Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa thành Vương xá, ngụ tại Trúc Lâm, vườn Calan-đa.
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y, ôm bát vào thành khất thực. Sau khi thọ thực xong, Ngài thu dọn y bát, rửa chân tay, rồi vắt tọa cụ lên vai đi đến khu vườn của ngoại đạo trong rừng Khổng Tước.
Tại khu vườn của ngoại đạo trong rừng Khổng Tước có một vị ngoại đạo tên là Tiễn-mao, được mọi người kính trọng và tôn làm thầy, là bậc tông chủ danh đức, có tiếng tăm lớn, thống lãnh đồ chúng đông đảo, được năm trăm vị đồng đạo tôn trọng. Vị này đang ở giữa đại chúng náo nhiệt, nói chuyện lớn tiếng, huyên thuyên mọi điều phù phiếm vô ích như: Chuyện vua chúa, chuyện giặc cướp, chuyện đấu tranh, chuyện ăn uống, chuyện y phục, chuyện phụ nữ, chuyện con gái, chuyện dâm nữ, chuyện thế gian, chuyện đồng trống, chuyện biển cả, chuyện nước, chuyện dân... họ cùng nhau nhóm họp bàn luận về những đề tài phù phiếm vô ích như vậy.
Tiễn-mao thấy Phật từ xa đến, liền lệnh cho đồ chúng của mình: “Các ông hãy giữ yên lặng. Người đang đến kia là Sa-môn Cù-đàm. Đồ chúng của ông ấy yên lặng, thường thích sự yên lặng, khen ngợi sự yên lặng. Nếu ông ấy thấy chúng ta yên lặng thì có thể sẽ đến thăm.” Tiễn-mao bảo mọi người yên lặng rồi chính mình cũng ngồi yên lặng.
Đức Thế Tôn đi đến chỗ Tiễn-mao. Tiễn-mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai rồi chắp tay bạch Phật:
Thật quý hóa thay, thưa Sa-môn Cù-đàm! Đã lâu rồi Sa-môn Cù-đàm không đến đây, xin mời Ngài ngồi tòa này.
Thế Tôn liền ngồi xuống tòa mà Tiễn-mao đã soạn sẵn. Cùng chào hỏi nhau xong, Tiễn-mao ngồi xuống một bên. Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Các ông vừa bàn luận những gì? Do việc gì mà cùng ngồi nhóm họp ở đây?
Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Xin bỏ qua vấn đề này, vì những bàn luận ấy không có ý nghĩa gì cả. Sa-môn Cù-đàm nếu muốn nghe những điều ấy thì để sau này nghe cũng không khó gì.
Thế Tôn hỏi như vậy ba lần:
Này Ưu-đà-di! Các ông vừa bàn luận những gì? Do việc gì mà cùng ngồi nhóm họp ở đây?
Tiễn-mao cũng lại đáp ba lần:
Thưa Cù-đàm! Xin bỏ qua vấn đề này, vì những bàn luận ấy không có ý nghĩa gì cả. Sa-môn Cù-đàm nếu muốn nghe những điều ấy thì để sau này nghe cũng không khó gì. Thế nhưng Sa-môn Cù-đàm đã ba lần nói muốn nghe, vậy nay tôi sẽ nói.
Thưa Cù-đàm! Tôi có suy tính, có tư duy, trú trong trạng thái suy tính, trú trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tài. Khi nghe có người cho rằng: “Thật có nhất thiết trí,[2] biết tất cả, thấy tất cả, không gì không biết, không gì không thấy.” Tôi đến hỏi vị ấy vài việc, nhưng vị ấy không biết. Thưa Cù-đàm! Tôi liền suy nghĩ: “Việc này là thế nào?” [0784a06] Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Ông có suy tính, có tư duy, trú trong trạng thái suy tính, trú trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tài. Vậy ai đã nói: “Thật có nhất thiết trí, biết tất cả, thấy tất cả, không gì không biết, không gì không thấy” nhưng khi ông đến hỏi vài việc thì vị ấy lại không biết?
Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Đó là ông Bất-lan Ca-diếp. Bất-lan Ca-diếp tự cho là thật có nhất thiết trí, biết tất cả, thấy tất cả, không gì không biết, không gì không thấy. Tôi có suy tính, có tư duy, trú trong trạng thái suy tính, trú trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tài. Tôi đến hỏi vài việc nhưng ông ấy không biết. Thưa Cù-đàm! Vậy nên tôi liền nghĩ: “Việc này là thế nào?” Các vị như Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi tử, Bà-nhã Tỳ-la-trì tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phú Cachiên, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi cũng đều như vậy. Thưa Cù-đàm! Các ông ấy tự cho thật có nhất thiết trí, biết tất cả, thấy tất cả, không gì không biết, không gì không thấy. Tôi có suy tính, có tư duy, trú trong trạng thái suy tính, trú trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tài. Tôi đến hỏi vài việc nhưng các ông ấy đều không biết. Thưa Cù-đàm! Vậy nên tôi liền nghĩ: “Việc này là thế nào?”
Thưa Cù-đàm! Tôi lại suy nghĩ: “Như vậy ta phải đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi những việc quá khứ. Sa-môn Cù-đàm ắt có thể trả lời những việc quá khứ của ta. Ta phải đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi những việc tương lai. Sa-môn Cù-đàm ắt sẽ trả lời những việc tương lai của ta. Lại nữa, ta tùy việc mà hỏi Samôn Cù-đàm, ắt Sa-môn Cù-đàm cũng sẽ trả lời theo việc ta hỏi.” Thế Tôn đáp:
Này Ưu-đà-di! Thôi! Thôi! Ông mãi sống trong quan điểm khác, tiếp nhận khác, niềm vui khác, ước muốn khác, ý nghĩ khác nên không thể hiểu hết ý nghĩa những điều Ta nói.
Này Ưu-đà-di! Ta có đệ tử có nhân có duyên nhớ được vô lượng kiếp trong quá khứ từ một đời, hai đời, trăm đời, ngàn đời, kiếp thành, kiếp hoại, vô lượng kiếp thành hoại, cho đến chúng sanh tên gọi là gì, ta từng sanh ở nơi đó, có họ như vậy, tên như vậy, sinh sống như vậy, ăn uống như vậy, thọ khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trú lâu như vậy, thọ mạng chấm dứt như vậy. Ta chết ở nơi này, sanh ở nơi kia, chết ở nơi kia, sanh ở nơi này, ta sanh ra ở nơi này, có họ như vậy, tên như vậy, sống như vậy, ăn uống như vậy, thọ khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trú lâu như vậy, thọ mạng chấm dứt như vậy. Vị này đến hỏi Ta việc quá khứ, Ta trả lời việc quá khứ cho người ấy. Ta cũng đến hỏi người ấy việc quá khứ, người ấy cũng trả lời việc quá khứ cho Ta. Ta tùy việc người đó hỏi mà trả lời, người ấy cũng theo việc Ta hỏi mà giải đáp.
[0784b10] Lại nữa, này Ưu-đà-di! Ta có đệ tử với thiên nhãn thanh tịnh vượt hẳn người thường, thấy rõ chúng sanh này khi sanh, khi chết, sắc đẹp, sắc xấu, tốt hay không tốt, qua lại cõi thiện hay bất thiện, tùy theo nghiệp của chúng sanh này đã tạo mà thấy đúng như vậy: Nếu chúng sanh này đã tạo nghiệp ác từ thân, tạo nghiệp ác từ miệng, tạo nghiệp ác từ ý, hủy báng bậc Thánh, có tà kiến và tạo nghiệp tà kiến thì người ấy do nhân duyên đó mà sau khi qua đời ắt sẽ đi vào đường ác, đọa trong địa ngục. Nếu chúng sanh này đã thành tựu hạnh lành nơi thân, thành tựu hạnh lành nơi miệng, thành tựu hạnh lành nơi ý, không hủy báng bậc Thánh, có chánh kiến và thành tựu chánh kiến thì người ấy do duyên đó mà sau khi qua đời ắt sẽ sanh vào đường lành, sanh lên cõi trời. Vị này đến hỏi Ta việc tương lai, Ta trả lời việc tương lai cho người ấy. Ta cũng đến hỏi người ấy việc tương lai, người ấy cũng trả lời việc tương lai cho Ta. Ta tùy việc người đó hỏi mà trả lời, người ấy cũng theo việc Ta hỏi mà giải đáp.
Ngoại đạo Tiễn-mao bạch:
Thưa Cù-đàm! Nếu như vậy, tôi trở thành không biết, trở thành không thấy, trở thành ngu si, rơi vào ngu si. Đó là vì Sa-môn Cù-đàm nói như vầy: “Này Ưu-đà-di! Thôi! Thôi! Ông mãi sống trong quan điểm khác, tiếp nhận khác, niềm vui khác, ước muốn khác, ý nghĩ khác nên không thể hiểu hết ý nghĩa những điều Ta nói: ‘Này Ưu-đà-di! Ta có đệ tử có nhân có duyên nhớ được vô lượng kiếp trong quá khứ từ một đời, hai đời, trăm đời, ngàn đời, kiếp thành, kiếp hoại, vô lượng kiếp thành hoại, cho đến chúng sanh tên gọi là gì, ta từng sanh ở nơi đó, có họ như vậy, có tên như vậy, sinh sống như vậy, ăn uống như vậy, thọ khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trú lâu như vậy, thọ mạng chấm dứt như vậy. Ta chết ở nơi này, sanh ở nơi kia, chết ở nơi kia, sanh ở nơi này, ta sanh ra ở nơi này, có họ như vậy, có tên như vậy, sinh sống như vậy, ăn uống như vậy, thọ khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trú lâu như vậy, thọ mạng chấm dứt như vậy. Vị này đến hỏi Ta việc quá khứ, Ta trả lời việc quá khứ cho người ấy. Ta cũng đến hỏi người ấy việc quá khứ, người ấy cũng trả lời việc quá khứ cho Ta. Ta tùy việc người đó hỏi mà trả lời, người ấy cũng theo việc Ta hỏi mà giải đáp.
[0784c06] Lại nữa, này Ưu-đà-di! Ta có đệ tử với thiên nhãn thanh tịnh vượt hẳn người thường, thấy rõ chúng sanh này khi sanh, khi chết, sắc đẹp, sắc xấu, tốt hay không tốt, qua lại cõi thiện hay bất thiện, tùy nghiệp chúng sanh này đã tạo mà thấy đúng như vậy. Nếu chúng sanh này đã tạo nghiệp ác từ thân, tạo nghiệp ác từ miệng, tạo nghiệp ác từ ý, hủy báng bậc Thánh, có tà kiến và tạo nghiệp tà kiến thì người ấy do nhân duyên đó mà sau khi qua đời ắt sẽ đi vào đường ác, đọa vào địa ngục. Nếu chúng sanh này đã tạo hạnh lành từ thân, tạo hạnh lành từ miệng, tạo hạnh lành từ ý, không hủy báng bậc Thánh, có chánh kiến và thành tựu chánh kiến thì người ấy do duyên đó mà sau khi qua đời ắt sẽ sanh vào đường lành, sanh lên cõi trời. Vị này đến hỏi Ta việc tương lai, Ta trả lời việc tương lai cho người ấy. Ta cũng đến hỏi người ấy việc tương lai, người ấy cũng trả lời việc tương lai cho Ta. Ta tùy việc người đó hỏi mà trả lời, người ấy cũng theo việc Ta hỏi mà giải đáp.”
Thưa Cù-đàm! Ngay trong đời sống này, có những điều tôi từng làm, những gì tôi có được vậy mà tôi còn không nhớ thì làm sao có thể nhớ được những việc trong vô lượng đời trước có nhân, có duyên như thế nào? Thưa Cù-đàm! Tôi còn không thể thấy con quỷ Phiêu Phong[3] thì làm gì có được thiên nhãn thanh tịnh vượt quá người thường để thấy chúng sanh kia khi chết, khi sống, sắc đẹp, sắc xấu, tốt hay không diệu, sanh vào cõi lành hay đường dữ, tùy nghiệp của chúng sanh đó đã tạo mà thấy đúng như thật! Thưa Cù-đàm! Tôi nghĩ như vầy: “Nếu Sa-môn Cù-đàm hỏi ta về vấn đề theo thầy học pháp thì ta có thể giải đáp, khiến Ngài vừa ý.” Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Ông theo thầy học những pháp gì?
Ngoại đạo Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Vị ấy nói: “Sắc vượt hẳn sắc thì sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.”
Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Đó là những sắc gì?
Ngoại đạo Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Nếu sắc nào không có sắc khác tối thượng, tối diệu hơn thì sắc đó tối thắng. Vậy nên sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.
Thế Tôn bảo:
Này Ưu-đà-di! Ví như có người nói như vầy: “Nếu trong đất nước này có cô gái cực kỳ xinh đẹp thì ta muốn có được cô gái ấy.” Lại có người hỏi người đó như vầy: “Ông có biết cô gái cực kỳ xinh đẹp trong nước này tên họ là gì, sinh sống như thế nào, cao hay thấp, mập hay gầy, trắng hay đen hoặc không trắng không đen, là cô gái dòng Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá hay Thủ-đà-la, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc?” Người đó đáp rằng: “Tôi không biết.” Người kia lại hỏi: “Ông không biết, không thấy trong nước này có cô gái cực kỳ xinh đẹp tên họ là gì, sinh sống như thế nào, cao hay thấp, mập hay gầy, trắng hay đen hoặc không trắng không đen, là cô gái dòng Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá, hay Thủ-đà-la, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc, mà lại nói ‘Ta muốn có được cô gái đó’” ư?
Cũng vậy, này Ưu-đà-di! Ông nói như vầy: “Vị đó nói sắc vượt hẳn sắc thì sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.” Thế nhưng, khi được hỏi sắc đó thì ông lại không biết.
[0785a12] Ngoại đạo Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Giống như tử-ma là loại vàng ròng bậc nhất. Người thợ vàng khéo mài dũa, sửa trị khiến cho nó sáng bóng rồi đặt lên tấm lụa trắng, đem để dưới nắng thì màu sắc của nó càng rực rỡ, tỏa sáng lấp lánh. Cũng vậy, thưa Cù-đàm, tôi nói: “Sắc ấy vượt hẳn sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.” Thế Tôn bảo:
Này Ưu-đà-di! Bây giờ Ta hỏi, ông tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Này Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao? Vàng ròng tử-ma nhờ đặt trên tấm lụa trắng, để dưới nắng mà màu sắc của nó rực rỡ, tỏa sáng lấp lánh, nếu đem so với ánh sáng lấp lánh của con đom đóm trong đêm tối, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?
Ngoại đạo Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Ánh sáng của con đom đóm so với ánh sáng của vàng ròng tử-ma thì ánh sáng của con đom đóm sáng hơn.
Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Ý ông nghĩ sao? Ánh sáng lấp lánh của con đom đóm trong đêm tối và ánh sáng lấp lánh của ngọn đèn dầu trong đêm tối, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?
Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Ánh sáng của ngọn đèn dầu so với ánh sáng của con đom đóm thì ánh sáng của ngọn đèn dầu sáng hơn.
Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Ý ông nghĩ sao? Ánh sáng của ngọn đèn dầu trong đêm tối và ánh sáng từ ngọn lửa của đống cây lớn trong đêm tối, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?
Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Ánh sáng từ ngọn lửa của đống cây lớn so với ánh sáng của ngọn đèn dầu thì ánh sáng từ ngọn lửa của đống cây lớn sáng hơn.
[0785b01] Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Ý ông nghĩ sao? Ánh sáng tỏa từ ngọn lửa của đống cây lớn trong đêm tối và ánh sáng tỏa từ sao Thái Bạch vào buổi sáng bầu trời quang đãng, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?
Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Ánh sáng của sao Thái Bạch so với ánh sáng từ ngọn lửa của đống cây lớn thì ánh sáng của sao Thái Bạch sáng hơn.
Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Ý ông nghĩ sao? Ánh sáng tỏa từ sao Thái Bạch vào buổi sáng bầu trời quang đãng và ánh sáng tỏa từ mặt trăng lúc nửa đêm bầu trời quang đãng, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?
Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Ánh sáng của mặt trăng so với ánh sáng sao Thái Bạch thì ánh sáng mặt trăng sáng hơn.
Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Ý ông nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng vào lúc nửa đêm bầu trời quang đãng và ánh sáng chiếu tỏa của mặt trời vào mùa thu, khi gần giữa trưa với bầu trời trong suốt, trong hai ánh sáng ấy thì ánh sáng nào sáng hơn?
Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Ánh sáng mặt trời so với ánh sáng mặt trăng thì ánh sáng mặt trời sáng hơn.
Thế Tôn bảo:
Này Ưu-đà-di! Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng này tuy có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn, có oai thần lớn, nhưng so với số đông chư thiên thì ánh sáng đó không bằng ánh sáng chư thiên. Ta ngày xưa đã cùng chư thiên nhóm họp luận bàn, những điều Ta nói đều vừa ý chư thiên ấy, tuy vậy Ta không nói: “Sắc vượt hẳn sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.” Này Ưu-đàdi! Còn ông, với ánh sáng lập lòe của con đom đóm, sắc sáng rất kém, rất xấu mà dám nói: “Sắc ấy vượt hẳn sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng” và khi được hỏi thì ông lại không biết.
Tiễn-mao thưa:
Bạch Thế Tôn! Con xin hối lỗi về lời nói này. Bạch Thiện Thệ! Con xin hối lỗi về lời nói này.
Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Ý ông thế nào mà nói như vầy: “Bạch Thế Tôn! Con xin hối lỗi về lời nói này. Bạch Thiện Thệ! Con xin hối lỗi về lời nói này?” Tiễn-mao thưa:
Bạch Cù-đàm! Con đã nói như vầy: “Sắc ấy vượt hẳn sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.” Nay Sa-môn Cù-đàm khéo tra xét con, khéo dạy dỗ và khéo quở trách, khiến con dứt hết hư vọng. Bạch Cù-đàm! Vậy nên con nói như vầy: “Bạch Thế Tôn! Con xin hối lỗi về lời nói này. Bạch Thiện Thệ! Con xin hối lỗi về lời nói này.” Tiễn-mao lại thưa:
Bạch Cù-đàm! Đời sau chỉ thuần túy an vui, có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới ấy.
[0785c01] Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Thế nào gọi là đời sau chỉ thuần túy an vui? Thế nào là có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới ấy?
Tiễn-mao thưa:
Bạch Cù-đàm! Nếu có người xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, xa lìa trộm cướp, xa lìa tà dâm, xa lìa nói dối, cho đến xa lìa tà kiến, được chánh kiến. Bạch Cù-đàm! Đó gọi là đời sau chỉ thuần túy an vui, đó gọi là có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới ấy.
Thế Tôn lại bảo:
Này Ưu-đà-di! Bây giờ Ta hỏi, ông tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Này Ưu-đà-di! Ý ông nghĩ thế nào? Nếu có người xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh thì người ấy sẽ được thuần túy an vui hay có khổ đau xen lẫn?[4]Tiễn-mao thưa:
Bạch Cù-đàm! Có khổ đau xen lẫn.
Nếu có người xa lìa trộm cướp, tà dâm, nói dối, cho đến xa lìa tà kiến, có chánh kiến thì người đó sẽ được thuần túy an vui hay có khổ đau xen lẫn?
Tiễn-mao thưa:
Bạch Cù-đàm! Có khổ đau xen lẫn.
Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Như vậy phải chăng con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới ấy có khổ đau xen lẫn hạnh phúc?
Tiễn-mao thưa:
Bạch Cù-đàm! Thật như vậy, con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới ấy có khổ đau xen lẫn hạnh phúc.
Tiễn-mao lại thưa:
Bạch Thế Tôn! Con xin hối lỗi lời nói này! Bạch Thiện Thệ! Con xin hối lỗi lời nói này!
Thế Tôn hỏi:
Này Ưu-đà-di! Ông nghĩ thế nào mà nói như vầy: “Bạch Thế Tôn! Con xin hối lỗi lời nói này! Bạch Thiện Thệ! Con xin hối lỗi lời nói này?” Tiễn-mao thưa:
Bạch Cù-đàm! Con vừa nói: “Đời sau chỉ thuần túy an vui, có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới ấy.” Nay Sa-môn Cù-đàm khéo tra xét con, khéo dạy dỗ và quở trách con, khiến con dứt hết hư vọng. Bạch Cù-đàm! Do đó, con nói như vầy: “Bạch Thế Tôn! Con xin hối lỗi lời nói này! Bạch Thiện
Thệ! Con xin hối lỗi lời nói này!” Thế Tôn bảo:
Này Ưu-đà-di! Quả thật có thế giới chỉ thuần túy an vui, có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới ấy.
Tiễn-mao hỏi:
Bạch Cù-đàm! Thế nào là có thế giới chỉ thuần túy an vui, có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới ấy?
Thế Tôn đáp:
Này Ưu-đà-di! Nếu khi Như Lai xuất hiện ở đời, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy đã diệt trừ,... (cho đến) năm thứ ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém. Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, có giác, có quán, an trú hỷ lạc do viễn ly sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, không cùng với chư thiên kia tương đồng về giới, về tâm và về cái thấy. Vị ấy diệt trừ giác và quán, nội tĩnh nhất tâm, an trú hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán, không cùng với chư thiên kia tương đồng về giới, về tâm và về cái thấy. Vị ấy ly hỷ, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, điều mà bậc Thánh gọi là xả niệm an trú lạc, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, không cùng với chư thiên tương đồng về giới, về tâm và về cái thấy. Này Ưu-đà-di! Đó gọi là thế giới thuần túy an vui.
[0786a05] Tiễn-mao hỏi:
Bạch Cù-đàm! Thế giới thuần túy an vui cùng cực chỉ có thế thôi sao?
Thế Tôn đáp:
Thế giới thuần túy an vui này chưa phải là cùng cực. Này Ưu-đà-di! Lại còn có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới thuần túy an vui khác nữa.
Tiễn-mao lại hỏi:
Thế nào là còn có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới thuần túy an vui khác nữa?
Thế Tôn đáp:
Này Ưu-đà-di! Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, có giác, có quán, an trú hỷ lạc do viễn ly sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, cùng với chư thiên tương đồng về giới, về tâm và về cái thấy. Tỳ-kheo lìa bỏ giác và quán, nội tĩnh nhất tâm, an trú hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán, cùng với chư thiên kia tương đồng về giới, về tâm và về cái thấy. Tỳ-kheo ly hỷ, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, điều mà bậc Thánh gọi là xả niệm an trú lạc, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, cùng với chư thiên tương đồng về tâm, về giới và về cái thấy. Này Ưu-đà-di! Đó gọi là có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới thuần túy an vui.
Tiễn-mao hỏi:
Bạch Cù-đàm! Phải chăng vì thế giới thuần túy an vui, vì con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới thuần túy an vui đó mà đệ tử của Sa-môn Cù-đàm theo Ngài học Phạm hạnh chăng?
Thế Tôn đáp:
Đệ tử của Ta không phải chỉ vì thế giới thuần túy an vui, vì có một con đường dẫn đến thể nghiệm thế giới thuần túy an vui ấy mà theo Ta học Phạm hạnh. Này Ưu-đà-di! Vì còn có sự tối thắng, tối diệu, tối thượng khác nữa để chứng đắc nên đệ tử Ta theo Ta học Phạm hạnh.
Bấy giờ, đại chúng kia cùng lớn tiếng ca ngợi:
Chính vì để chứng đắc sự tối thượng, tối diệu, tối thắng kia mà đệ tử của Sa-môn Cù-đàm theo Ngài học Phạm hạnh!
Bấy giờ, Tiễn-mao bảo đại chúng của mình im lặng, rồi lại thưa:
Bạch Cù-đàm! Thế nào là sự tối thượng, tối diệu, tối thắng, vì để chứng đắc như vậy mà đệ tử Sa-môn Cù-đàm theo Ngài học Phạm hạnh?
Thế Tôn đáp:
Này Ưu-đà-di! Tỳ-kheo đã diệt trừ ưu và hỷ quá khứ, buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, gọi là xả niệm thanh tịnh. Này Ưu-đà-di! Đó gọi là tối thượng, tối diệu, tối thắng, vì để chứng đắc như vậy mà đệ tử Ta theo Ta học Phạm hạnh.
[0786b03] Bấy giờ, Tiễn-mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, muốn đảnh lễ chân Phật thì các đệ tử Phạm hạnh của Tiễn-mao thưa với thầy của mình:
Tôn giả hiện đang xứng đáng làm bậc thầy mà muốn làm đệ tử Sa-môn Cù-đàm ư? Khi nào Tôn giả không đồng ý làm thầy rồi hãy làm đệ tử Sa-môn Cù-đàm.
Đây là các đệ tử của Tiễn-mao làm chướng ngại sự tu học Phạm hạnh theo Thế Tôn của ông ấy.
Đức Phật dạy như vậy, ngoại đạo Tiễn-mao nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Nguyên tác: Tiễn-mao kinh, hạ 箭毛經, 下 (T.01. 0026.208. 0783c03). Tham chiếu: M. 79, Cūḷasakuludāyi Sutta (Tiểu kinh Sakuludāyi).
[2] Nguyên tác: Tát-vân-nhiên (薩云然), hoặc phiên âm là Tát-bà-nhã (薩婆若, Sabbaññū): Đấng Nhất thiết trí, đấng Toàn trí.
[3] Phiêu Phong quỷ (飄風鬼). M. 79: Pamsupisācaka gọi là “quỷ bùn”, một loại tỳ-xá-xà, sanh và trú ở nơi bất tịnh.
[4] Tạp khổ (雜苦). M. 79: Sukhadukkhī (vừa vui vừa khổ).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.