Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật du hóa thành Vương Xá, ngụ tại Trúc Lâm, vườn Calan-đa.
Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả Xá-lợi-phất2 rời nơi tĩnh tọa đi đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hy-la,3 chào hỏi nhau xong, Tôn giả ngồi sang một bên và hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Tôi có điều muốn hỏi, Hiền giả nghe cho chăng? Tôn giả Đại Câu-hy-la thưa:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Ngài muốn hỏi gì xin cứ hỏi. Tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.
Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Bất thiện được gọi là bất thiện; gốc rễ bất thiện được gọi là gốc rễ bất thiện. Vậy thế nào là bất thiện? Thế nào là gốc rễ bất thiện?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thân làm việc ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, đó là bất thiện. Tham, sân, si chính là gốc rễ bất thiện. Đó gọi là bất thiện và gốc rễ bất thiện.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Thiện thì gọi là thiện; gốc rễ thiện thì gọi là gốc rễ thiện. Vậy thế nào là thiện? Thế nào là gốc rễ thiện? Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thân làm việc lành, miệng nói lời lành, ý nghĩ điều lành, đó là thiện. Không tham, không sân, không si, đó là gốc rễ thiện. Đó gọi là thiện và gốc rễ thiện.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Này Hiền giả Câu-hy-la! Trí tuệ được gọi là trí tuệ, vậy thế nào là trí tuệ? Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Biết đúng như thật nên gọi là trí tuệ. Biết những gì? Biết đúng như thật: “Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt.” Biết đúng như thật như vậy cho nên được gọi là trí tuệ.
[0790c03] Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Thức được gọi là thức, vậy thế nào là thức?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thức là nhận biết cho nên gọi là thức. Nhận biết những gì? Nhận biết sắc, nhận biết thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thức là nhận biết cho nên được gọi là thức.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Thức và trí tuệ, hai pháp này là chung hay riêng biệt? Hai pháp này có thể được phát khởi riêng biệt chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Hai pháp ấy là chung chứ không riêng biệt. Hai pháp này không thể phát khởi riêng biệt. Vì sao như vậy? Vì những gì được biết bởi trí tuệ thì cũng được nhận biết bởi thức. Cho nên, hai pháp này là chung chứ không phải riêng biệt. Hai pháp này không thể phát khởi riêng biệt.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Với cái biết, Hiền giả dựa vào cái gì để biết?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Với cái biết, tôi dùng trí tuệ để biết.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la, trí tuệ có nghĩa gì? Có sự thù thắng gì? Có công đức gì?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Trí tuệ có nghĩa nhàm chán, có nghĩa vô dục, có nghĩa thấy đúng như thật.4 Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Vì sao gọi là chánh kiến?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Biết như thật về khổ, biết như thật về nguyên nhân của khổ, biết như thật về khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt. Đó gọi là chánh kiến.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Có bao nhiêu nhân, có bao nhiêu duyên sanh ra chánh kiến?
[0791a01] Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Có hai nhân, hai duyên sanh ra chánh kiến. Là hai nhân duyên nào? Một là, nghe từ người khác. Hai là, nội tâm tư duy. Đó gọi là có hai nhân, hai duyên sanh ra chánh kiến.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Có bao nhiêu yếu tố thâu nhiếp chánh kiến để đạt được quả Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát, đạt được công đức Tâm giải thoát và công đức Tuệ giải thoát?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Có năm yếu tố thâu nhiếp chánh kiến để đạt được quả Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát, đạt được công đức Tâm giải thoát và công đức Tuệ giải thoát. Là năm yếu tố nào? Một là được thâu nhiếp bởi sự thật. Hai là được thâu nhiếp bởi giới. Ba là được thâu nhiếp bởi nghe nhiều. Bốn là được thâu nhiếp bởi tĩnh chỉ. Năm là được thâu nhiếp bởi quán. Đó gọi là có năm yếu tố thâu nhiếp chánh kiến để đạt được quả Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát, đạt được công đức Tâm giải thoát và công đức Tuệ giải thoát.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Vì sao phát sanh sự hiện hữu trong tương lai?5
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Hạng phàm phu mê muội, kém trí tuệ, thiếu hiểu biết, bị vô minh che lấp, bị ái kết trói chặt, không gặp thiện tri thức, không hiểu biết Thánh pháp, không thâu nhiếp theo Thánh pháp, đó gọi là làm phát sanh sự hiện hữu trong tương lai.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Thế nào là không phát sanh sự hiện hữu trong tương lai?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Nếu vô minh đã diệt, minh đã sanh thì chắc chắn diệt sạch khổ. Đó gọi là không phát sanh sự hiện hữu trong tương lai.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la, có bao nhiêu thọ?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Có ba thọ, gồm cảm thọ khổ, cảm thọ lạc và cảm thọ không khổ không lạc. Thọ này duyên đâu mà có? Duyên xúc mà có.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Ba pháp thọ, tưởng, tư được phát khởi chung hay riêng biệt? Ba pháp này có thể phát khởi riêng biệt được chăng?
[0791b02] Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Ba pháp thọ, tưởng, tư này được phát khởi chung chứ không phải riêng biệt. Ba pháp này không thể phát khởi riêng biệt được. Vì sao như vậy? Những gì được cảm thọ bởi thọ, cũng được tưởng bởi tưởng và cũng được tư bởi tư. Cho nên nói ba pháp này phát khởi chung chứ không phải riêng biệt. Ba pháp này không thể phát khởi riêng biệt được.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Niết-bàn6 có sự đối ngại gì?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Niết-bàn không có sự đối ngại.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Có năm căn với hành tướng riêng biệt và cảnh giới riêng biệt. Mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng, gồm nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn. Năm căn này với hành tướng riêng biệt và cảnh giới riêng biệt. Mỗi căn tự lãnh thọ cảnh giới riêng, vậy cái gì lãnh thọ tất cả cảnh giới cho chúng? Cái gì làm chỗ gá nương cho chúng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Năm căn với hành tướng riêng biệt và cảnh giới riêng biệt. Mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng, gồm nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn. Năm căn này với hành tướng riêng biệt và mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng thì ý căn lãnh thọ tất cả cảnh giới cho chúng. Ý căn làm chỗ gá nương cho chúng.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Ý nương vào đâu mà tồn tại?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Ý nương vào tuổi thọ mà tồn tại.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Tuổi thọ nương vào đâu mà tồn tại? Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Tuổi thọ nương vào hơi ấm mà tồn tại.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Hai pháp tuổi thọ và hơi ấm này được kết hợp chung hay riêng biệt? Hai pháp này có thể kiến lập riêng biệt được chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Hai pháp tuổi thọ và hơi ấm này được kết hợp chung, không phải riêng biệt. Hai pháp này không thể kiến lập riêng biệt được. Vì sao như vậy? Vì nhân tuổi thọ mà có hơi ấm, nhân hơi ấm mà có tuổi thọ. Nếu không có tuổi thọ thì không có hơi ấm, nếu không có hơi ấm thì không có tuổi thọ. Cũng như do dầu, do tim đèn mà đèn được thắp sáng. Và ở đây, do ngọn lửa mà có ánh sáng, do ánh sáng mà có ngọn lửa. Nếu không có ngọn lửa thì không có ánh sáng, không có ánh sáng thì không có ngọn lửa. Cũng vậy, nhân tuổi thọ mà có hơi ấm, nhân hơi ấm mà có tuổi thọ. Nếu không có tuổi thọ thì không có hơi ấm, nếu không có hơi ấm thì không có tuổi thọ. Cho nên, hai pháp này là sự kết hợp, không phải riêng biệt. Hai pháp này không thể kiến lập riêng biệt.
[0791c07] Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Có bao nhiêu pháp khiến thân đang hiện hữu này qua đời rồi thì thân xác bị bỏ ngoài gò mả như cây gỗ vô tình?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Có ba pháp khiến thân đang hiện hữu này sau khi qua đời rồi thì thân xác bị bỏ ngoài gò mả như cây gỗ vô tình. Là ba pháp nào? Một là tuổi thọ. Hai là hơi ấm. Ba là thức. Ba pháp này khiến thân đang hiện hữu này sau khi qua đời rồi thì xác bị bỏ ngoài gò mả như cây gỗ vô tình.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Sự chết và nhập Diệt tận định khác nhau như thế nào?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Chết là thọ mạng đã dứt, hơi ấm rời thân, các căn tan rã. Còn Tỳ-kheo nhập Diệt tận định thì tuổi thọ chưa hết, hơi ấm cũng chưa mất đi, các căn không tan rã. Đó là sự khác biệt giữa người chết và người nhập Diệt tận định. Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Nhập Diệt tận định và nhập Vô tưởng định thì khác nhau như thế nào?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Tỳ-kheo nhập Diệt tận định thì tưởng và thọ đều diệt. Tỳ-kheo nhập Vô tưởng định thì tưởng và thọ không diệt. Đó là sự khác biệt giữa người nhập Diệt tận định và người nhập Vô tưởng định.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Một người xuất từ Diệt tận định và xuất từ Vô tưởng định thì khác nhau như thế nào?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Tỳ-kheo xuất từ Diệt tận định, không khởi suy nghĩ “ta xuất từ Diệt tận định.” Còn Tỳ-kheo xuất từ Vô tưởng định thì khởi ý nghĩ “ta là hữu tưởng, hay ta là vô tưởng?” Đó là sự khác nhau giữa người xuất từ Diệt tận định và người xuất từ Vô tưởng định.
[0792a04] Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Tỳ-kheo nhập Diệt tận định trước hết phải diệt pháp nào? Hành vi của thân, của miệng hay của ý?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Tỳ-kheo khi nhập Diệt tận định trước hết diệt hành vi của thân, kế đến hành vi của miệng và sau cùng là hành vi của ý.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la! Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Khi Tỳ-kheo xuất Diệt tận định, pháp nào phát sanh trước tiên? Hành vi của thân, của miệng hay của ý?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Khi Tỳ-kheo xuất Diệt tận định, trước tiên phát sanh hành vi của ý, kế đến là hành vi của miệng và sau cùng là hành vi của thân.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Khi Tỳ-kheo xuất Diệt tận định, tiếp xúc bao nhiêu loại xúc?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Khi Tỳ-kheo xuất Diệt tận định thì tiếp xúc với ba loại xúc. Là ba loại nào? Một là, xúc Bất động. Hai là, xúc Vô sở hữu. Ba là, xúc Vô tướng. Khi Tỳ-kheo ra khỏi Diệt tận định thì tiếp xúc với ba loại xúc này.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Không, Vô nguyện và Vô tướng, ba pháp này khác nghĩa, khác văn hay cùng một nghĩa mà khác văn?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Không, Vô nguyện và Vô tướng, ba pháp này khác nghĩa và khác văn.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát sanh định Bất động?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Có bốn nhân, bốn duyên phát sanh định Bất động. Là bốn nhân duyên nào? Nếu Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu an trú. Đó gọi là có bốn nhân, bốn duyên phát sanh định Bất động.
[0792b03] Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát sanh định Vô sở hữu?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Có ba nhân, ba duyên phát sanh định Vô sở hữu. Là ba nhân duyên nào? Nếu Tỳ-kheo vượt tất cả sắc tưởng, cho đến chứng đắc Vô sở hữu xứ, thành tựu an trú. Đó gọi là có ba nhân, ba duyên phát sanh định Vô sở hữu.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát sanh định Vô tưởng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Có hai nhân, hai duyên phát sanh định Vô tưởng. Là hai nhân duyên nào? Một là không suy niệm tất cả tưởng. Hai là suy niệm cõi Vô Tưởng. Đó gọi là có hai nhân hai duyên phát sanh định Vô tưởng.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên để trụ trong định Vô tưởng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Có hai nhân, hai duyên để trụ trong định Vô tưởng. Là hai nhân duyên nào? Một là không suy niệm tất cả tưởng. Hai là suy niệm cõi Vô Tưởng. Đó gọi là có hai nhân, hai duyên để trụ trong định Vô tưởng.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong, khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay, Hiền giả Câu-hy-la!
Tôn giả Xá-lợi-phất khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
– Hiền giả Câu-hy-la! Có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên để xuất định Vô tưởng? Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Có ba nhân, ba duyên để xuất định Vô tưởng. Là ba nhân duyên nào? Một là suy niệm tất cả tưởng. Hai là không suy niệm cõi Vô Tưởng. Ba là do thân này và do sáu xứ duyên mạng căn. Đó gọi là có ba nhân, ba duyên để xuất định Vô tưởng.
Với những điều được thảo luận và cùng hoan hỷ phụng hành như thế, hai vị Tôn giả tán thán lẫn nhau rằng: “Lành thay! Lành thay!”, rồi rời khỏi chỗ ngồi đứng dậy ra đi.7
Chú Thích
1 Nguyên tác: Đại Câu-hy-la kinh 大拘絺羅經 (T.01. 0026.211. 0790b08). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.251. 0060b22); M. 43, Mahāvedalla Sutta (Đại kinh phương quảng); A. 4.175 - II. 163.
2 Nguyên tác: Xá-lê tử (舍黎子, Sāriputta).
3 Đại Câu-hy-la (大拘絺羅, Mahākoṭṭthika).
4 Nguyên tác: Kiến như chân nghĩa (見如真義). Tham chiếu: M. 43: Paññā kho āvuso abhiññatthā pariññatthā pahānatthā ti (trí tuệ có nghĩa thắng tri, có nghĩa biến tri, có nghĩa đoạn trừ)
5 Nguyên tác: Đương lai hữu (當來有). Tham chiếu: M. 43: Āyatiṃ punabbhavābhinibbatti (đưa đến sự tái sanh trong tương lai).
6 Nguyên tác: Diệt (滅). Xem chú thích 9, kinh số 210, tr. 1437.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.