Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào không nhổ sạch năm thứ cấu uế trong tâm, không cởi bỏ năm sự trói buộc trong tâm thì Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni đó được nói đến với pháp thoái thất hoàn toàn.
Thế nào là không nhổ sạch năm thứ cấu uế trong tâm? Nếu người nào có sự nghi ngờ đối với Thế Tôn, tâm do dự, tâm không tỏ ngộ, tâm không quyết đoán, tâm không tịnh tín; 2 nếu người nào có sự nghi ngờ đối với Thế Tôn, tâm do dự, tâm không tỏ ngộ, tâm không quyết đoán, tâm không tịnh tín thì đó được gọi là không nhổ sạch tâm cấu uế thứ nhất, đối với Thế Tôn. Đối với Giáo pháp, đối với Giới luật, đối với Giáo huấn cũng đều như vậy. Đối với các bậc đồng Phạm hạnh nào được Thế Tôn khen ngợi mà vị này mắng chửi, khinh thường, xúc não, xâm hại, tâm không tỏ ngộ, tâm không quyết đoán, tâm không tịnh tín thì được gọi là không nhổ sạch tâm cấu uế thứ năm, nghĩa là đối với các bậc đồng Phạm hạnh.
Thế nào là không cởi bỏ năm sự trói buộc trong tâm? Nếu người nào mà thân chưa lìa nhiễm ô, chưa lìa tham dục, chưa lìa tham ái, chưa lìa khát khao;3 nếu người nào mà thân chưa lìa nhiễm ô, chưa lìa tham dục, chưa lìa tham ái, chưa lìa khát khao thì tâm của người đó không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là không cởi bỏ được sự trói buộc thứ nhất trong tâm, nghĩa là đối với thân.
Lại nữa, [nếu người nào] mà đối với dục chưa lìa nhiễm ô, chưa lìa tham dục, chưa lìa tham ái, chưa lìa khát khao; nếu người nào mà đối với dục chưa lìa nhiễm ô, chưa lìa tham dục, chưa lìa tham ái, chưa lìa khát khao thì tâm của người đó không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là không cởi bỏ được sự trói buộc thứ hai trong tâm, nghĩa là đối với dục.
[0780c08] Lại nữa, nếu người nào mà đối với những lời giảng dạy tương ưng với giáo nghĩa của bậc Thánh, nhu hòa, không nghi hoặc; nghĩa là những lời giảng dạy về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về giải thoát tri kiến, về tổn giảm, không tụ hội, ít muốn, biết đủ, đoạn dứt, vô dục, diệt tận, tĩnh tọa, duyên khởi, đúng như lời giảng dạy của Tỳ-kheo, của Sa-môn, thế nhưng tâm của người đó không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là không cởi bỏ được sự trói buộc thứ ba trong tâm, nghĩa là đối với những lời giảng dạy.
Lại nữa, [nếu người nào] mà thường xuyên nhóm họp đạo tục lẫn lộn, cười đùa ồn ào, kiêu ngạo, không chịu học hỏi; nếu người nào mà thường xuyên nhóm họp đạo tục lẫn lộn, cười đùa ồn ào, kiêu ngạo, không chịu học hỏi thì tâm của người đó không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là không cởi bỏ được sự trói buộc thứ tư trong tâm, nghĩa là đối với việc nhóm họp.
Lại nữa, [nếu người nào] vì có một ít sở đắc đã dừng lại giữa chừng, không mong cầu thăng tiến; nếu người nào vì có một ít sở đắc đã dừng lại giữa chừng, không mong cầu thăng tiến thì tâm của người đó không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không quyết đoán, không tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là không cởi bỏ được sự trói buộc thứ năm trong tâm, nghĩa là đối với việc thăng tiến.
Nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào không nhổ sạch năm thứ cấu uế trong tâm, không cởi bỏ năm thứ trói buộc trong tâm thì Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni ấy được nói đến với pháp thoái thất hoàn toàn.
Nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào khéo nhổ sạch năm thứ cấu uế trong tâm, khéo cởi bỏ năm thứ trói buộc trong tâm thì Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni ấy được nói đến với pháp thanh tịnh.
Thế nào là khéo nhổ sạch năm thứ cấu uế trong tâm? Nếu người nào mà không có sự nghi ngờ đối với Thế Tôn, vị ấy không còn do dự, có tâm tỏ ngộ, tâm quyết đoán và tâm tịnh tín; nếu người nào mà không có sự nghi ngờ đối với Thế Tôn, vị ấy không còn do dự, có tâm tỏ ngộ, tâm quyết đoán và tâm tịnh tín thì đó gọi là khéo nhổ sạch cấu uế thứ nhất trong tâm, nghĩa là đối với Thế Tôn. Đối với Giáo pháp, đối với Giới luật và đối với Giáo huấn thì cũng như vậy.
Đối với các bậc đồng Phạm hạnh được Thế Tôn khen ngợi mà vị ấy không nổi sân, không mắng chửi, không khinh thường, không xúc não, không xâm hại, có tâm tỏ ngộ, tâm quyết đoán và tâm tịnh tín thì đó gọi là đã nhổ sạch tâm cấu uế thứ năm, nghĩa là đối với các bậc đồng Phạm hạnh.
[0781a06] Thế nào là khéo cởi bỏ năm thứ trói buộc trong tâm? Nếu người nào mà thân đã lìa nhiễm ô, đã lìa tham dục, đã lìa tham ái, đã lìa khát khao; nếu người nào mà thân đã lìa nhiễm ô, đã lìa tham dục, đã lìa tham ái, đã lìa khát khao thì tâm của người đó được thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là khéo cởi bỏ được sự trói buộc thứ nhất trong tâm, nghĩa là đối với thân.
Lại nữa, [nếu người nào mà] đối với dục đã lìa nhiễm ô, đã lìa tham dục, đã lìa tham ái, đã lìa khát khao; nếu người nào mà đối với dục đã lìa nhiễm ô, đã lìa tham dục, đã lìa tham ái, đã lìa khát khao thì tâm người đó được thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là khéo cởi bỏ được sự trói buộc thứ hai trong tâm, nghĩa là đối với dục.
Lại nữa, nếu người nào mà đối với những lời giảng dạy tương ưng với giáo nghĩa của bậc Thánh, nhu hòa, không nghi hoặc; nghĩa là những lời giảng dạy về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về giải thoát tri kiến, về tổn giảm, không tụ hội, ít muốn, biết đủ, đoạn dứt, vô dục, diệt tận, tĩnh tọa, duyên khởi, đúng như lời giảng dạy của Tỳ-kheo, của Sa-môn thì người đó có tâm thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là khéo cởi bỏ được sự trói buộc thứ ba trong tâm, nghĩa là đối với lời giảng dạy.
Lại nữa, [nếu người nào] mà không thường xuyên nhóm họp đạo tục lẫn lộn, không cười đùa ồn ào, không kiêu ngạo và chịu học hỏi; nếu người nào mà không thường xuyên nhóm họp đạo tục lẫn lộn, không cười đùa ồn ào, không kiêu ngạo và chịu học hỏi thì tâm của người đó sẽ thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là khéo cởi bỏ được sự trói buộc thứ tư trong tâm, nghĩa là đối với việc không nhóm họp.
Lại nữa, [nếu người nào] dù có một ít sở đắc nhưng không dừng lại giữa chừng và luôn mong cầu thăng tiến; nếu người nào dù có một ít sở đắc nhưng không dừng lại giữa chừng và luôn mong cầu thăng tiến thì tâm của người ấy thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền. Người mà tâm thú hướng, tịnh tín, an trụ, quyết đoán, tự mình tinh cần và nỗ lực tọa thiền thì gọi đó là khéo cởi bỏ được sự trói buộc thứ năm trong tâm, nghĩa là đối với sự thăng tiến.
Nếu có Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào khéo nhổ sạch năm thứ cấu uế trong tâm và khéo cởi bỏ năm thứ trói buộc trong tâm thì Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni ấy được nói đến với pháp thanh tịnh. Khi vị ấy an trú trong mười việc này rồi, lại phải tu tập thêm năm pháp.4
[0781b05] Đó là năm pháp nào? Là pháp dục định tâm thành tựu đoạn như ý túc,5 nương hạnh viễn ly, hạnh vô dục, hạnh tịch diệt, hạnh xả, hướng đến xuất ly.6 Pháp tu tinh tấn định,7 tu tâm định,8 tu tư duy định thành tựu đoạn như ý túc, 9 nương hạnh viễn ly, hạnh vô dục, hạnh tịch diệt, hạnh xả, hướng đến sự xuất ly. Thứ năm là pháp kiên trì, thành tựu pháp này nữa là mười lăm pháp.10 Khi đã thành tựu tự thân tác chứng11 thì đạt đến cái thấy hoàn toàn, đạt đến cái biết hoàn toàn, đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn, đến được cửa bất tử,12 gần gũi với Niết-bàn. Như Lai nói các trường hợp đó đều đi đến Niết-bàn. Ví như con gà mái đẻ mười trứng hoặc mười hai trứng, rồi tùy thời mà ấp ủ, tùy thời mà sưởi ấm, tùy thời mà chăm sóc; giả sử sau đó con gà mái này có chút lơ đễnh đi nữa, nhưng ở bên trong trứng, các gà con vẫn có thể búng chân hoặc dùng mỏ mổ vỡ vỏ trứng để thoát ra ngoài bình an, đó là con gà mái hạng nhất. Cũng vậy, Tỳ-kheo thành tựu pháp kiên trì này,... (cho đến) mười lăm pháp thì vị ấy thành tựu tự thân tác chứng, đạt đến cái thấy hoàn toàn, đạt đến cái biết hoàn toàn, đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn, đến được cửa bất tử, gần gũi với Niết-bàn. Như Lai nói các trường hợp đó đều đi đến Niết-bàn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.13
Chú Thích:
1 Nguyên tác: Tâm uế kinh 心穢經 (T.01. 0026.206. 0780b15). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.51.4. 0817a16); M. 16, Cetokhila Sutta (Kinh tư lượng); A. 5.205 - III. 248; A. 5.206 - III. 249; A. 9.71 - IV. 460; A. 9.72 - IV. 461; A. 9.82 - IV. 463; A. 9.92 - IV. 464; A. 10.14 - V. 17.
2 Nguyên tác: Bất khai ý, bất giải ý, ý bất tĩnh (不開意不解意意不靜). Tham chiếu: A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論 (T.26. 1536.12. 0416b29) ghi là tâm không ngộ nhập, tâm không quyết đoán, tâm không tịnh tín (不悟入無勝解無淨信). Ý bất tĩnh (意不靜) tức là tâm chưa thuần khiết, không trong sạch. Xem thêm M. 16: Nādhimuccati na sampasīdati (không quyết đoán, không có tịnh tín), HT. Thích Minh Châu dịch.
3 Bất ly nhiễm, bất ly dục, bất ly ái, bất ly khát (不離染, 不離欲, 不離愛, 不離渴). Tham chiếu: M. 16: Avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho (không lìa tham, không lìa dục, không lìa yêu thương, không lìa khao khát, không lìa đam mê, không lìa tham ái)
4 Ngũ pháp (五法) gồm 4 như ý túc và yếu tố thứ 5 là “kham nhậm” (堪任). Theo Chánh Pháp Hoa kinh từ điển (正法華經詞典) của Tân Đảo Tĩnh Chí (辛嶋靜志, Seishi Karashima), “kham nhậm” (堪任) có nghĩa là sự kiên trì, bền bỉ (sahanta). Yếu tố thứ 5 này trong M. 16 gọi là ussoḷhi (tinh cần, dõng mãnh).
5 Dục định như ý túc (欲定如意足).
6 Nguyên tác: Thú hướng phi phẩm (趣向非品). Theo A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論 (T.28. 1546.17. 0123a27): Thế gian là “pháp phẩm”, pháp này lìa thế gian nên gọi là “phi phẩm” (世是品法, 彼法離世名為非品). Lậu tận kinh 漏盡經 (T.01. 0026.10. 0432c19) gọi là “thú chí xuất yếu” (趣至 出要).
7 Tinh tấn định như ý túc (精進定如意足).
8 Tâm định như ý túc (心定如意足).
9 Tư duy định như ý túc (思惟定如意足).
10 Nhổ sạch 5 thứ cấu uế trong tâm, cởi bỏ 5 sự trói buộc trong tâm, tu 4 như ý túc và kiên trì bền bĩ nữa là 15 pháp.
11 Nguyên tác: Thành tựu tự thọ (成就自受) chỉ cho tự mình thực hành rồi tự mình thọ nhận (自己作 自己受).
12 Nguyên tác: Cam lộ môn (甘露門): Cửa bất tử, cửa giải thoát, Niết-bàn.
13 Bản Hán, hết quyển 56
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.