thì khen rằng:
Hay thay! Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy! Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy tài giỏi!
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la lại thưa:
Bạch đức Cù-đàm! Con không chỉ hỏi về sự việc đời này mà con còn muốn hỏi sự việc về đời sau nữa, Ngài cho phép con hỏi chăng?
Thế Tôn đáp:
Này Đại vương! Ngài muốn hỏi gì thì xin tùy ý.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la hỏi:
Bạch Cù-đàm! Bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la này có sự hơn kém và có sai biệt gì ở đời sau chăng?
Thế Tôn đáp:
Bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la này có sự hơn kém và có sự sai biệt ở đời sau. Bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đàla nếu thành tựu được năm yếu tố tinh cần[7] này thì sẽ được gặp bậc thầy tốt là đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Chánh Giác, chắc chắn được vừa ý, không có điều gì không vừa ý, cũng luôn được ý nghĩa và lợi ích, được an ổn và hân hoan. Là năm yếu tố nào?
Thánh đệ tử đa văn tin tưởng Như Lai, gốc rễ niềm tin đã vững chắc, không ai có thể tước đoạt, dù là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên và các loài khác trong thế gian. Đó gọi là yếu tố tinh cần thứ nhất.
Lại nữa, này Đại vương! Thánh đệ tử đa văn ít bệnh, không bệnh, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh, không nóng, dễ chịu, không bức bối. Nghĩa là sự ăn uống được tiêu hóa dễ dàng an ổn. Đó gọi là yếu tố tinh cần thứ hai.
Lại nữa, này Đại vương! Thánh đệ tử đa văn không dua nịnh, không dối gạt, sống thật thà, tự thể hiện sự chân thật đối với Thế Tôn và các bậc Phạm hạnh. Đó gọi là yếu tố yếu tố tinh cần thứ ba.
Lại nữa, này Đại vương! Thánh đệ tử đa văn thường hành tinh tấn, đoạn trừ những pháp ác bất thiện, tu tập các pháp thiện, thường tự giữ tâm chuyên nhất, vững chãi, vì gốc rễ của thiện pháp mà không từ bỏ một phương tiện nào. Đó gọi là yếu tố tinh cần thứ tư.
Lại nữa, này Đại vương! Thánh đệ tử đa văn khéo tu hạnh trí tuệ, quán sát sự thịnh suy của các pháp mà chứng đắc trí như thật, thành tựu tuệ minh đạt của bậc Thánh, phân biệt rõ ràng, để vượt thoát khổ đau. Đó gọi là yếu tố tinh cần thứ năm.
Nếu bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la thành tựu được năm yếu tố tinh cần này thì ắt sẽ được gặp thầy giỏi là đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Chánh Giác, sẽ được vừa ý, không có điều gì không vừa ý, cũng luôn được ý nghĩa và lợi ích, được an ổn và hân hoan. Do đó, bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la này được cho là có hơn kém, có sự sai biệt ở đời sau.
[0794a16] Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe xong thì khen ngợi:
Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy! Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy tài giỏi! Con lại có điều muốn hỏi, Ngài cho phép con hỏi chăng?
Đức Thế Tôn đáp:
Này Đại vương! Ngài muốn hỏi thì xin tùy ý.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la hỏi:
Bạch Cù-đàm, bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la này, đối với sự thành tựu hạnh tinh cần[8] thì có sự hơn kém và sai biệt gì chăng?
Đức Thế Tôn đáp:
Bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la này, ở đây, có sự sai biệt đối với sự thành tựu hạnh tinh cần. Này Đại vương, ý Đại vương nghĩ sao? Sẽ không có trường hợp sự tinh cần của người có niềm tin mà cũng là sự tinh cần của kẻ không có niềm tin. Sẽ không có trường hợp sự tinh cần của người ít bệnh mà cũng là sự tinh cần của kẻ nhiều bệnh. Sẽ không có trường hợp sự tinh cần của người không dua nịnh dối lừa mà cũng là sự tinh cần của kẻ điêu ngoa, xảo trá. Sẽ không có trường hợp sự tinh cần của người tinh tấn mà cũng là sự tinh cần của kẻ biếng lười. Sẽ không có trường hợp sự tinh cần của người có trí tuệ cao thượng mà cũng là sự tinh cần của kẻ có trí thấp kém.
Ví như bốn trường hợp chế ngự, là chế ngự voi, chế ngự ngựa, chế ngự bò và chế ngự người. Trong đó có hai trường hợp cần chế ngự mà không thể chế ngự, không thể điều phục và hai trường hợp cần chế ngự mà có thể chế ngự được, điều phục được. Đại vương, ý Vua nghĩ sao? Ở đây, hai trường hợp cần chế ngự nhưng không thể chế ngự, không thể điều phục được mà chúng có thể đi đến chỗ được điều phục, được chế ngự, nhận chịu sự chế ngự thì chắc chắn điều này không thể xảy ra. Hai trường hợp cần chế ngự mà có thể chế ngự được, có thể điều phục được nên chúng sẽ đi đến chỗ được điều phục, được chế ngự, nhận chịu sự chế ngự thì điều này chắc chắn xảy ra.
Cũng vậy, này Đại vương! Ý Vua nghĩ sao? Sự tinh cần của người có niềm tin cũng là sự tinh cần của kẻ không có niềm tin chăng? Điều này không thể có. Sự tinh cần của người ít bệnh cũng là sự tinh cần của kẻ nhiều bệnh chăng? Điều này không thể có. Sự tinh cần của người không dua nịnh dối lừa cũng là sự tinh cần của kẻ điêu ngoa xảo trá chăng? Điều này không thể có. Sự tinh cần của người tinh tấn cũng là sự tinh cần của kẻ biếng lười chăng? Điều này không thể có. Sự tinh cần của người có trí tuệ cao thượng cũng là sự tinh cần của kẻ có trí thấp kém chăng? Điều này không thể có. Vì thế, bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la được cho là có hơn kém, có sai biệt về sự thành tựu hạnh tinh cần.
[0794b11] Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe xong, khen rằng:
Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy! Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy tài giỏi! Con lại có điều muốn hỏi, Ngài cho phép con hỏi chăng?
Đức Thế Tôn đáp:
Này Đại Vương! Ngài muốn hỏi thì xin tùy ý.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tất-la hỏi:
Bạch Sa-môn Cù-đàm! Bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la này có sự hơn kém, có sai biệt gì đối với sự tinh cần chăng?
Đức Thế Tôn đáp:
Bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá hay Thủ-đà-la này đối với sự tinh cần đều bình đẳng, không có hơn kém, không có sai biệt. Này Đại vương, cũng như một đứa bé dòng Sát-lợi từ phương Đông đến, lấy nhánh cây sa-la khô làm mồi lửa và cọ xát khiến phát ra lửa. Một đứa bé dòng Phạm chí từ phương Nam đến, lấy nhánh cây sa-la khô làm mồi lửa và cọ xát khiến phát ra lửa. Một đứa bé dòng Tỳ-xá từ phương Tây đến, lấy nhánh cây chiên-đàn làm mồi lửa và cọ xát khiến phát ra lửa. Một đứa bé dòng Thủ-đà-la từ phương Bắc đến, lấy cây bát-đầu-ma khô làm mồi lửa và cọ xát khiến phát ra lửa. Này Đại vương, ý Vua nghĩ sao? Những đứa trẻ kia đến từ nhiều chủng tộc khác nhau, lấy các loại cây khác nhau làm mồi lửa, chúng cọ xát cho phát ra lửa, rồi có người đem những mồi lửa ấy châm vào cỏ, cây khô làm cho bốc cháy, khói tỏa ra, ngọn lửa bốc lên, phát ra sắc lửa. Này Đại vương! Giữa khói với khói, giữa ngọn lửa với ngọn lửa, giữa sắc lửa với sắc lửa, có khác biệt gì chăng?
Vua Ba-tư-nặc, nước Câu-tát-la đáp:
Bạch Cù-đàm! Những đứa trẻ kia thuộc nhiều chủng tộc khác nhau, lấy các loại cây khác nhau làm mồi lửa, chúng cọ xát cho phát ra lửa, rồi có người đem những mồi lửa ấy châm vào cỏ, cây khô làm cho bốc cháy, khói tỏa ra, ngọn lửa bốc lên, phát ra sắc lửa. Thưa Cù-đàm! Con không cho rằng giữa khói và khói, giữa ngọn lửa và ngọn lửa, giữa sắc lửa và sắc lửa có sự sai biệt.
[0794c02] – Cũng vậy, này Đại vương! Bốn chủng tộc Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá và Thủ-đà-la này, họ hoàn toàn bình đẳng đối với sự tinh cần, không có hơn kém, không có sự sai biệt.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe xong, khen rằng:
Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy! Những lời Sa-môn Cù-đàm nói đúng là bậc thầy tài giỏi! Con lại có điều muốn hỏi, Ngài cho phép con hỏi chăng?
Thế Tôn đáp:
Này Đại vương! Ngài muốn hỏi gì thì xin tùy ý.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la hỏi:
Thưa Cù-đàm! Có chư thiên không?
Đức Thế Tôn hỏi:
Này Đại vương! Ngài hỏi “có chư thiên không” với ý gì?
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đáp:
Thưa Cù-đàm! Phải chăng chư thiên nào có đấu tranh, ưa đấu tranh thì chư thiên ấy còn sanh lại thế gian này? Phải chăng chư thiên nào không có đấu tranh, không thích đấu tranh thì chư thiên ấy sẽ không sanh lại thế gian này nữa?
Bấy giờ, Đại tướng Tỳ-lưu-la đang cầm quạt đứng hầu sau lưng Vua Ba-tưnặc nước Câu-tát-la thưa rằng:
Bạch Cù-đàm! Chư thiên nào không có đấu tranh, không ưa đấu tranh sẽ không đến thế gian này nữa thì hãy gác lại việc chư thiên đó. Nếu chư thiên nào có đấu tranh, ưa đấu tranh mà đến thế gian này thì Sa-môn Cù-đàm phải nói rằng chư thiên đó có phước hơn, có Phạm hạnh hơn, vì chư thiên này được tự tại nên đẩy lùi chư thiên kia, đuổi chư thiên kia đi.
Lúc đó, Tôn giả A-nan đang cầm quạt đứng quạt sau Thế Tôn. Tôn giả A-nan thầm nghĩ: “Đại tướng Tỳ-lưu-la này là con của Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, còn ta là con của đức Thế Tôn. Nay chính là lúc con cùng thảo luận với con.” Nghĩ thế rồi, Tôn giả A-nan nói với Đại tướng Tỳ-lưu-la rằng:
Tôi muốn hỏi Đại tướng, xin cứ theo sự hiểu biết của mình mà trả lời. Đại tướng nghĩ thế nào? Trong phần ranh giới thuộc lãnh thổ của Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la cai quản, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la có được quyền tự do đuổi những vị có phước hơn, có Phạm hạnh hơn chăng?
Đại tướng Tỳ-lưu-la đáp:
Này Sa-môn! Trong phần ranh giới thuộc lãnh thổ của Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la cai quản thì Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la có quyền đuổi các vị có phước hơn, có Phạm hạnh hơn.
Đại tướng nghĩ sao? Nếu vùng đất không thuộc lãnh thổ của Vua Ba-tưnặc nước Câu-tát-la cai quản thì Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la có được tự ý đuổi các vị có phước hơn, có Phạm hạnh hơn chăng?
Đại tướng Tỳ-lưu-la đáp:
Này Sa-môn! Nếu ở vùng đất không thuộc lãnh thổ của Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la cai quản thì Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la không được quyền tự do đuổi các vị có phước hơn, có Phạm hạnh hơn ra khỏi nơi đó.
[0795a03] Tôn giả A-nan lại hỏi:
Này Đại tướng! Ông có nghe nói đến chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba chăng?
Đại tướng Tỳ-lưu-la đáp:
Khi tôi cùng với Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đi dạo, có nghe nói đến chư thiên trên cõi trời Ba Mươi Ba.
Đại tướng nghĩ sao? Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la có được quyền tự do đuổi chư thiên có phước hơn, có Phạm hạnh hơn ở cõi trời Ba Mươi Ba ấy ra khỏi cõi kia chăng?
Đại tướng Tỳ-lưu-la đáp:
Này Sa-môn! Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la còn không thể thấy được chư thiên cõi trời Ba Mươi Ba, huống gì đuổi họ ra khỏi đó? Đuổi chư thiên trên cõi trời Ba Mươi Ba ấy đi thì việc này không bao giờ có.
Cũng vậy, này Đại tướng! Nếu chư thiên nào không đấu tranh, không ưa đấu tranh thì sẽ không sanh lại thế gian này, vì chư thiên ấy có phước hơn và có Phạm hạnh hơn. Nếu chư thiên nào có đấu tranh, ưa đấu tranh mà sanh lại thế gian này thì chư thiên này còn không thể thấy được chư thiên kia, huống lại đánh đuổi họ ư? Việc đánh đuổi chư thiên đó không bao giờ xảy ra.
Lúc đó, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la hỏi:
Thưa đức Cù-đàm! Sa-môn này tên gì?
Đức Thế Tôn đáp:
Đại vương! Tỳ-kheo này tên A-nan, là thị giả của Ta.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Những điều A-nan nói đúng như bậc thầy, những điều A-nan nói đúng như bậc thầy tài giỏi. Con lại có điều muốn hỏi, Ngài cho phép con hỏi chăng?
Đức Thế Tôn bảo:
Đại vương! Muốn hỏi điều gì thì xin cứ hỏi.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la hỏi:
Bạch Cù-đàm, có Phạm thiên không?
Đức Thế Tôn hỏi:
Này Đại vương! Đại vương hỏi “có Phạm thiên không” với ý gì? Đại vương, nếu Ta chủ trương có Phạm thiên thì đó là Phạm thanh tịnh.
Trong lúc đức Thế Tôn đang đàm luận cùng Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la thì vị cận thần kia dẫn Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử trở lại, đến chỗ Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la và thưa:
Tâu Đại vương! Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử đã đến!
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe rồi liền hỏi Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử:
Hôm trước, ta cùng mọi người đang ngồi thảo luận thì ai là người đầu tiên nói như vầy “Sa-môn Cù-đàm tuyên bố: ‘Quá khứ không có, tương lai không có và hiện tại cũng không có Sa-môn hay Phạm chí nào là bậc Nhất thiết trí, thấy biết tất cả?’”
Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử đáp:
Tâu Đại vương! Chính Đại tướng Tỳ-lưu-la là người nói trước nhất.
Đại tướng Tỳ-lưu-la nghe xong, thưa:
Tâu Đại vương! Chính Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử này là người nói trước nhất.
[0795b02] Thế rồi, hai người đó cứ tranh cãi lẫn nhau về vấn đề này. Ngay lúc đó, người đánh xe đã sửa soạn xa giá, đến chỗ Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tátla và thưa:
Tâu Đại vương! Xa giá đã sẵn sàng, xin ngài biết cho.
Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe xong, bạch đức Phật rằng:
Con đã hỏi Cù-đàm về nhất thiết trí, Sa-môn Cù-đàm giảng cho con về nhất thiết trí. Con đã hỏi Cù-đàm về bốn chủng tánh thanh tịnh, Sa-môn Cùđàm giảng cho con về bốn chủng tánh thanh tịnh. Con đã hỏi Sa-môn Cù-đàm về sở đắc, Sa-môn Cù-đàm đã giảng cho con về sở đắc. Con đã hỏi Sa-môn Cù-đàm có Phạm thiên hay không, Sa-môn Cù-đàm đã giảng cho con có Phạm thiên. Nếu con còn hỏi Sa-môn Cù-đàm về vấn đề khác thì Sa-môn Cù-đàm chắc chắn cũng sẽ giảng cho con về vấn đề ấy. Bạch đức Cù-đàm! Nay con bận việc nên xin được cáo từ.
Đức Thế Tôn đáp:
Đại vương! Xin hãy tùy nghi.
Sau khi Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la nghe Thế Tôn dạy, khéo ghi nhớ kỹ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Thế Tôn ba vòng rồi ra về.
Đức Phật dạy như vậy, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la cùng Tôn giả A-nan và tất cả đại chúng nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
[1] Nguyên tác: Nhất thiết trí kinh 一切智經 (T.01. 0026.212. 0792c13). Tham chiếu: M. 90, Kaṇṇakatthala Sutta (Kinh Kaṇṇakatthala).
[2] Uất-đầu-tùy-nhã (欝頭隨若, Ujuññā), một thị tứ thuộc nước Kosala. Phổ-cức-thích lâm (普棘刺林, Kaṇṇakatthala), tên vườn Nai trong thị tứ này.
[3] Nguyên tác: Kiền-tháp-hòa (揵塔和, gandhabba): Nhạc thần. Có nhiều cách phiên âm: Càn-thát-bà (乾闥婆), kiện-đạt-phược (健達縛), kiền-thát-bà (犍闥婆), ngạn-đạt-bà (彥達婆), càn-đạp-bà (乾沓婆), càn-đạp-hòa (乾沓和), hiến-đạp-phược (巘沓縛).
[4] Hiền, Nguyệt (賢, Sakulā; 月, Somā), cả 2 chị em này là phu nhân của Vua Ba-tư-nặc (波斯匿, Pasenadi).
[5] Tỳ-lưu-la (鞞留羅, Viḍūḍabha) còn gọi là Tỳ-lưu-ly (毘琉璃), là con trai của Vua Pasenadi, mẹ vốn là một nữ tỳ của dòng họ Thích.
[6] Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử (想年少吉祥子, Sañjaya Ākāsagotta).
[7] Nguyên tác: Ngũ đoạn chi (五斷支). A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論 (T.26. 1536.13. 0422b15) gọi là “ngũ thắng chi” (五勝支). Tham chiếu: M. 90: Pañca padhāniyaṅgāni (5 yếu tố tinh cần).
[8] Đoạn hành (斷行, padhāna): Sự nỗ lực, chuyên cần.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.