Viện Nghiên Cứu Phật Học

209. KINH TỲ-MA-NA-TU[1]

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ, sau buổi trưa, có ngoại đạo tên là Tỳ-ma-na-tu[2] thong thả đi đến chỗ Phật, chào hỏi nhau xong liền nói:

Thưa Cù-đàm! Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng. Thưa Cù-đàm, sắc này là tối thượng![3]Thế Tôn hỏi:

Này Ca-chiên,4 đó là những sắc nào?

Tỳ-ma-na-tu đáp:

Thưa Cù-đàm! Nếu sắc nào mà không còn sắc khác tối thượng, tối diệu, tối thắng hơn, thưa Cù-đàm, sắc đó là tối thắng, sắc đó là tối thượng.

Thế Tôn bảo:

Ca-chiên, cũng như có người nói như vầy: “Trong nước này có cô gái rất đẹp, ta muốn có được cô gái ấy.” Nếu có người hỏi người ấy như vầy: “Ông biết trong nước này có cô gái rất đẹp, nhưng thực sự có biết cô ta tên gì, họ gì, sinh sống thế nào không? Cô ấy cao hay thấp, mập hay gầy, trắng hay đen, hay không trắng không đen? Cô ấy là con gái của dòng Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá hay Thủ-đà-la, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc?” Người đó đáp: “Tôi không biết.” Người kia lại hỏi: “Ông thật sự không biết, không thấy trong nước này có cô gái rất đẹp, không biết cô ta tên gì, họ gì, là cao hay thấp, mập hay gầy, trắng hay đen, hay không trắng không đen, là con gái của dòng Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá hay Thủ-đà-la, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc mà lại dám nói ‘tôi muốn có được cô gái ấy’ ư?”

Cũng vậy, này Ca-chiên, ông nói: “Sắc đó là vi diệu, sắc đó là tối vi diệu, sắc đó là tối thắng, sắc đó là tối thượng.” Nhưng khi được hỏi về sắc đó thì ông lại không biết.

[0786c02] Tỳ-ma-na-tu thưa:

Thưa Cù-đàm! Cũng như tử-ma là loại vàng ròng cực tốt. Người thợ vàng khéo mài dũa, chỉnh sửa, khiến nó sáng bóng rồi đặt nó trên tấm lụa trắng, đem để dưới nắng thì màu sắc của nó càng rực rỡ, ánh sáng chiếu lấp lánh. Cũng vậy, thưa Cù-đàm, tôi nói: “Sắc đó là vi diệu, sắc đó là tối vi diệu, sắc đó là tối thắng, sắc đó là tối thượng.” Thế Tôn bảo:

Này Ca-chiên! Nay Ta hỏi ông, hãy trả lời theo sự hiểu biết của mình. Này Ca-chiên, ý ông nghĩ sao? Vàng ròng tử-ma nhờ đặt trên tấm lụa trắng, đem để dưới nắng nên màu sắc của nó rực rỡ, tỏa sáng lấp lánh, nếu đem so với ánh sáng lấp lánh của con đom đóm trong đêm tối, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?

Tỳ-ma-na-tu thưa:

Thưa Cù-đàm! Ánh sáng của con đom đóm so với ánh sáng của vàng ròng tử-ma thì ánh sáng của con đom đóm sáng hơn.

Thế Tôn hỏi:

Này Ca-chiên! Ý ông nghĩ sao, ánh sáng lấp lánh của con đom đóm trong đêm tối và ánh sáng lấp lánh của ngọn đèn dầu trong đêm tối, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?

Tỳ-ma-na-tu thưa:

Thưa Cù-đàm! Ánh sáng của ngọn đèn dầu so với ánh sáng của con đom đóm thì ánh sáng của ngọn đèn dầu sáng hơn.

Thế Tôn hỏi:

Này Ca-chiên! Ý ông nghĩ sao, ánh sáng của ngọn đèn dầu trong đêm tối và ánh sáng từ ngọn lửa của đống cây lớn trong đêm tối, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?

Tỳ-ma-na-tu thưa:

Thưa Cù-đàm! Ánh sáng từ ngọn lửa của đống cây lớn so với ánh sáng của ngọn đèn dầu thì ánh sáng từ ngọn lửa của đống cây lớn sáng hơn.

Thế Tôn hỏi:

Này Ca-chiên! Ý ông nghĩ sao, ánh sáng chiếu tỏa từ ngọn lửa của đống cây lớn trong đêm tối và ánh sáng chiếu tỏa của sao Thái Bạch vào buổi sáng khi bầu trời quang đãng, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?

Tỳ-ma-na-tu thưa:

Thưa Cù-đàm! Ánh sáng của sao Thái Bạch so với ánh sáng từ ngọn lửa của đống cây lớn thì ánh sáng của sao Thái Bạch sáng hơn.

Thế Tôn hỏi:

Này Ca-chiên! Ý ông nghĩ sao, ánh sáng chiếu tỏa của sao Thái Bạch vào buổi sáng khi bầu trời quang đãng và ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng lúc nửa đêm khi bầu trời quang đãng, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?

Tỳ-ma-na-tu thưa:

Thưa Cù-đàm! Ánh sáng của mặt trăng so với ánh sáng sao Thái Bạch thì ánh sáng mặt trăng sáng hơn.

[0787a01] Thế Tôn hỏi:

Này Ca-chiên! Ý ông nghĩ sao, ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng vào lúc nửa đêm khi bầu trời quang đãng và ánh sáng chiếu tỏa của mặt trời vào mùa thu, khi gần giữa trưa với bầu trời quang đãng, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?

Tỳ-ma-na-tu thưa:

Thưa Cù-đàm! Ánh sáng mặt trời so với sánh sáng mặt trăng thì ánh sáng mặt trời sáng hơn.

Thế Tôn bảo:

Này Ca-chiên! Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng này tuy có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn, có oai thần lớn, nhưng so với số đông chư thiên thì ánh sáng đó không bằng ánh sáng chư thiên. Ngày xưa, Ta đã cùng chư thiên nhóm họp luận bàn, những điều Ta nói đều vừa ý chư thiên, tuy vậy Ta không nói: “Sắc đó là vi diệu, sắc đó là tối vi diệu, sắc đó là tối thắng, sắc đó là tối thượng.” Này Ca-chiên, còn ông, với ánh sáng lập lòe của con đom đóm, sắc sáng rất kém, rất xấu mà dám bảo “sắc đó là vi diệu, sắc đó là tối vi diệu, sắc đó là tối thắng, sắc đó là tối thượng”, nhưng khi được hỏi về sắc đó thì ông lại không biết.

Lúc ấy, Tỳ-ma-na-tu bị Thế Tôn quở trách thẳng nên trong lòng buồn bã, cúi đầu im lặng, không lời biện bạch, lộ vẻ suy tư.

Sau khi quở trách, Thế Tôn muốn cho ông ta hoan hỷ, nên bảo:

Này Ca-chiên! Có năm món dục đáng yêu, đáng thích, đáng vui, đáng nhớ, tương ưng với dục lạc. Đó là, mắt nhận biết sắc, tai biết tiếng, mũi biết hương, lưỡi biết mùi vị và thân biết  cảm xúc. Này Ca-chiên, sắc dù có đáng yêu hay không đáng yêu nhưng nếu một người đối với sắc ấy đã thấy vừa lòng, hợp ý, ưa thích, đủ đầy, mãn nguyện rồi thì đối với các sắc khác dù có tối thượng, tối thắng nhưng người ấy vẫn không ham muốn, không tư duy, không ước nguyện, không mong cầu, vì người đó đã cho sắc kia là tối thượng, tối thắng.

Này Ca-chiên, thanh, hương, vị, xúc cũng như vậy. Này Ca-chiên, xúc dù có đáng yêu hay không đáng yêu, nhưng nếu một người đối với xúc ấy đã thấy vừa lòng, hợp ý, ưa thích, đầy đủ, mãn nguyện rồi thì đối với những xúc khác dù có tối thượng, tối thắng nhưng người ấy vẫn không ham muốn, không tư duy, không ước nguyện, không mong cầu, vì người đó đã cho xúc kia là tối thượng, tối thắng vậy.

Bấy giờ, Tỳ-ma-na-tu chắp tay hướng Phật và bạch:

Thưa Cù-đàm! Thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Sa-môn Cù-đàm đã vì tôi mà dùng vô số phương tiện nói về dục lạc, dục lạc là bậc nhất.[4] Thưa Cù-đàm, cũng như do lửa cỏ mà đốt lửa cây, do lửa cây mà đốt lửa cỏ. Cũng vậy, Sa-môn Cù-đàm đã vì tôi mà dùng vô số phương tiện nói về dục lạc, dục lạc là bậc nhất.

[0787b01] Đức Thế Tôn bảo:

Thôi! Thôi! Này Ca-chiên, ông mãi sống với những hiểu biết khác, kham thọ khác, niềm vui khác, ước muốn khác, ý nghĩ khác nên không hiểu hết ý nghĩa những điều Ta nói. Này Ca-chiên, đệ tử của Ta đầu đêm, cuối đêm thường không nằm ngủ mà chánh định, chánh ý, tu tập đạo phẩm, để biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Những người ấy mới thấu hiểu được những điều Ta nói.

Ngay khi đó, Tỳ-ma-na-tu nổi giận với đức Phật, nổi ganh ghét, không vừa ý, muốn hủy báng Thế Tôn, muốn hạ nhục Thế Tôn và ông thực sự hủy báng Thế Tôn, thực sự hạ nhục Thế Tôn khi nói rằng:

Cù-đàm! Có hạng Sa-môn, Phạm chí, không biết giới hạn cùng cực của đời trước, không biết giới hạn cùng tận của đời sau, không biết vòng sống chết vốn vô tận mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Cù-đàm, tôi nghĩ như vầy: “Vì sao Sa-môn, Phạm chí này không biết giới hạn cùng cực của đời trước, không biết giới hạn cùng tận của đời sau, không biết vòng sống chết vốn vô tận mà tự cho là chứng đắc Cứu cánh trí, biết như thật rằng: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa?’”

Lúc đó, Thế Tôn liền nghĩ: “Tỳ-ma-na-tu nổi giận với Ta, nổi ganh ghét, không vừa ý, muốn hủy báng Ta, muốn hạ nhục Ta và thực sự hủy báng Ta, thực sự hạ nhục Ta nên mới nói với Ta rằng: ‘Cù-đàm, có hạng Sa-môn, Phạm chí không biết giới hạn cùng cực của đời trước, không biết giới hạn cùng tận của đời sau, không biết vòng sống chết vốn vô tận mà tự cho là chứng được Cứu cánh trí, biết như thật: Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’”

Cù-đàm, tôi nghĩ như vầy: “Vì sao Sa-môn, Phạm chí này không biết giới hạn cùng cực của đời trước, không biết giới hạn cùng tận của đời sau, không biết vòng sống chết vốn vô tận mà tự cho là chứng được Cứu cánh trí, biết như thật rằng: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa?”’

Khi biết rõ rồi, Thế Tôn liền bảo:

– Này Ca-chiên! Nếu có Sa-môn, Phạm chí không biết giới hạn cùng cực của đời trước, không biết giới hạn cùng tận của đời sau, không biết vòng sống chết vốn vô tận mà tự cho là chứng được Cứu cánh trí, biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa” thì người đó phải nói như vầy: “Hãy gác qua giới hạn cùng cực của đời trước, hãy gác qua giới hạn cùng tận của đời sau.” Nhưng này Ca-chiên, Ta cũng nói như vầy: “Hãy gác qua giới hạn cùng cực của đời trước, hãy gác qua giới hạn cùng tận của đời sau”, vì không thể nhớ dù chỉ một đời.[5] Khi đệ tử Tỳkheo của Ta đến, không nịnh hót, không dối gạt mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu nương theo sự giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì họ nhất định biết được Chánh pháp.

Này Ca-chiên! Như đứa trẻ nhỏ, thân thể mềm yếu, đang còn nằm ngửa, cha mẹ nó đeo chiếc vòng vào tay chân nó. Khi đứa trẻ lớn khôn, các căn thành tựu, cha mẹ tháo ra khỏi tay chân nó thì đứa trẻ chỉ nhớ khi được tháo ra chứ không thể nhớ khi được đeo vào. Cũng vậy, này Ca-chiên, Ta nói như vầy: “Hãy gác lại giới hạn cùng cực của đời trước, hãy gác lại giới hạn cùng tận của đời sau”, vì không thể nhớ dù chỉ một đời. Khi đệ tử Tỳ-kheo đến, không nịnh hót, không dối gạt mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu nương theo sự giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì họ nhất định biết được Chánh pháp.

Này Ca-chiên! Cũng như nhờ dầu, nhờ tim mà đèn được thắp sáng, nếu không được châm dầu, thay tim, dầu trước đó đã cạn mà về sau lại không rót thêm, do không được nhận thêm nên đèn sẽ tự tắt nhanh chóng. Cũng vậy, này Ca-chiên, Ta nói như vầy: “Hãy gác lại giới hạn cùng cực của đời sống trước, hãy gác lại giới hạn cùng tận của đời sống sau”, vì không thể nhớ dù chỉ một đời. Khi đệ tử Tỳ-kheo của Ta đến, không nịnh hót, không dối gạt mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu nương theo sự giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì họ nhất định biết được Chánh pháp.

Này Ca-chiên! Cũng như dùng lửa châm đốt mười đống cây, hoặc hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi hay sáu mươi đống cây thì chúng bốc cháy ngùn ngụt, liền thấy ngọn lửa. Sau đó nếu không có người thêm cỏ, cây, hoặc đổ thêm vỏ trấu, rác rưởi vào, củi trước đã hết mà về sau không thêm nữa, do không được nhận thêm nên lửa sẽ tự tắt nhanh chóng.

Cũng vậy, này Ca-chiên! Ta nói như vầy: “Hãy gác lại giới hạn cùng cực của đời sống trước, hãy gác lại giới hạn cùng tận của đời sống sau”, vì không thể nhớ dù chỉ một đời. Khi đệ tử Tỳ-kheo của Ta đến, không nịnh hót, không dối gạt mà thẳng thắn thì Ta giáo hóa họ. Nếu nương theo sự giáo hóa của Ta mà thực hành đúng như vậy thì họ nhất định biết được Chánh pháp.

Khi bài pháp này được giảng thì Tỳ-ma-na-tu liền xa lìa trần cấu, đạt được cái thấy chân thật đối với các pháp. Lúc đó, Tỳ-ma-na-tu thấy pháp, đắc pháp, ngộ pháp thanh tịnh, không thờ ai khác, không nương ai khác, thoát khỏi mê lầm, đoạn trừ nghi hoặc, không còn do dự, đã trụ quả chứng, với pháp Thế Tôn, được Vô sở úy, nên cúi lạy sát chân Phật và thưa:

Bạch Thế Tôn! Con xin được theo Phật xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, được làm Tỳ-kheo, thực hành Phạm hạnh.

Đức Thế Tôn dạy:

Lành thay, Tỳ-kheo! Hãy thực hành Phạm hạnh.

Tỳ-ma-na-tu được theo Phật xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, được làm Tỳ-kheo, thực hành Phạm hạnh.

Tôn giả Tỳ-ma-na-tu xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, biết pháp, thấy pháp rồi tu tập cho đến khi chứng được quả vị A-la-hán.

Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả Tỳ-ma-na-tu và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.[6]

Chú thích:

[1] Nguyên tác: Tỳ-ma-na-tu kinh 鞞摩那修經 (T.01. 0026.209. 0786b12). Tham chiếu: Phật thuyết Tỳma-túc kinh 佛說鞞摩肅經 (T.01. 0090. 0913c04). M. 80, Vekhanassa Sutta (Kinh Vekhanassa).

[2] Tỳ-ma-na-tu (鞞摩那修). Phật thuyết Tỳ-ma-túc kinh 佛說鞞摩肅經 (T.01. 0090. 0913c04) gọi là Tỳ-ma-túc (鞞摩肅); M. 80: Vekhanassa, thầy của Sakuludāyi. Sau khi Sakuludāyi bị khuất phục bởi Phật (xem kinh số 208 trên) ông thân hành đến tìm hiểu sự thật.

[3] Tối sắc (最色). Phật thuyết Tỳ-ma-túc kinh 佛說鞞摩肅經 (T.01. 0090. 0913c04): Hình sắc cực vô thượng diệu. M. 80: Paramo vaṇṇo (màu sắc là trên hết). Có lẽ chủ trương phân biệt chủng tộc, giai cấp. 4 Ca-chiên (迦旃). Pāli: Kaccana, họ của Tỳ-ma-na-tu (鞞摩那修, Vekhanassa).

[4] Nguyên tác: Sa-môn Cù-đàm vị ngã vô lượng phương tiện thuyết dục lạc, dục lạc đệ nhất (沙門瞿

曇為我無量方便說欲樂, 欲樂第一). Tham chiếu: Phật thuyết Tỳ-ma-túc kinh 佛說鞞摩肅經 (T.01. 0090. 0913c04): 沙門瞿曇無量方便, 為我說婬樂求婬樂; M. 80: Kāmehi kāmasukhaṃ; kāmasukhā kāmaggasukhaṃ tattha aggaṃ akkhayāti (do bởi các dục mà có lạc; từ lạc do dục ấy, lạc dục tối thượng ấy được nói là tối thượng).

[5] Nguyên tác: Thiết linh bất ức nhất sinh (設令不憶一生). Phật thuyết Tỳ-ma-túc kinh 佛說鞞摩肅經 (T.01. 0090. 0913c04): Bất ưng niệm nhất sinh (不應念一生). Tham chiếu: Tiễn-mao kinh 箭毛經 (T.01. 0026.208. 0783c03): Thưa Cù-đàm, ngay trong đời sống này, những điều tôi từng làm, những gì tôi có được, vậy mà tôi còn không nhớ thì làm sao có thể nhớ được những việc trong đời trước có

nhân, có duyên như thế nào? (瞿曇!我於此生作本所作,得本所得,尚不能憶,況復能憶有因有緣, 無量本昔所生事耶?)

[6] Bản Hán, hết quyển 57.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.