Viện Nghiên Cứu Phật Học

205. KINH NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ[1]

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

  • Ta đã từng nói về năm hạ phần kiết sử,[2] các thầy có thọ trì chăng?

Các Tỳ-kheo im lặng không trả lời. Thế Tôn lại hỏi đến lần thứ ba:

  • Như Lai đã từng nói về năm hạ phần kiết sử, các thầy có thọ trì chăng?

Đến lần thứ ba, các Tỳ-kheo cũng vẫn im lặng, không trả lời.

Bấy giờ, Tôn giả Man Đồng Tử[3] cũng có mặt trong chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai phải, chắp tay hướng Phật thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Ngài đã từng nói về năm hạ phần kiết sử và con có thọ trì.

Thế Tôn hỏi:

  • Này Man Đồng Tử! Ta đã từng nói về năm hạ phần kiết sử và thầy thọ trì thế nào?

Tôn giả Man Đồng Tử đáp:

  • Thế Tôn đã nói tham dục là hạ phần kiết sử thứ nhất, con thọ trì như vậy; rồi đến sân, thân kiến, giới cấm thủ và nghi là hạ phần kiết sử thứ năm, Thế Tôn nói như vậy và con đã thọ trì như vậy.

Thế Tôn khiển trách:

  • Này Man Đồng Tử! Sao thầy lại thọ trì năm hạ phần kiết sử Ta đã dạy như vậy? Này Man Đồng Tử! Thầy nghe từ miệng ai mà lại thọ trì năm hạ phần kiết sử Ta đã dạy như vậy? Này Man Đồng Tử! Lẽ nào không có nhiều ngoại đạo đến và dùng ví dụ đứa trẻ sơ sinh để chất vấn, chỉ trích thầy chăng? Này Man Đồng Tử, như trẻ mới sanh, thân thể mềm yếu, nằm ngửa mà ngủ, không có tưởng về tham dục, há lại bị trói buộc bởi tâm tham dục ư? Nhưng do kiết sử tiềm phục trong bản tính của nó nên nói là tham dục tùy miên[4] vậy. Này Man Đồng Tử, như trẻ mới sanh, thân thể mềm yếu, nằm ngửa mà ngủ, không có ý tưởng về chúng sanh, há lại bị trói buộc bởi sân ư? Nhưng do kiết sử tiềm phục trong bản tính của nó nên nói là sân tùy miên[5] vậy. Này Man Đồng Tử, như trẻ mới sanh, thân thể mềm yếu, nằm ngửa mà ngủ, không có ý tưởng về tự thân, há lại bị trói buộc bởi thân kiến chăng? Nhưng do kiết sử tiềm phục trong bản tính của nó nên nói là thân kiến tùy miên[6] vậy. Man Đồng Tử, như trẻ mới sanh, thân thể mềm yếu, nằm ngửa mà ngủ, không có ý tưởng về giới, há lại bị trói buộc bởi giới cấm thủ chăng? Nhưng do kiết sử tiềm phục trong bản tính của nó nên nói là giới cấm thủ tùy miên[7] vậy. Man Đồng Tử, như trẻ mới sanh, thân thể mềm yếu, nằm ngửa mà ngủ, không có ý tưởng về pháp, há lại bị trói buộc bởi nghi chăng? Nhưng do kiết sử tiềm phục trong bản tính của nó nên nói là nghi tùy miên[8] vậy. Này Man Đồng Tử, lẽ nào không có nhiều ngoại đạo đến chất vấn và chỉ trích thầy bằng ví dụ về đứa trẻ sơ sinh ư?

Bấy giờ, Tôn giả Man Đồng Tử bị Thế Tôn quở trách trước mặt, trong lòng buồn bã, cúi đầu im lặng, không lời biện bạch, lộ vẻ suy tư.[9]

[0779a09] Sau khi quở trách Tôn giả Man Đồng Tử xong, Thế Tôn ngồi yên lặng. Lúc ấy, Tôn giả A-nan cầm quạt đứng sau quạt hầu Phật, liền chắp tay thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Nay thật đúng thời. Bạch Thiện Thệ! Nay thật đúng lúc. Nếu Thế Tôn vì các Tỳ-kheo mà nói về năm hạ phần kiết sử, sau khi nghe Thế Tôn giảng dạy xong, các Tỳ-kheo sẽ khéo thọ khéo trì.

Thế Tôn bảo:

  • Này A-nan, hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ!

Tôn giả A-nan bạch:

  • Thưa vâng, con xin vâng lời lắng nghe!

Đức Phật dạy:

  • Này A-nan! Có người bị tham dục trói buộc, khi tâm tham dục sanh khởi lại không biết đúng như thật để xả ly. Do không biết đúng như thật để xả ly nên tham dục càng tăng mạnh, không thể chế ngự được, đây là hạ phần kiết sử.

Này A-nan! Có người bị sân trói buộc, khi tâm sân sanh khởi lại không biết đúng như thật để xả ly. Do không biết đúng như thật để xả ly nên sân càng tăng mạnh, không thể chế ngự được, đó là hạ phần kiết sử.

Này A-nan! Có người bị thân kiến trói buộc, khi tâm thân kiến sanh khởi lại không biết đúng như thật để xả ly. Do không biết đúng như thật để xả ly nên thân kiến càng tăng mạnh, không thể chế ngự được, đó là hạ phần kiết sử.

Này A-nan! Có người bị giới cấm thủ trói buộc, khi tâm giới cấm thủ sanh khởi lại không biết đúng như thật để xả ly. Do không biết đúng như thật để xả ly nên giới cấm thủ càng tăng mạnh, không thể chế ngự được, đó là hạ phần kiết sử.

Này A-nan! Có người bị nghi trói buộc, khi tâm nghi sanh khởi lại không biết đúng như thật để xả ly. Do không biết đúng như thật để xả ly nên nghi càng lớn mạnh, không thể chế ngự được, đó là hạ phần kiết sử.

Này A-nan, nếu theo con đường này, theo phương pháp này[10] thì đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử. Nếu ai không theo con đường này, không theo phương pháp này mà đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử thì trường hợp này không thể xảy ra.

Này A-nan, cũng như có người muốn tìm lõi cây,[11] vì muốn có lõi cây nên người ấy vác búa vào rừng. Người ấy nhìn thấy một cội cây trưởng thành với đầy đủ rễ, thân, cành, lá và lõi. Nếu người ấy không chặt rễ, không chặt thân mà có được lõi cây để mang về thì trường hợp này không thể xảy ra. Cũng vậy, này A-nan, nếu theo con đường này, theo phương pháp này thì đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử. Nếu ai không theo con đường này, không theo phương pháp này mà đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử thì trường hợp này không thể xảy ra.

Này A-nan, nếu theo con đường này, theo phương pháp này thì đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử. Nếu ai theo con đường này, theo phương pháp này mà đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử thì trường hợp này nhất định xảy ra. Này A-nan, cũng như có người muốn tìm lõi cây, vì muốn có lõi cây nên người ấy vác búa vào rừng. Người ấy thấy một cội cây trưởng thành với đầy đủ rễ, thân, cành, lá và lõi. Nếu người ấy chặt rễ, chặt thân và lấy được lõi cây mang về thì trường hợp này nhất định xảy ra. Cũng vậy, này A-nan, nếu theo con đường này, theo phương pháp này thì đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử. Nếu ai theo con đường này, thực hành theo phương pháp này mà đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử thì trường hợp này nhất định xảy ra. 

[0779b12] Này A-nan, theo con đường nào, theo phương pháp nào để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử? Này A-nan, có người không bị tham dục trói buộc, nếu sanh khởi tham dục trói buộc thì liền biết đúng như thật để xả ly. Khi vị ấy biết đúng như thật để xả ly rồi thì tham dục trói buộc ấy liền diệt mất.

Này A-nan, có người không bị sân hận trói buộc, nếu sanh khởi sân hận trói buộc thì liền biết đúng như thật để xả ly. Khi vị ấy biết đúng như thật để xả ly rồi thì sân hận trói buộc ấy liền diệt mất.

Này A-nan, có người không bị thân kiến trói buộc, nếu sanh khởi thân kiến trói buộc thì liền biết đúng như thật để xả ly. Khi vị ấy biết đúng như thật để xả ly rồi thì thân kiến trói buộc ấy liền diệt mất.

Này A-nan, có người không bị giới cấm thủ trói buộc, nếu sanh khởi giới cấm thủ trói buộc thì liền biết đúng như thật để xả ly. Khi vị ấy biết đúng như thật để xả ly rồi thì giới cấm thủ trói buộc ấy liền diệt mất.

Này A-nan, có người không bị nghi trói buộc, nếu sanh khởi nghi trói buộc thì liền biết đúng như thật để xả ly. Khi vị ấy biết đúng như thật để xả ly rồi thì nghi trói buộc ấy liền diệt mất.

Này A-nan, đó chính là theo con đường này, thực hành theo phương pháp này để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.

Này A-nan, như sông Hằng-già, nước chảy tràn bờ, nếu có một người đến bên bờ, có việc muốn được qua sông, người ấy suy nghĩ: “Sông Hằng-già này nước chảy tràn bờ, ta có việc muốn qua bờ bên đó, nhưng tự thân không đủ sức để lội sang đó một cách an toàn.” Này A-nan, nên biết người ấy không đủ sức. Cũng vậy, này A-nan, những ai đối với giác ngộ, đối với tịch diệt, đối với Niếtbàn mà tâm không thú hướng, không thanh tịnh, không trụ nơi giải thoát, thì này A-nan, nên biết người ấy cũng giống như người gầy yếu không sức lực đó.

Này A-nan, như sông Hằng-già, nước chảy tràn bờ, nếu có một người đến bên bờ, có việc muốn được qua sông, người ấy suy nghĩ: “Sông Hằng-già này nước chảy tràn bờ, ta có việc muốn qua bờ bên đó, nay tự thân ta đủ sức bơi qua đó một cách an ổn.” Này A-nan, nên biết người đó có đủ sức lực. Cũng vậy, này A-nan, những ai đối với giác ngộ, đối với tịch diệt, đối với Niết-bàn mà có tâm thú hướng, thanh tịnh, trụ nơi giải thoát, thì này A-nan, nên biết người này cũng như người có sức lực kia.

[0779c07] Này A-nan, cũng như dòng nước lũ tràn về, sâu rộng mênh mông, cuồn cuộn chảy xiết, cuốn trôi nhiều thứ mà ở dòng nước lại không có thuyền, cũng chẳng có cầu. Giả sử có người đến bên bờ này, có việc nên tìm cách để qua sông. Vì tìm cách để qua nên người ấy suy nghĩ rằng: “Nay dòng nước lũ này thật sâu rộng mênh mông, cuồn cuộn chảy xiết, cuốn trôi nhiều thứ, mà ở dòng nước lại không có thuyền, cũng chẳng có cầu để vượt qua. Ta có công việc ở bờ bên kia, nên muốn qua đó, vậy ta phải tìm phương tiện nào để có thể sang bờ bên đó một cách an ổn?” Rồi người ấy lại nghĩ: “Bây giờ ta hãy ở bên bờ này thu lượm cỏ cây rồi buộc lại, làm thành chiếc bè rồi nương vào để qua sông.” Thế rồi, người ấy liền ở bờ bên này thu lượm cỏ cây rồi buộc lại, làm thành chiếc bè, rồi nương vào mà đến bờ bên kia một cách an ổn.

Cũng vậy, này A-nan, nếu có Tỳ-kheo nương vào yểm ly, dựa trên yểm ly, an trú yểm ly, vì để chấm dứt việc ác của thân, vì để tâm thể nhập định nên phải yểm ly. Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, có giác, có quán, có hỷ, lạc do viễn ly sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Vị ấy nương trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ. Khi vị ấy nương trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ rồi thì an trú nơi đó và nhất định sẽ chứng đắc lậu tận. Giả sử an trú nơi đó mà không chứng đắc lậu tận thì sẽ được thăng tiến đến chỗ tịch tịnh.

Thế nào là thăng tiến đến chỗ tịch tịnh? Vị ấy diệt trừ giác và quán, nội tĩnh nhất tâm, an trú hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác không quán. Vị ấy dựa trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ. Khi vị ấy dựa trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ rồi thì an trú nơi đó và nhất định sẽ chứng đắc lậu tận. Giả sử an trú nơi đó mà không chứng đắc lậu tận thì sẽ thăng tiến đến chỗ tịch tịnh.

Thế nào là thăng tiến đến chỗ tịch tịnh? Vị ấy ly hỷ, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, thân cảm lạc thọ, điều mà bậc Thánh gọi là xả niệm an trú lạc. Vị ấy nương trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ. Khi vị ấy nương trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ rồi thì an trú nơi đó và nhất định sẽ chứng đắc lậu tận. Giả sử an trú nơi đó mà không chứng đắc lậu tận thì sẽ thăng tiến đến chỗ tịch tịnh.

Thế nào là thăng tiến đến chỗ tịch tịnh? Vị ấy diệt trừ ưu và hỷ quá khứ, buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh. Vị ấy nương trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ. Khi vị ấy nương trên xứ này quán sát sự hưng suy của thọ rồi thì an trú nơi đó và nhất định sẽ chứng đắc lậu tận. Giả sử an trú nơi đó mà không chứng đắc lậu tận thì sẽ thăng tiến đến chỗ tịch tịnh.

[0780a07] Thế nào là thăng tiến đến chỗ tịch tịnh? Vị ấy vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu ngại tưởng, không niệm tưởng tạp loạn, nhập Không vô biên xứ, thành tựu và an trú vào Không vô biên xứ này. Vị ấy nương trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ. Khi vị ấy nương trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ rồi thì an trú nơi đó và nhất định sẽ chứng đắc lậu tận. Giả sử an trú nơi đó mà không chứng đắc lậu tận thì sẽ thăng tiến đến chỗ tịch tịnh.

Thế nào là thăng tiến đến chỗ tịch tịnh? Vị ấy vượt Không vô biên xứ, nhập Thức vô biên xứ, thành tựu và an trú vào Thức vô biên xứ này. Vị ấy nương trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ. Khi vị ấy nương trên xứ này để quán sát sự hưng suy của thọ rồi thì an trú nơi đó và nhất định sẽ chứng đắc lậu tận. Giả sử an trú nơi đó mà không chứng đắc lậu tận thì sẽ thăng tiến đến chỗ tịch tịnh.

Thế nào là thăng tiến đến chỗ tịch tịnh? Vị ấy vượt Thức vô biên xứ, nhập Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trú vào Vô sở hữu xứ này. Vị ấy nếu có cảm thọ, hoặc vui, hoặc khổ, hoặc không khổ không vui thì vị ấy quán cảm thọ này vô thường, quán hưng suy, quán vô dục, quán diệt, quán đoạn, quán xả. Khi vị ấy quán thọ này vô thường, quán hưng suy, quán vô dục, quán diệt, quán đoạn, quán xả rồi, liền không còn chấp thủ thế gian này. Khi vị ấy không còn chấp thủ thế gian này rồi thì không còn sợ hãi, do không sợ hãi nên vị ấy đạt đến Niếtbàn và biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”

Cũng như cách thôn xóm không xa, có một cây chuối lớn. Nếu có người mang búa đến đốn ngã cây chuối, bổ ra từng mảnh, hay bổ ra mười phần, trăm phần. Sau khi bổ ra làm mười phần hay trăm phần rồi, vị ấy lại tách ra từng sợi mà không thấy đốt của nó thì làm sao có thể tìm thấy lõi? Này A-nan! Cũng vậy, Tỳ-kheo nếu có cảm thọ nào, hoặc vui, hoặc khổ, hoặc không khổ không vui thì vị ấy quán cảm thọ này vô thường, quán hưng suy, quán vô dục, quán diệt, quán đoạn, quán xả. Vị ấy sau khi quán cảm thọ này vô thường, quán hưng suy, quán vô dục, quán diệt, quán đoạn, quán xả rồi, liền không còn chấp thủ thế gian này. Khi không còn chấp thủ thế gian này rồi, vị ấy không còn sợ hãi, do không sợ hãi nên đạt đến Niết-bàn và biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” [0780b04] Bấy giờ, Tôn giả A-nan chắp tay hướng Phật thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu! Thật là đặc thù! Vì để cho các Tỳ-kheo có nơi nương nhờ, nương tựa nên đức Thế Tôn đã thiết lập nơi nương tựa bằng cách nói về xa lìa lậu hoặc, nói về vượt qua lậu hoặc, nhưng không phải bất cứ Tỳ-kheo nào cũng mau chóng chứng đắc vô thượng, nghĩa là đạt đến cứu cánh diệt tận.

Thế Tôn bảo:

  • Đúng vậy, đúng vậy. Này A-nan! Thật là kỳ diệu! Thật là đặc thù! Vì để cho các Tỳ-kheo có nơi nương nhờ, nương tựa nên Ta đã thiết lập nơi nương tựa bằng cách nói về nói về xa lìa lậu hoặc, nói về vượt qua lậu hoặc, nhưng không phải bất cứ Tỳ-kheo nào cũng mau chóng chứng đắc vô thượng, nghĩa là đạt đến cứu cánh diệt tận. Vì sao như vậy? Vì căn cơ mỗi người khác biệt nên sự tu tập cũng có tinh, có thô. Do sự tu tập có tinh, có thô nên mỗi người có sự hơn kém khác nhau. A-nan, thế nên Ta nói mỗi người có sự hơn kém khác nhau vậy.

Đức Phật dạy như thế, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú thích:

[1] Nguyên tác: Ngũ hạ phần kiết kinh 五下分結經 (T.01. 0026.205. 0778c09). Tham chiếu: M. 64, Mahāmālukyā Sutta (Ðại kinh Mālukyā).

[2] Ngũ hạ phần kiết (五下分結, pañca orambhāgiya saṃyojana). Hạ phần chỉ cho Dục giới (欲界, Kāmadhātu), 5 loại kiết sử đưa đến sự tái sanh ở Dục giới. Cũng gọi là “Ngũ thuận hạ phần kiết”, gồm: (i) Tham dục (貪欲, kāmarāga), (ii) Sân khuể (瞋恚, vyāpāda), (iii) Thân kiến (身見, sakkāyadiṭṭhi), (iv) Giới cấm thủ (戒禁取, sīlabbataparāmāsa), (v) Nghi (疑, vicikicchā).

[3] Man Đồng Tử (鬘童子, Mālukyāputta), con một vị đại thần của vua nước Kosala. Trước đó Tôn giả tu theo ngoại đạo, về sau tu theo Phật và chứng đắc quả A-la-hán. Kinh này được nói trước khi Tôn giả chứng quả A-la-hán.

[4] Nguyên tác: Dục sử (欲使, kāmanusaya): Tham dục tùy miên. “Sử” (使) ở đây chính là “tùy miên” (anusaya).

[5] Nguyên tác: Khuể sử (恚使, vyāpādānusaya).

[6] Nguyên tác: Thân kiến sử (身見使, sakkāyadiṭṭhānusaya).

[7] Nguyên tác: Giới thủ sử (戒取使, sīlabbataparāmāsānusaya).

[8] Nguyên tác: Nghi sử (疑使, vicikicchānusaya).

[9] Trong nội dung đoạn đối đáp này, xét về mặt chữ nghĩa thì Man Đồng Tử đã đề cập đầy đủ cả 5 hạ phần kiết nhưng vẫn bị đức Phật rầy. Điều này, trong A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論 (T.28. 1546.27. 0197a19) giải thích rằng, sự rầy đó không căn cứ vào văn mà căn cứ vào nghĩa. Do vị này không giải thích nghĩa rõ ràng nên bị đức Phật rầy. Vị Tôn giả này, ở trong tác phẩm A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa

luận có tên là Ma-lặc-ca tử (摩勒迦子). Nguyên văn: 問曰: 佛經說五下分結,彼亦如是受持,何故呵責摩勒迦子耶? 答曰: 不以文故,以不解義,故責其義,不責其文.

[10] Nguyên tác: Nhược y đạo, y tích (若依道, 依跡). Tham chiếu: M. 64: Maggo ayaṃ paṭipadā (Đây là con đường, đây là lộ trình).

[11] Nguyên tác: Thật (實): Rắn chắc (堅實). Tham chiếu: A. 10.115 - V. 224: Sāra (cốt lõi, lõi cây).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.