Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng với đại chúng một nghìn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo du hóa và an cư mùa mưa tại Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa, thuộc thành Vương Xá.
[0781c01] Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y, ôm bát vào thành Vương Xá khất thực. Sau khi thọ thực xong, Ngài thu dọn y bát, rửa chân tay rồi vắt tọa cụ lên vai đi đến khu vườn của ngoại đạo trong rừng Khổng Tước.[2]
Tại khu vườn của ngoại đạo trong rừng Khổng Tước, có ngoại đạo tên là Tiễn-mao[3] là bậc tông chủ danh đức được mọi người kính trọng tôn làm thầy, có tiếng tăm lớn, thống lãnh đồ chúng đông đảo, được năm trăm đồng đạo quý kính. Vị này đang ở giữa đại chúng náo nhiệt, nói chuyện lớn tiếng, huyên thuyên những chuyện phù phiếm, vô nghĩa[4] như: Chuyện vua chúa, chuyện giặc cướp, chuyện đấu tranh, chuyện ăn uống, chuyện y phục, chuyện phụ nữ, chuyện con gái, chuyện dâm nữ, chuyện thế gian, chuyện đồng trống, chuyện biển cả, chuyện nước, chuyện dân... họ cùng nhau nhóm họp luận bàn về những chuyện phù phiếm vô nghĩa như vậy.
Tiễn-mao thấy Phật từ xa đến, liền ra lệnh cho đồ chúng của mình: “Các ông hãy giữ yên lặng. Người đang đến kia là Sa-môn Cù-đàm. Đồ chúng của ông ấy yên lặng, thường ưa thích sự yên lặng, khen ngợi sự yên lặng. Nếu ông ấy thấy chúng ta yên lặng, có thể sẽ đến thăm.” Tiễn-mao bảo mọi người yên lặng rồi chính mình cũng ngồi yên lặng. Đức Thế Tôn đi đến chỗ ngoại đạo Tiễn-mao. Tiễn-mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai rồi chắp tay hướng về đức Phật thưa rằng:
Thật quý hóa thay, thưa Sa-môn Cù-đàm! Đã lâu rồi Sa-môn Cù-đàm không đến đây, xin mời Ngài ngồi tòa này.
Thế Tôn liền ngồi xuống tòa mà Tiễn-mao đã soạn sẵn. Cùng chào hỏi nhau xong, Tiễn-mao ngồi xuống một bên. Thế Tôn hỏi:
Ưu-đà-di! Các ông vừa bàn luận những gì? Do việc gì mà cùng ngồi nhóm họp ở đây?
Tiễn-mao thưa:
Thưa Cù-đàm! Xin bỏ qua vấn đề này vì những điều bàn luận ấy chẳng có ý nghĩa gì cả. Sa-môn Cù-đàm nếu muốn nghe những điều ấy thì để sau này nghe cũng không khó gì.
Thế Tôn hỏi như vậy ba lần:
Ưu-đà-di! Các ông vừa bàn luận những gì? Do việc gì mà cùng ngồi nhóm họp ở đây?
Tiễn-mao cũng đáp lại ba lần rằng:
Thưa Cù-đàm! Xin bỏ qua vấn đề này vì những điều bàn luận ấy chẳng có ý nghĩa gì cả. Sa-môn Cù-đàm nếu muốn nghe những điều ấy thì để sau này nghe cũng không khó gì. Thế nhưng, Sa-môn Cù-đàm đã ba lần nói muốn nghe, vậy nay tôi sẽ nói.
Thưa Cù-đàm! Chúng tôi với số đông các vị Phạm chí nước Câu-tát-la cùng nhóm họp ở giảng đường Câu-tát-la[5] và bàn luận như vầy: Thật tốt đẹp và lợi ích thay cho dân nước Ương-già Ma-kiệt-đà![6] Thật tốt đẹp và lợi ích thay cho người nước Ương-già Ma-kiệt-đà! Vì có chúng ruộng phước lớn cùng an cư mùa mưa tại thành Vương Xá này, như là ngài Bất-lan-ca-diếp.[7] Vì sao như vậy? Thưa Cù-đàm! Ngài Bất-lan-ca-diếp là bậc Tông chủ danh đức, làm thầy mọi người, có tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, thống lãnh đồ chúng lớn, được năm trăm đồng đạo quý kính, cùng an cư mùa mưa ở thành Vương Xá này. Các ngài Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi tử,[8] Sa-nhã Tỳ-la-trì tử,[9] Ni-kiền Thân
Tử,[10] Ba-phú Ca-chiên,[11] A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lợi[12] cũng đều an cư mùa mưa ở thành Vương Xá này.
[0782a07] Thưa Cù-đàm! Ngài A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lợi là một vị Tông chủ danh đức, làm thầy mọi người, có tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, thống lãnh đồ chúng lớn, được năm trăm đồng đạo tôn trọng, cùng an cư mùa mưa ở thành Vương Xá này.
Vừa rồi, chúng tôi cũng bàn đến Sa-môn Cù-đàm, rằng: “Sa-môn Cù-đàm này là bậc Tông chủ danh đức, làm thầy mọi người, có tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, thống lãnh đại chúng Tỳ-kheo, được hết thảy một nghìn hai trăm năm mươi vị đều tôn trọng, cũng cùng an cư mùa mưa tại thành Vương Xá này.”
Thưa Cù-đàm! Chúng tôi lại nghĩ: “Nay trong các Sa-môn, Phạm chí được tôn sùng này thì ai là người được đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự? Ai là người không bị đệ tử dùng pháp mắng nhiếc để mắng nhiếc, cũng không bị đệ tử chất vấn: ‘Điều này hoàn toàn không thể có, không tương ưng, không chính đáng.’ Họ nói như vậy rồi liền bỏ đi.”
Thưa Cù-đàm! Chúng tôi lại nghĩ: “Bất-lan Ca-diếp này không được đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, lại bị đệ tử dùng pháp mắng nhiếc để mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử chất vấn ông ấy: ‘Điều này không được, điều này không tương ưng, điều này không chính đáng.’ Họ nói như vậy rồi liền bỏ đi.”
Thưa Cù-đàm! Trước đây, Bất-lan Ca-diếp nhiều lần ở giữa chúng đệ tử chỉ tay quát lớn rằng: “Các ông hãy im đi! Không ai đến hỏi việc các ông. Người ta đến hỏi việc tôi. Các ông không thể giải quyết được việc này, chỉ có tôi mới có thể giải quyết được việc này.” Thế mà ngay đó, chúng đệ tử lại bàn luận việc khác, không đợi thầy mình nói xong vấn đề.
Thưa Cù-đàm! Chúng tôi lại nghĩ: “Như vậy, Bất-lan Ca-diếp này không được đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, mà bị đệ tử dùng pháp mắng nhiếc để mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử chất vấn ông ấy: ‘Điều này không thể được, không tương ưng, không chính đáng’, rồi thì bỏ đi.” Đối với các ông Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi tử, Sa-nhã Tì-la-trì tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phú Cachiên, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lợi thì cũng như vậy. Thưa Cù-đàm! Chúng tôi lại nghĩ như vầy: “A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lợi này không được đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, mà bị đệ tử dùng pháp mắng nhiếc để mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử chất vấn ông ấy: ‘Điều này không thể được, điều này không tương ưng, điều này không chính đáng.’ Họ nói như vậy rồi liền bỏ đi.”
Thưa Cù-đàm! Trước đây, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lợi đã nhiều lần ở giữa chúng đệ tử chỉ tay quát lớn rằng: “Các ông hãy im đi! Không ai đến hỏi việc các ông. Người ta đến hỏi việc tôi. Các ông không thể giải quyết được việc này, chỉ có tôi mới có thể giải quyết được việc này.” Thế mà ngay đó, chúng đệ tử lại bàn luận việc khác, không đợi thầy mình nói xong vấn đề.
[0782b09] Thưa Cù-đàm! Chúng tôi lại nghĩ: “Như vậy, A-di-đa Kê-xákiếm-bà-lợi này không được đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, mà bị đệ tử dùng pháp mắng nhiếc để mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử chất vấn ông ấy rằng: ‘Điều này không thể được, không tương ưng, không chính đáng.’ Họ nói rồi liền bỏ đi.”
Thưa Cù-đàm! Chúng tôi lại nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm này được đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, chưa từng bị đệ tử dùng pháp mắng nhiếc để mắng nhiếc, cũng không bị đệ tử chất vấn: ‘Điều này không thể, không tương ưng, không chính đáng.’ Không ai nói như vậy rồi bỏ đi.”
Thưa Cù-đàm! Trước đây, Sa-môn Cù-đàm đã nhiều lần nói pháp cho đại chúng, vô lượng trăm nghìn người vây quanh. Lúc ấy có một người ngủ ngáy thì bị người kế bên nhắc rằng: “Đừng có ngủ ngáy! Ông không muốn nghe Thế Tôn nói pháp vi diệu như Cam lộ sao?” Người đó liền im lặng, không ngủ ngáy nữa.
Thưa Cù-đàm! Chúng tôi lại nghĩ: “Như vậy, Sa-môn Cù-đàm được đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, không hề bị đệ tử dùng pháp mắng nhiếc để mắng nhiếc, cũng không bị đệ tử chất vấn thầy rằng: ‘Điều đó không thể, không tương ưng, không chính đáng.’ Không ai nói như vậy rồi bỏ đi.” Thế Tôn nghe xong liền hỏi Tiễn-mao:
Ưu-đà-di! Ông thấy Ta có bao nhiêu pháp khiến cho các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời?
Tiễn-mao đáp:
Thưa Cù-đàm! Tôi thấy Cù-đàm có năm pháp khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ngài không rời. Đó là năm pháp nào? Sa-môn Cù-đàm biết đủ với tấm y thô xấu, khen ngợi sự biết đủ với tấm y thô xấu. Nếu Sa-môn Cù-đàm biết đủ với tấm y thô xấu, khen ngợi sự biết đủ với tấm y thô xấu thì đó là pháp thứ nhất mà tôi thấy ở Sa-môn Cù-đàm khiến cho hàng đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ngài không rời.
Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm biết đủ với thức ăn đạm bạc, khen ngợi sự biết đủ với thức ăn đạm bạc. Nếu Sa-môn Cù-đàm biết đủ với thức ăn đạm bạc, khen ngợi sự biết đủ với thức ăn đạm bạc thì đó là pháp thứ hai mà tôi thấy ở Sa-môn Cù-đàm khiến cho hàng đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ngài không rời.
[0782c07] Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm ăn ít, khen ngợi sự ăn ít. Nếu Sa-môn Cù đàm ăn ít, khen ngợi sự ăn ít thì đó là pháp thứ ba mà tôi thấy ở Sa-môn Cùđàm khiến cho hàng đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ngài không rời.
Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm biết đủ về chỗ nghỉ ngơi với giường nệm thô sơ, khen ngợi sự biết đủ về chỗ nghỉ ngơi với giường nệm thô sơ. Nếu Sa-môn Cù-đàm biết đủ về chỗ nghỉ ngơi với giường nệm thô sơ, khen ngợi sự biết đủ về chỗ nghỉ ngơi với giường nệm thô sơ thì đó là pháp thứ tư mà tôi thấy ở Samôn Cù-đàm khiến cho hàng đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ngài không rời.
Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm tĩnh tọa và khen ngợi sự tĩnh tọa. Nếu Sa-môn Cù-đàm tĩnh tọa và khen ngợi sự tĩnh tọa thì đó là pháp thứ năm mà tôi thấy ở Sa-môn Cù-đàm, khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ngài không rời. Đó là năm pháp mà tôi thấy ở Sa-môn Cù-đàm khiến cho hàng đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ngài không rời.
Đức Thế Tôn bảo:
– Này Ưu-đà-di! Không phải do năm pháp này khiến Ta được các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời. Này Ưu-đà-di! Tấm y Ta mặc được cắt may bởi con dao Thánh[13] và nhuộm màu sắc thô xấu. Với tấm y Thánh nhuộm màu sắc thô xấu như vậy, này Ưu-đà-di, đệ tử của Ta có người trọn đời chỉ đắp y phấn tảo do người ta vứt bỏ và cũng nói: “Đức Thế Tôn của ta biết đủ với tấm y thô xấu và khen ngợi sự biết đủ với tấm y thô xấu.” Này Ưu-đà-di! Nếu đệ tử của Ta nhân nơi sự biết đủ về tấm y thô xấu mà khen ngợi Ta thì người ấy nhân việc này đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, cũng không theo Ta.
Lại nữa, này Ưu-đà-di! Ta ăn thực phẩm nấu chín, không còn vỏ, nhiều mùi vị trộn lẫn. Đệ tử của Ta có người trọn đời khất thực thức ăn mà người ta đã bỏ và cũng nói: “Thế Tôn của ta biết đủ với thức ăn đạm bạc và khen ngợi sự biết đủ về thức ăn đạm bạc.” Này Ưu-đà-di! Nếu đệ tử của Ta nhân nơi sự biết đủ về thức ăn đạm bạc mà khen ngợi Ta thì người ấy nhân việc này đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, cũng không theo Ta.
[0783a04] Lại nữa, này Ưu-đà-di! Lượng thực phẩm Ta ăn chỉ bằng một trái tỳ-la[14] hoặc nửa trái tỳ-la, nhưng đệ tử của Ta có người ăn chỉ bằng một câu-tha[15] hoặc nửa câu-tha và cũng nói: “Thế Tôn của ta ăn ít, khen ngợi sự ăn ít.” Này Ưu-đà-di! Nếu đệ tử của Ta nhân nơi sự ăn ít mà khen ngợi Ta thì người ấy nhân việc này đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, cũng không theo Ta.
Lại nữa, này Ưu-đà-di! Có khi Ta ở lầu cao hoặc nhà gác, nhưng đệ tử của Ta có người trải qua chín mười tháng, suốt đêm ngủ ngoài trời và cũng nói: “Thế Tôn của ta biết đủ về chỗ nghỉ ngơi với giường nệm thô sơ, khen ngợi sự biết đủ về chỗ nghỉ ngơi với giường nệm thô sơ.” Này Ưu-đà-di! Nếu đệ tử Ta nhân nơi sự biết đủ về chỗ nghỉ ngơi với giường nệm thô sơ mà khen ngợi Ta thì người ấy nhân việc này đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, cũng không theo Ta.
Lại nữa, này Ưu-đà-di! Ta thường sống trong sự náo nhiệt giữa chúng Tỳkheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Thế nhưng, đệ tử của Ta có người qua nửa tháng mới nhập chúng một lần vì pháp thanh tịnh[16] và cũng nói: “Thế Tôn của ta tĩnh tọa và khen ngợi sự tĩnh tọa.” Này Ưu-đà-di! Nếu đệ tử Ta nhân nơi sự tĩnh tọa mà khen ngợi Ta thì người ấy nhân việc này đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, cũng không theo Ta.
Này Ưu-đà-di! Không phải do năm pháp ấy khiến Ta được hàng đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời. Này Ưu-đàdi! có năm pháp khiến Ta được các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời. Đó là năm pháp nào?
Này Ưu-đà-di! Ta có đệ tử vì giới vô thượng[17] nên khen ngợi Ta rằng: “Thế Tôn có giới, có đại giới, lời nói đúng như việc làm, việc làm đúng như lời nói.” Này Ưu-đà-di! Nếu đệ tử Ta nhân giới vô thượng mà khen ngợi Ta thì người ấy nhân việc này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời.
Lại nữa, này Ưu-đà-di! Ta có đệ tử vì trí tuệ vô thượng[18] nên khen ngợi Ta rằng: “Thế Tôn có trí tuệ, trí tuệ vô cùng rộng lớn. Nếu có ai đến bàn luận hay đối đáp cũng đều bị Ngài khuất phục. Đó là đối với giáo pháp, họ không thể nói, đối với điều chính mình nói, họ cũng không thể nói.” Này Ưu-đà-di! Nếu đệ tử nhân nơi trí tuệ vô thượng mà khen ngợi Ta thì người ấy nhân việc này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời.
[0783b04] Lại nữa, này Ưu-đà-di! Ta có đệ tử vì sự thấy biết vô thượng[19] nên khen ngợi Ta rằng: “Thế Tôn biết khắp chứ không phải không biết, thấy khắp chứ không phải không thấy. Ngài nói pháp cho đệ tử có nhân chứ không phải không có nhân, có duyên chứ không phải không có duyên, có thể đáp chứ không phải không thể đáp, có xả ly chứ không phải không xả ly.” Này Ưu-đàdi! Nếu đệ tử Ta nhân sự thấy biết vô thượng mà khen ngợi Ta thì người ấy nhân việc này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời.
Lại nữa, này Ưu-đà-di! Ta có đệ tử vì nhàm chán mũi tên ái dục mà đến hỏi Ta về Khổ ấy là khổ, Tập ấy là tập, Diệt ấy là diệt, Đạo ấy là đạo. Ta liền trả lời về khổ ấy là khổ, tập ấy là tập, diệt ấy là diệt, dạo ấy là đạo. Này Ưu-đà-di! Nếu có đệ tử đến hỏi Ta, được Ta trả lời hợp ý, khiến họ được hoan hỷ thì người ấy nhân việc này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời.
Lại nữa, này Ưu-đà-di! Ta vì các đệ tử mà thuyết pháp để họ chứng đắc và minh đạt Túc mạng trí thông, chứng đắc và minh đạt Lậu tận trí thông. Này Ưu-đà-di! Nếu đệ tử Ta ở trong giáo pháp được thọ nhận, được dìu dắt, được đến bờ kia, không nghi ngờ, không nhầm lẫn, ở trong thiện pháp không có do dự thì người ấy nhân việc này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời.
Này Ưu-đà-di! Đó là năm pháp mà Ta có thể khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo Ta không rời.
Bấy giờ, Tiễn-mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai phải, chắp tay hướng về đức Phật và bạch:
– Thưa Cù-đàm! Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu! Ngài khéo nói những điều vi diệu, như Cam lộ thấm nhuần thân thể con. Bạch Cù-đàm! Giống như trận mưa lớn, cõi đất này từ cao đến thấp đều được thấm nhuần khắp cả, Sa-môn Cù-đàm đã vì chúng con mà nói ra những điều vi diệu, như Cam lộ thấm nhuần thân thể chúng con thì cũng như vậy. Bạch Thế Tôn! Con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ! Con đã biết. Thưa Ngài! Hôm nay con nguyện quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, cúi mong Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc! Kể từ hôm nay, con xin nguyện quy y Tam bảo cho đến khi qua đời!
Đức Phật dạy như vậy, ngoại đạo Tiễn-mao nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Quyển 57. Nguyên tác: Tiễn-mao kinh, thượng 箭毛經, 上 (T.01. 0026.207. 0781b27). Tham chiếu: M. 77, Mahāsakuludāyi Sutta (Đại kinh Sakuludāyi).
[2] Nguyên tác: Khổng Tước lâm dị học viên (孔雀林異學園). Tham chiếu: M. 77: Moranivāpa paribbājakārāma (Moranivāpa, tu viện của các du sĩ). Theo DPPN, tu viện này nằm trong Trúc Lâm, thuộc thành Vương Xá.
[3] Tiễn-mao (箭毛), có khả năng dịch nghĩa từ Sakuludāyi, vì Sakunika có nghĩa là người săn bắn chim. Ở đoạn sau được gọi Ưu-đà-di (優陀夷). Theo M. 77 là Sakuludāyi và kể thêm tên 2 du sĩ khác gồm Varadhara và Anugāra.
[4] Nguyên tác: Súc sanh luận (畜生論, Tiracchānakathā). Xem chú thích 5, kinh số 25, tr. 156.
[5] Câu-tát-la học đường (拘薩羅學堂). M. 77: Kutūhalasāla (Nghị luận đường).
[6] Ương-già Ma-kiệt-đà (鴦伽摩竭陀) gồm 2 nước Aṅga và Magadhā, lúc này 2 nước Ương-già và Makiệt-đà đang liên minh chính trị nên gọi chung như vậy.
[7] Bất-lan Ca-diếp (不蘭迦葉, Pūrāṇa Kassapa) và 5 vị nữa là Makkhali Gosāla, Sañjaya Belaṭṭhiputta, Nigaṇṭha Nātaputta, Pakudha Kaccāyana, Ajita Kesakambala được mệnh danh là Lục sư ngoại đạo.
[8] Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi tử (摩息加利瞿舍利子, Makkhali Gosāla), một trong Lục sư ngoại đạo với thuyết Luân hồi tịnh hóa (Saṃsārasuddhi), chủ trương Cực đoan định mạng luận, cho rằng hành vi vận mạng của con người đều do phép tắc tự nhiên chi phối, không phải con người muốn là được. Khi vận mạng con người đã định hình giải thoát thì tự nhiên được giải thoát.
[9] Sa-nhã Tỳ-la-trì tử (娑若鞞羅遲子, Sañjaya Belaṭṭhiputta), một trong Lục sư ngoại đạo, với thuyết Ngụy biện. Ông không có một chủ trương nhất định nào. Lối ngụy biện này không dẫn tới một giá trị thực hành nào mà chỉ dùng để lý luận suông, Tôn giả Xá-lợi-phất (舍利弗, Sāriputta) và Đại Mục-kiềnliên (大目犍連, Mahāmoggallāna) trước kia cũng là đệ tử của vị này cật lực bài xích tất cả luân lý đạo đức, mà theo ông, nó chỉ là những điều khắt khe vô lý.
[10] Ni-kiền Thân Tử (尼揵親子, Nigaṇṭha Nātaputta): Vị này chủ trương thuyết Lõa thể với 4 cấm giới, là bậc thầy danh tiếng đã khai sáng Kỳ-na giáo (Jainism). Giáo lý của họ được xây dựng trên hai cơ sở nhị nguyên là sanh mạng (jīva) và phi sanh mạng (ajīva). Về phương diện thực tiễn, họ chủ trương thân hành nghiệp, mọi nghiệp đều bắt nguồn từ thân và diệt nghiệp cũng từ thân nên họ chủ trương khổ hạnh cực đoan.
[11] Ba-phú Ca-chiên (波復迦旃, Pakudha Kaccāyana), một trong Lục sư ngoại đạo với thuyết Bảy thân bất hoại, chủ trương Cực đoan thường kiến luận phản đối phái Cực đoan đoạn kiến luận của Ajita Kesakambala. Ông lập thuyết tâm-vật nhị nguyên bất diệt, cho rằng con người do 7 yếu tố: Đất, nước, gió, lửa, khổ, vui và sinh mạng hợp thành. Bản chất của 7 yếu tố này không vì sống chết mà sinh diệt theo.
[12] A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lợi (阿夷哆雞舍劍婆利, Ajita Kesakambala), một trong Lục sư ngoại đạo, với thuyết Đoạn diệt (Uccheda). Chủ trương Cực đoan định mạng luận, cho rằng con người do 4 yếu tố: Đất, nước, lửa, gió hợp thành, ngoài vật chất ra không có sinh mạng. Theo ông, chết là hoại diệt, cho nên mục đích của đời sống là hưởng thụ thú vui hiện tại.
[13] Nguyên tác: Thánh lực (聖力). Bản Tống, Nguyên, Minh ghi là Thánh đao (聖刀).
[14] Tỳ-la (鞞羅, beluva), một loại trái cây ăn được với hình dáng to như quả bưởi, tên khoa học là Aegle Marmelos.
[15] Câu-tha (拘拖, kosāka): Cái chén nhỏ, cái bát nhỏ.
[16] Pháp thanh tịnh (法清淨) chỉ cho Giới bổn Tỳ-kheo. M. 77: Pātimokkhuddesāya.
[17] Vô thượng giới (無上戒). Pāli: Adhisīla (tăng thượng giới).
[18] Vô thượng trí tuệ (無上智慧). M. 77: Adhipaññā (tăng thượng tuệ).
[19] Vô thượng tri kiến (無上知見). M. 77: Abhikkanta ñāṇadassana (tri kiến siêu việt).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.