Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư[2] đi đến chỗ Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc[3] cúi lạy sát chân Tỳ-kheo-ni rồi ngồi sang một bên và thưa:
Bạch Thánh Ni! Con có điều muốn hỏi, Thánh Ni cho phép con mới dám hỏi?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Này Tỳ-xá-khư! Bà muốn hỏi gì xin cứ hỏi, tôi nghe rồi sẽ suy nghĩ.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư liền hỏi:
Thưa Thánh Ni, tự thân[4] được gọi là tự thân. Vậy thế nào gọi là tự thân?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Thế Tôn dạy tự thân gồm năm thủ uẩn,[5] là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Đó là năm thủ uẩn được Thế Tôn dạy.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi: – Bạch Thánh Ni, sao gọi là thân kiến?[6]Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Kẻ phàm phu mê muội, thiếu hiểu biết, không gặp thiện tri thức, không biết Thánh pháp, không đặt mình theo Thánh pháp,[7] kẻ ấy thấy sắc là ngã, thấy ngã có sắc, thấy trong ngã có sắc, thấy trong sắc có ngã; thấy thọ, tưởng, hành, thức là ngã, thấy ngã có thức, thấy trong ngã có thức, thấy trong thức có ngã. Đó gọi là thân kiến.
[0788b02] Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Sao gọi là không thân kiến?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Vị Thánh đệ tử đa văn, gặp thiện tri thức, biết Thánh pháp, khéo đặt mình trong Thánh pháp, vị ấy không thấy sắc là ngã, không thấy ngã có sắc, không thấy trong ngã có sắc, không thấy trong sắc có ngã; không thấy thọ, tưởng, hành, thức là ngã, không thấy trong ngã có thức, không thấy trong thức có ngã. Đó gọi là không có thân kiến.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Sao gọi là tự thân diệt?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Sắc thủ uẩn bị đoạn trừ hoàn toàn, đã xả ly, nhổ bỏ, đoạn tận, vô dục, tịch diệt, vắng lặng, ngưng nghỉ. Thọ, tưởng, hành, thức cũng bị đoạn trừ hoàn toàn, đã xả ly, nhổ bỏ, đoạn tận, vô dục, tịch diệt, vắng lặng, ngưng nghỉ. Đó là tự thân diệt.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Uẩn được gọi là thủ uẩn; khi uẩn được gọi là thủ uẩn thì phải chăng uẩn tức là thủ uẩn và thủ uẩn tức là uẩn? Uẩn và thủ uẩn có khác nhau chăng?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Có trường hợp uẩn này tức là thủ uẩn và có trường hợp uẩn này chẳng phải là thủ uẩn. Khi nào gọi uẩn tức là thủ uẩn? Khi sắc bị nhiễm ô, bị chấp thủ;[8] thọ, tưởng, hành, thức bị nhiễm ô, bị chấp thủ thì gọi uẩn tức là thủ uẩn. Khi nào uẩn này chẳng phải là thủ uẩn? Khi sắc không bị nhiễm ô, không bị chấp thủ; thọ, tưởng, hành, thức không bị nhiễm ô, không bị chấp thủ thì uẩn chẳng phải là thủ uẩn.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Thánh Ni! Thế nào gọi là Thánh đạo tám chi?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Thánh đạo tám chi là từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó gọi là Thánh đạo tám chi.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Thánh đạo tám chi là hữu vi chăng?
[0788c01] Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Đúng vậy, Thánh đạo tám chi là hữu vi.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Có bao nhiêu tụ?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Có ba tụ là Giới tụ, Định tụ và Tuệ tụ.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Thánh đạo tám chi thâu nhiếp ba tụ, hay là ba tụ thâu nhiếp Thánh đạo tám chi?
Tỳ-kheo-ni Pháp lạc đáp:
Không phải Thánh đạo Tám chi thâu nhiếp ba tụ mà ba tụ thâu nhiếp Thánh đạo tám chi. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, ba chi Thánh đạo này được thâu nhiếp vào Thánh giới tụ. Chánh niệm, chánh định, hai chi Thánh đạo này được thâu nhiếp vào Thánh định tụ. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, ba chi Thánh đạo này được thâu nhiếp vào Thánh tuệ tụ. Đó gọi là không phải Thánh đạo tám chi thâu nhiếp ba tụ mà ba tụ thâu nhiếp Thánh đạo tám chi.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư, nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Niết-bàn[9] là pháp có đối ngại chăng?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Niết-bàn là pháp không có đối ngại.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Thiền thứ nhất có bao nhiêu chi?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Thiền thứ nhất có năm chi là giác, quán, hỷ, lạc và nhất tâm.[10] Đó là năm chi của Thiền thứ nhất.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Thế nào gọi là định? Thế nào gọi là tướng định? Thế nào gọi là sức định? Thế nào gọi là diệu dụng của định? Thế nào gọi là tu tập định?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Nếu khéo đưa tâm về một chỗ[11] thì được gọi là định. Bốn niệm xứ được gọi là tướng định. Bốn chánh cần[12] được gọi là sức định. Bốn như ý túc được gọi là diệu dụng của định. Nếu tu tập các thiện pháp này và thường xuyên thực hành tinh cần thì đó gọi là tu tập định.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành.
[0789a01] Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Có bao nhiêu pháp khiến thân đang hiện hữu này sau khi qua đời rồi thì thân xác bị bỏ ngoài gò mả như cây gỗ vô tình?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Có ba pháp khiến thân đang hiện hữu này sau khi qua đời rồi thì thân xác bị bỏ ngoài gò mả như cây gỗ vô tình. Là ba pháp nào? Một là tuổi thọ, hai là hơi ấm, ba là thức. Đó là ba pháp khiến thân đang hiện hữu này sau khi qua đời rồi thì thân xác bị bỏ ngoài gò mả như cây gỗ vô tình.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Thánh Ni! Người chết và người nhập Diệt tận định khác nhau như
thế nào?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Chết là thọ mạng đã dứt, hơi ấm rời thân, các căn tan rã. Còn Tỳ-kheo nhập Diệt tận định thì tuổi thọ chưa dứt, hơi ấm cũng chưa lìa thân, các căn không tan rã. Đó là sự khác biệt giữa người chết và người nhập Diệt tận định.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Người nhập Diệt tận định và người nhập Vô tưởng định khác nhau như thế nào?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Tỳ-kheo nhập Diệt tận định thì tưởng và thọ đều diệt, còn người nhập Vô tưởng định thì tưởng và thọ không diệt. Đó là sự khác biệt giữa người nhập Diệt tận định và người nhập Vô tưởng định.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Một người xuất từ Diệt tận định và một người xuất từ Vô tưởng định khác nhau như thế nào?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Khi Tỳ-kheo xuất từ Diệt tận định thì không khởi suy nghĩ “ta xuất từ Diệt tận định.” Còn Tỳ-kheo xuất từ Vô tưởng định lại khởi ý nghĩ “ta là hữu tưởng, hay ta là vô tưởng?” Đó là sự khác nhau giữa người xuất từ Diệt tận định và người xuất từ Vô tưởng định.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Khi Tỳ-kheo nhập Diệt tận định có khởi ý nghĩ “ta nhập Diệt tận định” không?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Khi Tỳ-kheo nhập Diệt tận định thì không khởi ý nghĩ “ta nhập Diệt tận định” nhưng do theo tâm đã tu tập từ trước nên cứ như vậy mà tiến tới.
[0789b01] Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Khi Tỳ-kheo xuất từ Diệt tận định có khởi ý nghĩ “ta xuất từ Diệt tận định” không?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Khi Tỳ-kheo xuất từ Diệt tận định không khởi ý nghĩ “ta xuất từ Diệt tận định” nhưng bởi thân này và sáu xứ duyên mạng căn, do đó từ định mà xuất.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Tỳ-kheo xuất từ Diệt tận định thì tâm vui với gì? Thú hướng những gì? Và thuận theo những gì?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Tỳ-kheo xuất từ Diệt tận định thì tâm vui với hạnh xa lìa, thú hướng hạnh xa lìa và tùy thuận hạnh xa lìa.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Có bao nhiêu cảm thọ?[13]Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Có ba thọ, cảm thọ lạc, cảm thọ khổ và cảm thọ không lạc không khổ.
Chúng duyên vào đâu mà có? Duyên vào xúc.14 Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Thế nào là cảm thọ lạc? Thế nào là cảm thọ khổ? Và thế nào là cảm thọ không khổ không lạc?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Do sự xúc chạm mà phát sanh cảm thọ lạc, thân và tâm đều ưa thích thì thọ ấy gọi là cảm thọ lạc. Nếu do sự xúc chạm mà phát sanh cảm thọ khổ, thân và tâm đều không ưa thích thì thọ ấy gọi là cảm thọ khổ. Nếu do sự xúc chạm mà phát sanh cảm thọ không khổ, cũng không ưa thích, thân và tâm không thấy khổ hay vui thì thọ ấy gọi là cảm thọ không khổ không lạc.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Thánh Ni! Đối với cảm thọ lạc, thế nào là lạc, thế nào là khổ, thế
nào là vô thường, thế nào là tai họa, thế nào là kiết sử? Đối với cảm thọ khổ, thế nào là lạc, thế nào khổ, thế nào là vô thường, thế nào là tai họa, thế nào là kiết sử? Đối với cảm thọ không khổ không lạc thì thế nào là lạc, thế nào là khổ, thế nào là vô thường, thế nào là tai họa, thế nào là kiết sử?[14]Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Đối với cảm thọ lạc thì sanh là lạc, trụ là lạc, thay đổi là khổ, vô thường tức là tai họa, tham muốn là kiết sử. Đối với cảm thọ khổ thì sanh là khổ, trụ là khổ, thay đổi là lạc, vô thường tức là tai họa, giận dữ là kiết sử. Đối với cảm thọ không khổ không lạc thì khổ hay lạc không được biết đến, vô thường tức là thay đổi và vô minh là kiết sử.
[0789c05] Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Phải chăng tất cả cảm thọ lạc là tham dục sử?[15] Tất cả cảm thọ khổ là khuể sử?[16] Tất cả cảm thọ không khổ không lạc là vô minh sử?[17]Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Không phải tất cả cảm thọ lạc là tham dục sử. Không phải tất cả cảm thọ khổ là sân khuể sử. Không phải tất cả cảm thọ không lạc không khổ là vô minh sử. Vì sao cảm thọ lạc không phải là tham dục sử? Nếu như Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, có giác có quán, an trú hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Thiền thứ nhất, thành tựu an trú. Cảm thọ lạc này không phải là tham dục sử. Vì sao như vậy? Vì đã đoạn dục.
Vì sao cảm thọ khổ không phải là khuể sử? Như lòng mong cầu sự an lạc giải thoát vô thượng, do sự mong cầu canh cánh mà sanh ra ưu khổ. Cảm thọ khổ này chẳng phải là khuể sử vậy. Vì sao như vậy? Vì đã đoạn sân khuể.
Vì sao cảm thọ không khổ không lạc chẳng phải là vô minh sử? Khi đã buông bỏ cả khổ và lạc, diệt trừ ưu và hỷ quá khứ, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu an trú. Cảm thọ không khổ không lạc này chẳng phải vô minh sử. Vì sao như vậy? Vì đã đoạn vô minh.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Cảm thọ lạc lấy gì làm đối ngại?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Cảm thọ lạc lấy cảm thọ khổ làm đối ngại.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Cảm thọ khổ lấy gì làm đối ngại?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Cảm thọ khổ lấy cảm thọ lạc làm đối ngại.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Vừa cảm thọ lạc vừa cảm thọ khổ lấy gì làm đối ngại?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Cảm thọ vừa lạc vừa khổ lấy không khổ không lạc làm đối ngại.
[0790a02] Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Không khổ không lạc lấy gì làm đối ngại?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Không khổ không lạc lấy vô minh làm đối ngại.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Vô minh lấy gì làm đối ngại?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Vô minh lấy minh làm đối ngại.
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Hay thay! Hay thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Minh lấy gì làm đối ngại?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Minh lấy Niết-bàn làm đối ngại.
Tỳ-xá-khư nghe xong liền khen ngợi:
Lành thay! Lành thay, bạch Thánh Ni!
Nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
Bạch Thánh Ni! Niết-bàn lấy gì làm đối ngại?
Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đáp:
Cư sĩ muốn hỏi những việc không có giới hạn, những việc cư sĩ hỏi không thể đi đến giới hạn cùng tận. Niết-bàn không có đối ngại. Niết-bàn không có chướng ngại, vượt qua chướng ngại, diệt trừ chướng ngại. Do nghĩa này nên tôi theo Thế Tôn tu tập Phạm hạnh.
Bấy giờ, sau khi nghe Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc dạy, nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư khéo thọ trì, khéo đọc tụng và thực hành rồi từ chỗ ngồi đứng dậy cúi lạy sát chân Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc, đi nhiễu ba vòng và lui về.
Lúc ấy, sau khi đã tiễn nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư đi cách đó không lâu, Tỳ-kheoni Pháp Lạc đi đến chỗ Phật, cúi lạy sát chân Ngài, ngồi sang một bên rồi đem hết những điều vừa thảo luận với nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư bạch lại với Phật và chắp tay thưa:
Bạch Thế Tôn! Con nói như vầy, đáp như vầy thì có hủy báng Thế Tôn không? Có phải là nói chân thật, nói đúng với pháp, nói tuần tự theo pháp, đối với sự như pháp không có trái nhau, không có tranh cãi, không nhầm lẫn chăng?
Đức Thế Tôn bảo:
Này Tỳ-kheo-ni! Cô nói như vậy, đáp như vậy là không hủy báng Như Lai. Cô đã nói chân thật, nói như pháp, nói tuần tự theo pháp; đối với như pháp không chống trái nhau, không tranh cãi, không nhầm lẫn. Này Tỳ-kheo-ni, nếu nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư dùng những nghĩa lý như vậy đến hỏi Ta thì Ta cũng trả lời nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư bằng những nghĩa lý như vậy. Này Tỳ-kheo-ni, nghĩa này đúng như cô đã nói, cô cứ như vậy mà thọ trì. Vì sao như vậy? Vì những lời nói này khế hợp với giáo nghĩa vậy.
[0790b04] Đức Phật dạy như vậy, Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Quyển 58. Nguyên tác: Pháp Lạc Tỳ-kheo-ni kinh 法樂比丘尼經 (T.01. 0026.210. 0788a14). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.568. 0150a17); M. 44, Cūḷavedalla Sutta (Tiểu kinh phương quảng); S. 41.6 - IV. 193.
[2] Tỳ-xá-khư Ưu-bà-di (毗舍佉優婆夷, Visākha upāsikā).
[3] Pháp Lạc Tỳ-kheo-ni (法樂比丘尼, Dhammadinnā Bhikkhunī).
[4] Tự thân (自身, sakkāya), phiên âm là Tát-ca-da (薩迦耶), còn gọi là “hữu thân” (有身).
[5] Nguyên tác: Ngũ thạnh ấm (五盛陰). Xem chú thích 8, kinh số 13, tr. 75.
[6] Tự thân kiến (自身見, sakkāyadiṭṭhi) cũng gọi là “hữu thân kiến” (有身見).
[7] Nguyên tác: Bất ngự Thánh pháp (不御聖法). M. 44: Ariyadhamme avinīta (không được giảng dạy bởi Thánh pháp).
[8] Nguyên tác: Hữu thọ (有受). Pāli là upādā (thủ), cựu dịch là “thọ” (受), tân dịch là “thủ” (取).
[9] Nguyên tác: Diệt (滅), nói đủ là “Tịch diệt” (寂滅), tên khác của “Niết-bàn” (涅槃, Nibbāna).
[10] Nguyên tác: Giác (覺, vitakka), quán (觀, vicāra), hỷ (喜, pīti), lạc (樂, sukha), nhất tâm (一心, cittekaggatā).
[11] Nguyên tác: Nhược thiện tâm đắc nhất giả, thị vị định dã (若善心得一者, 是謂定也). Tham chiếu: M. 44: Cittassa ekaggatā ayaṁ samādhi (tâm chuyên chú vào một chỗ, đó gọi là định).
[12] Nguyên tác: Tứ chánh đoạn (四正斷), tức “tứ chánh cần” (四正勤).
[13] Nguyên tác: Giác (覺), tân dịch là “thọ” (受). Tiếng Pāli tương đương là vedāna. 14 Nguyên tác: Canh lạc (更樂), cách dịch khác của “xúc” (觸, phassa).
[14] Sử (使, anusaya): Kiết sử (結使) hay tùy miên (隨眠).
[15] Dục sử (欲使) cũng gọi là “tham dục tùy miên” (貪欲隨眠, rāgānusaya).
[16] Khuể sử (恚使) cũng gọi là “sân tùy miên” (瞋隨眠, paṭighānusaya).
[17] Vô minh sử (無明使) cũng gọi là “vô minh tùy miên” (無明隨眠, avijjānusaya).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.