Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Đông Viên, giảng đường Lộc Tử Mẫu.[2]
Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Thế Tôn rời nơi tĩnh tọa, ra khỏi giảng đường rồi bảo Tôn giả A-nan:
Bây giờ, thầy hãy cùng Ta đến sông A-di-la-bà-đề[3] để tắm gội.
Tôn giả A-nan bạch:
Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả A-nan cầm khóa cửa đi khắp các phòng, gặp Tỳ-kheo nào cũng nói rằng:
Chư Hiền, hãy cùng đến nhà Phạm chí La-ma.4
Các Tỳ-kheo nghe xong, liền cùng nhau đến nhà Phạm chí La-ma.
Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đi đến sông A-di-la-bà-đề, cởi y phục để trên bờ rồi xuống sông tắm gội. Tắm xong lên bờ, lau mình và mặc y phục vào.
Khi ấy, Tôn giả A-nan cầm quạt đứng sau quạt hầu Thế Tôn, rồi chắp tay hướng về Ngài thưa:
Bạch Thế Tôn! Nhà của Phạm chí La-ma rất đẹp và ngăn nắp, rất đáng ưa thích, kính mong Ngài rủ lòng thương xót, ghé thăm nhà Phạm chí La-ma.
Thế Tôn vì Tôn giả A-nan mà im lặng nhận lời, rồi Ngài cùng Tôn giả A-nan đi đến nhà Phạm chí La-ma.
Bấy giờ, tại nhà của Phạm chí La-ma có rất đông các Tỳ-kheo đang nhóm họp để thuyết pháp. Đức Phật đứng ở ngoài cửa, đợi các Tỳ-kheo thuyết pháp xong. Sau khi thuyết pháp xong, các Tỳ-kheo ngồi im lặng. Thế Tôn biết thế, liền đằng hắng và gõ cửa. Các Tỳ-kheo nghe tiếng liền bước ra mở cửa. Thế Tôn bước vào nhà Phạm chí La-ma, trải tọa cụ ngồi trước chúng Tỳ-kheo và hỏi:
Vừa rồi các thầy nói những chuyện gì? Vì việc gì mà các thầy nhóm họp ở đây?
Lúc ấy, các Tỳ-kheo đáp:
Bạch Thế Tôn, chúng con vừa nói pháp, vì pháp sự này nên chúng con nhóm họp ở đây.
Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay, lành thay! Khi Tỳ-kheo nhóm họp thì chỉ nên làm hai việc, thứ nhất là thuyết pháp và thứ hai là im lặng. Vì sao như vậy? Như Lai cũng sẽ vì các thầy mà giảng pháp, hãy lắng nghe, lắng nghe và khéo suy nghĩ!
[0776a02] Lúc ấy, các Tỳ-kheo bạch:
Thưa vâng, chúng con xin lắng nghe!
Đức Phật dạy:
Có hai loại tìm cầu. Một là Thánh cầu, hai là Phi Thánh cầu.
Thế nào là Phi thánh cầu? Có pháp thật sự bệnh lại đi tìm cầu pháp bệnh, có pháp thật sự già lại đi tìm cầu pháp già,... (cho đến) có pháp chết, có pháp buồn lo sầu khổ, có pháp thật sự nhiễm ô lại đi tìm cầu pháp nhiễm ô.
Thế nào là pháp thật sự bệnh lại đi tìm cầu pháp bệnh? Thế nào là pháp bệnh? Con cái, anh em là pháp bệnh. Voi, ngựa, bò, dê, tôi tớ, tiền tài, châu báu, lúa gạo đều là pháp bệnh. Đối với pháp ấy, chúng sanh xúc chạm, đắm nhiễm, tham luyến, dính mắc, kiêu ngạo, thọ nhận mà không thấy sự nguy hiểm, không thấy cần phải xa lìa khi nắm giữ và thọ dụng chúng.
Thế nào là pháp già, pháp chết, pháp buồn lo sầu khổ và pháp nhiễm ô? Con cái, anh em là pháp nhiễm ô. Voi, ngựa, bò, dê, tôi tớ, tiền tài, châu báu, lúa gạo đều là pháp nhiễm ô, là pháp tai họa. Đối với pháp ấy, chúng sanh xúc chạm, đắm nhiễm, tham luyến, dính mắc, kiêu ngạo, thọ nhận mà không thấy sự nguy hiểm, không thấy cần phải xa lìa khi nắm giữ và thọ dụng chúng.
Chúng sanh ấy muốn cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn, nhưng đạt được không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn là điều không bao giờ xảy ra. Chúng sanh ấy muốn cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn, nhưng đạt được không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn là điều không bao giờ xảy ra. Đây gọi là Phi Thánh cầu.
Thế nào là Thánh cầu? Có người suy nghĩ như vầy: “Chính ta thật sự là pháp bệnh, không tội tình gì lại đi tìm cầu pháp bệnh nữa. Chính ta thật sự là pháp già, pháp chết, pháp buồn lo sầu khổ, pháp nhiễm ô thì không tội tình gì lại đi tìm cầu pháp nhiễm ô nữa. Vậy nay ta phải tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn.” Thế rồi, người ấy liền tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn và đạt được không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn là điều chắc chắn xảy ra. Người ấy tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn và đạt được không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn là điều chắc chắn xảy ra.
Thuở xưa, khi chưa chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ta cũng suy nghĩ như vầy: “Chính Ta thật sự là pháp bệnh, không tội tình gì lại đi tìm cầu pháp bệnh nữa. Chính Ta thật sự là pháp già, pháp chết, pháp buồn lo sầu khổ, pháp nhiễm ô thì không tội tình gì lại đi tìm cầu pháp nhiễm ô nữa. Vậy nay Ta có phải tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niếtbàn chăng?”
Lúc ấy, Ta hãy còn là một thiếu niên trong sáng, tóc xanh óng mượt, cho đến năm tròn hai mươi chín tuổi, là độ tuổi cực kỳ vui thú, chưng diện trang sức, thỏa thích dạo chơi. Thế nhưng bấy giờ, mặc dù cha mẹ khóc lóc, thân thuộc không vui, Ta vẫn cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, giữ gìn thân mạng thanh tịnh, khẩu mạng và ý mạng thanh tịnh. Ta đã thành tựu giới thân ấy rồi lại muốn tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn nên đến chỗ A-la-la Già-la-ma[4] và hỏi rằng: “Thưa A-la-la, tôi muốn theo pháp của ngài để tu hành Phạm hạnh, có được chăng?” A-la-la trả lời: “Hiền giả! Không có gì là không được, ông muốn tu thì cứ tu.” Ta lại hỏi: “Thưa A-la-la! Ngài tự biết, tự ngộ, tự thân chứng đắc pháp này như thế nào?” A-la-la trả lời: “Hiền giả! Tôi vượt qua tất cả Thức xứ, đạt đến Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trú trong đó. Đây là pháp mà tôi đã tự biết, tự ngộ, tự thân chứng đắc.”
[0776b14] Ta lại suy nghĩ: “Không chỉ A-la-la mới có niềm tin này, Ta cũng có niềm tin này. Không chỉ A-la-la mới có tinh tấn này, Ta cũng có tinh tấn này. Không chỉ A-la-la mới có tuệ này, Ta cũng có tuệ này.” Đối với pháp này, A-la-la đã tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng. Ta cũng muốn chứng đắc pháp này nên sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi thanh vắng, tâm không buông lung, siêng năng tu hành. Sau khi sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi thanh vắng, tâm không buông lung, siêng năng tu hành không bao lâu thì Ta chứng được pháp ấy. Sau khi chứng pháp ấy rồi, Ta đi đến chỗ A-la-la Già-la-ma và hỏi: “Thưa A-la-la, pháp mà ngài tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng có phải là vượt qua tất cả vô lượng Thức xứ, đạt đến Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trú trong đó chăng?” A-la-la Già-la-ma trả lời: “Này Hiền giả, đó đúng là pháp mà tôi đã tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng, nghĩa là vượt qua tất cả vô lượng Thức xứ, đạt đến Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trú trong đó.”
Rồi A-la-la Già-la-ma lại nói với Ta: “Hiền giả! Vậy là, tôi đã chứng đạt pháp này thế nào thì Hiền giả cũng như vậy, Hiền giả đã chứng đạt pháp này thế nào thì tôi cũng như vậy. Này Hiền giả! Hãy ở lại cùng tôi dẫn dắt đồ chúng này.”
Vậy là A-la-la Ka-la-ma đối xử với Ta như một vị thầy, xem Ta ngang hàng với ngài ấy, cung kính tối thượng, cúng dường tối thượng, hoan hỷ tối thượng.
Ta lại suy nghĩ như vầy: “Pháp này không đưa đến trí, không đưa đến giác, không đưa đến Niết-bàn. Vậy nay Ta hãy xả bỏ pháp này để tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn, tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn.” Ta liền xả bỏ pháp này để tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn, tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn. Rồi Ta đến chỗ Uất-đà-la La-ma tử[5] để hỏi: “Thưa Uất-đà-la! Tôi muốn theo pháp của ngài để tu học, có được chăng?” Uất-đà-la trả lời: “Này Hiền giả! Có gì mà không được, ông muốn học thì cứ học.” Ta lại hỏi: “Thưa Uất-đà-la! Ngài tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng những pháp gì?” Uất-đầu-la đáp: “Hiền giả! Vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu và an trú trong đó. Hiền giả, đây chính là pháp mà cha tôi, ngài La-ma, đã tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng vậy.”
[0776c12] Ta lại suy nghĩ: “Không chỉ riêng La-m a mới có niềm tin này, Ta cũng có niềm tin này. Không chỉ riêng La-ma mới có tinh tấn này, Ta cũng có tinh tấn này. Không chỉ riêng La-ma mới có trí tuệ này, Ta cũng có trí tuệ này. La-ma đã tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng pháp này, tại sao ta lại không tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng pháp này?” Vì muốn chứng đắc pháp này nên Ta sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi thanh vắng, tâm không buông lung, siêng năng tu hành. Sau khi Ta sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi thanh vắng, tâm không buông lung, siêng năng tu hành không bao lâu thì Ta chứng được pháp ấy. Sau khi chứng pháp ấy, Ta đi đến chỗ Uất-đà-la, con trai ngài La-ma và hỏi: “Thưa Uất-đà-la, có phải cha của người là La-ma, đã tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng pháp này, nghĩa là vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu và an trú trong đó chăng?” Khi ấy, Uất-đà-la, con trai của ngài La-ma, trả lời Ta rằng: “Hiền giả, cha tôi là La-ma, thật sự đã tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng pháp này, đó là vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu và an trú trong đó.”
Uất-đà-la lại nói với Ta: “Cha tôi là La-ma đã chứng pháp này thế nào thì ông cũng như vậy; ông đã chứng pháp này thế nào thì cha tôi cũng vậy. Hiền giả! Hãy ở lại cùng tôi dẫn dắt đồ chúng này.”
Vậy là Uất-đà-la La-ma tử đối xử với Ta như một vị thầy, xem Ta cũng như thầy, cung kính tối thượng, cúng dường tối thượng, hoan hỷ tối thượng.
Rồi Ta lại suy nghĩ như vầy: “Pháp này không đưa đến trí, không đưa đến giác, không đưa đến Niết-bàn. Vậy Ta hãy xả bỏ pháp này để tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn, tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn.” Thế là, Ta liền xả bỏ pháp ấy để tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn, tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn. Rồi Ta đi về phía Nam núi Tượng Đỉnh[6] đến Uất-tỳ-la,[7] thôn của Phạm chí tên Tư-na.[8] Vùng đất đó thật đáng yêu đáng thích, núi rừng sầm uất, nước sông Niliên-thiền trong xanh chảy tràn lên bờ. Ta nhìn thấy rồi liền khởi ý niệm: “Vùng đất này thật đáng yêu đáng thích, núi rừng sầm uất, nước sông Ni-liên-thiền trong xanh chảy tràn lên bờ. Nếu người thiện nam nào muốn học đạo thì nên học ở nơi này; Ta cũng học đạo, vậy Ta sẽ ở lại đây tu học.” Thế rồi, Ta ôm cỏ đến bên cây Giác,[9] trải làm tọa cụ và ngồi kiết-già, quyết không rời chỗ ngồi cho đến khi chứng đắc lậu tận và rốt cuộc Ta đã không rời khỏi chỗ ấy cho đến khi chứng được lậu tận. Ta tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn và đạt được không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; Ta tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn và đạt được không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô. Ta khởi sinh cái thấy, cái biết, thành tựu các pháp đạo phẩm, biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
[0777a18] Khi vừa chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác, Ta suy nghĩ như vầy: “Ta nên thuyết pháp cho ai trước tiên?” Rồi lại nghĩ: “Nay Ta có nên thuyết pháp cho A-la-la Già-la-ma trước tiên chăng?” Bấy giờ, có vị trời trú giữa hư không liền nói với Ta: “Đại Tiên Nhân! Nên biết A-la-la Già-la-ma đã qua đời cách đây bảy ngày.” Rồi Ta cũng tự biết A-la-la Già-la-ma lâm chung đã được bảy ngày, nên lại suy nghĩ: “A-la-la Già-la-ma! Ông ấy thật thiệt thòi vì không nghe được pháp này! Nếu được nghe pháp này, ông ấy sẽ mau chóng biết pháp và tuần tự theo pháp.”
Khi vừa chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác, Ta liền nghĩ như vầy: “Ta nên thuyết pháp cho ai trước tiên?” Rồi lại nghĩ: “Nay Ta có nên thuyết pháp cho Uất-đà-la La-ma tử trước tiên chăng?” Lúc đó, có vị trời trú giữa hư không liền nói với Ta: “Đại Tiên nhân! Nên biết Uất-đà-la La-ma tử đã qua đời cách đây mười bốn ngày.” Rồi Ta cũng tự biết Uất-đà-la La-ma tử lâm chung đến nay đã mười bốn ngày, nên lại suy nghĩ: “Uất-đà-la La-ma tử! Ông ấy thật thiệt thòi vì không nghe được pháp này. Nếu được nghe pháp này, ông ấy sẽ mau chóng biết pháp và tuần tự theo pháp.”
[0777b03] Khi vừa chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác, Ta liền nghĩ như vầy: “Ta nên thuyết pháp cho ai trước tiên?” Rồi lại nghĩ: “Trước kia có năm Tỳ-kheo[10] phục vụ cho Ta, đã làm nhiều điều lợi ích. Lúc Ta tu khổ hạnh, năm Tỳ-kheo ấy đã thừa sự Ta. Nay có nên thuyết pháp cho năm Tỳ-kheo ấy trước tiên chăng?” Rồi Ta lại nghĩ: “Năm Tỳ-kheo thuở ấy, nay đang ở đâu?” Bằng thiên nhãn thanh tịnh vượt hẳn người thường, Ta thấy năm Tỳ-kheo đang ở trong vườn Nai, trú xứ của Tiên nhân, thuộc thành Ba-la-nại.[11]
Sau một thời gian lưu lại bên cây Giác tùy theo ý muốn,[12] Ta liền đắp y, ôm bát hướng về Ba-la-nại, đến thị trấn Già-thi.[13] Bấy giờ, có ngoại đạo tên Ưu-đà[14] từ xa trông thấy Ta đến, liền nói với Ta rằng:
Hiền giả Cù-đàm! Các căn của Ngài thanh tịnh, hình sắc rất đẹp, khuôn mặt rạng ngời! Hiền giả Cù-đàm, thầy của Ngài là ai? Ngài theo ai học đạo?
Tin tưởng pháp của ai?
Bấy giờ, Ta nói kệ trả lời Ưu-đà:
Ta tối thượng, tối thắng,
Không nhiễm tất cả pháp,
Ái đã tận, giải thoát,
Tự giác, không Tôn sư.
Không ai hơn hay bằng,
Tự giác, Vô thượng giác,
Như Lai, Thầy trời người,
Thành tựu lực Biến tri.
Ưu-đà hỏi Ta:
Hiền giả Cù-đàm! Ngài tự cho mình là tối thắng ư?
Ta lại dùng kệ đáp:
Đấng tối thắng nghĩa là,
Đã chứng đắc lậu tận,
Ta nhổ sạch pháp ác,
Ưu-đà! Ta tối thắng.
Ưu-đà lại hỏi Ta:
Hiền giả Cù-đàm, Ngài muốn đi đâu?
Bấy giờ, Ta dùng kệ đáp:
Ta đến Ba-la-nại,
Gióng trống mầu Bất tử,[15]
Chuyển Pháp luân vô thượng,
Chưa ai chuyển trong đời.
Ưu-đà nói với Ta:
Thưa Hiền giả Cù-đàm, có thể là như vậy.
Nói xong, vị ấy liền men theo đường tắt quay về, còn Ta một mình đi đến vườn Nai, trú xứ của Tiên nhân.
Lúc đó, năm Tỳ-kheo từ xa trông thấy Ta đến, họ cùng hội ý và giao ước với nhau rằng: “Chư Hiền! Nên biết Sa-môn Cù-đàm đang đi đến, người này nhiều tham muốn, nhiều mong cầu, ăn uống thực phẩm thượng diệu, cơm thơm gạo trắng, bột gạo rang, tô, mật và dùng dầu mè xoa thân. Hôm nay, ông ấy lại đến đây, chúng ta cứ ngồi, đừng đứng dậy tiếp đón, cũng đừng hành lễ, cứ dành sẵn một chỗ ngồi nhưng chớ mời ngồi, khi ông ấy đến hãy nói: ‘Này bạn, nếu muốn ngồi thì cứ ngồi xuống.’”
Thế rồi, Ta đến chỗ năm Tỳ-kheo ấy. Bấy giờ, năm Tỳ-kheo không kham nổi oai đức thắng diệu của Ta, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, người thì đỡ y cầm bát, người thì trải chỗ ngồi, người thì lấy nước cho Ta rửa chân. Ta nghĩ rằng: “Những người mê muội này, sao lại không bền chí? Đã tự lập ra giao ước rồi lại làm trái điều ấy!” Ta biết như vậy rồi, liền ngồi xuống chỗ mà năm Tỳ-kheo đã soạn sẵn.
[0777c11] Khi nghe năm Tỳ-kheo gọi thẳng tên họ của Ta và xưng hô với Ta là “bạn.”18 Ta liền nói với họ:
Này năm Tỳ-kheo! Ta là đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Giác. Các ông đừng gọi tên họ cũ của Ta, cũng đừng gọi Ta là “bạn.” Vì sao như vậy? Ta tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn và đã đạt được không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn. Ta tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn và đã đạt được không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niếtbàn. Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, đã thành tựu các pháp đạo phẩm và biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Họ nói với Ta:
Này ông bạn Cù-đàm! Trước kia ông tu hành như vậy, với phương pháp như vậy, khổ hạnh như vậy mà còn chưa chứng được pháp Thượng nhân, chưa gần kề Thánh tri, Thánh kiến, huống gì ngày nay ông sống với nhiều tham muốn, nhiều mong cầu, ăn uống thực phẩm thượng diệu, cơm trắng gạo thơm, bột gạo rang, tô, mật và còn dùng dầu mè xoa thân nữa chứ?
Ta hỏi lại:
Này năm Tỳ-kheo, trước kia các thầy có thấy các căn của Ta thanh tịnh, rạng rỡ sáng ngời như vậy chăng?
Khi ấy, năm Tỳ-kheo trả lời:
Trước kia chúng tôi chưa từng thấy các căn của ông thanh tịnh, rạng rỡ sáng ngời, nhưng nay thì các căn của ông thanh tịnh, hình sắc thắng diệu, sắc diện rạng ngời!
Lúc đó, Ta liền bảo họ rằng:
Này năm Tỳ-kheo, nên biết rằng có hai lối sống cực đoan mà những người học đạo không nên thực hành. Một là đắm trước dục lạc, là nghiệp hèn hạ, là lối sống của hạng phàm phu. Hai là tự gây phiền, tự chuốc khổ, không phải pháp Hiền thánh, tương ưng với khổ đau.[16] Này năm Tỳ-kheo, từ bỏ hai cực đoan ấy, theo con đường trung đạo thì chắc chắn thành tựu minh, thành tựu trí, thành tựu định, đạt được tự tại, đạt đến trí, đạt đến giác, đạt đến Niết-bàn. Con đường đó chính là Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định.
Rồi Ta tùy thuận giảng dạy cho năm Tỳ-kheo. Khi Ta dạy cho hai người thì ba người đi khất thực, ba người ấy mang thức ăn về, đủ cho sáu người ăn. Khi Ta dạy cho ba người thì hai người đi khất thực, hai người ấy mang thức ăn về, đủ cho sáu người ăn. Ta truyền dạy như vậy, khuyến hóa như vậy, giúp họ tìm cầu không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn và họ đạt được không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; giúp họ tìm cầu không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn và họ đạt được không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn. Họ đã khởi sinh cái thấy, cái biết, thành tựu các pháp đạo phẩm và biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
[0778a11] Rồi Ta lại nói với họ:
Này năm Tỳ-kheo, có năm món dục đáng ưa, đáng thích, dễ sanh tâm luyến nhớ, dễ tương ứng dục vọng. Những gì là năm? Đó là sắc được biết bởi mắt, tiếng được biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân. Này năm Tỳ-kheo! Những kẻ phàm phu mê muội, thiếu hiểu biết, không gặp bạn tốt, không biết Thánh pháp, không chế ngự trong Thánh pháp thì đối với năm món dục đó, họ xúc chạm, đắm nhiễm, tham luyến, dính mắc, kiêu ngạo, thọ nhận mà không thấy sự nguy hiểm, không thấy cần phải xa lìa khi nắm giữ và thọ dụng chúng. Nên biết rằng họ đã nghe theo Ác ma, làm theo Ác ma, rơi vào tay Ác ma, bị lưới ma quấn chặt, bị cùm ma khóa chặt, không thoát khỏi sự trói buộc của ma.
Này năm Tỳ-kheo! Giống như con nai bị mắc vào lưới giăng, nên biết nó phải nghe theo thợ săn, làm theo thợ săn, rơi vào tay thợ săn, bị trói buộc bởi lưới của thợ săn, khi thợ săn đến thì nó không thể trốn thoát. Cũng vậy, này năm Tỳkheo, những kẻ phàm phu mê muội, thiếu hiểu biết, không gặp bạn tốt, không biết Thánh pháp, không chế ngự trong Thánh pháp thì đối với năm món dục đó, họ xúc chạm, đắm nhiễm, tham luyến, dính mắc, kiêu ngạo thọ nhận mà không thấy sự nguy hiểm, không thấy cần phải xa lìa khi nắm giữ và thọ dụng chúng. Nên biết rằng họ đã nghe theo Ác ma, làm theo Ác ma, rơi vào tay Ác ma, bị lưới ma quấn chặt, bị cùm ma khóa chặt, không thoát khỏi sự trói buộc của ma.
Này năm Tỳ-kheo! Vị Thánh đệ tử đa văn được gặp thiện tri thức, hiểu biết Thánh pháp, chế ngự trong Thánh pháp thì đối với năm món dục đó, vị ấy không xúc chạm, không đắm nhiễm, không tham luyến, không dính mắc, không kiêu ngạo thọ nhận mà thấy sự nguy hiểm, thấy cần phải xa lìa khi nắm giữ và thọ dụng chúng. Nên biết rằng họ đã không nghe theo Ác ma, không làm theo Ác ma, không rơi vào tay Ác ma, không bị lưới ma quấn chặt, không bị cùm ma khóa chặt, thoát khỏi sự trói buộc của ma.
Này năm Tỳ-kheo! Giống như con nai thoát khỏi lưới giăng, nên biết rằng nó sẽ không nghe theo thợ săn, không rơi vào tay thợ săn, không bị mắc kẹt bởi lưới giăng của thợ săn, khi thợ săn đến thì nó có thể chạy trốn. Cũng vậy, này năm Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử đa văn được gặp thiện tri thức, hiểu biết Thánh pháp, chế ngự trong Thánh pháp thì đối với năm món dục đó, vị ấy không xúc chạm, không đắm nhiễm, không tham luyến, không dính mắc, không kiêu ngạo, không thọ nhận, thấy sự nguy hiểm, thấy cần phải xa lìa khi nắm giữ và thọ dụng chúng. Nên biết rằng vị ấy đã không nghe theo Ác ma, không làm theo Ác ma, không rơi vào tay Ác ma, không bị lưới ma quấn chặt, không bị cùm ma khóa chặt, thoát khỏi sự trói buộc của ma.
[0778b10] Này năm Tỳ-kheo! Khi có đấng Như Lai xuất hiện ở thế gian, là bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, nghĩa là đấng ấy đã đoạn trừ năm thứ ngăn che,[17] những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, rồi ly dục, ly pháp ác bất thiện cho đến chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú trong đó. Đấng ấy với định tâm thanh tịnh như vậy, không não không phiền, khéo sống nhu hòa, thành tựu tâm bất động, tu học và tác chứng Lậu tận trí thông. Đấng ấy biết như thật đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt và đây là con đường đưa đến khổ diệt; biết như thật đây là lậu, đây là nguyên nhân của lậu, đây là lậu diệt và đây là con đường đưa đến lậu diệt. Đấng ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Giải thoát rồi thì biết mình đã giải thoát và biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Bấy giờ, đấng ấy đi, đứng, ngồi, nằm đều được tự tại. Vì sao như vậy? Vì đấng ấy tự thấy rõ vô lượng pháp ác bất thiện đã diệt tận, nên đấng ấy đi, đứng, ngồi, nằm đều được tự tại như thế.
Này năm Tỳ-kheo! Giống như trong khu rừng vắng vẻ không có bóng người, ở đó đàn nai đi, đứng, ngồi, nằm một cách tự tại. Vì sao như vậy? Vì đàn nai ấy không ở trong lãnh địa của thợ săn, thế nên chúng đi, đứng, ngồi, nằm tự tại như thế. Cũng vậy, này năm Tỳ-kheo! Tỳ-kheo nào mà lậu đã tận, đắc vô lậu, Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát, tự biết, tự ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu và an trú trong đó, biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Bấy giờ, vị ấy đi, đứng, ngồi, nằm một cách tự tại. Vì sao như vậy? Vì vị ấy tự thấy vô lượng pháp ác bất thiện đã diệt tận nên vị ấy tự tại trong khi đi, đứng, ngồi, nằm. Này năm Tỳ-kheo! Đó gọi là giải thoát hoàn toàn, đó gọi là không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; đó gọi là không già, không chết, không buồn lo sầu khổ, không nhiễm ô, vô thượng an ổn Niết-bàn.
[0778c06] Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Quyển 56. Nguyên tác: La-ma kinh 羅摩經 (T.01. 0026.204. 0775c07). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02.
[2] Nguyên tác: Đông Viên Lộc Tử Mẫu đường (東園鹿子母堂, Pubbārāma Migāramātu pāsāda).
[3] A-di-la-bà-đề (阿夷羅婆提, Aciravatī) là một trong 5 con sông lớn ở Ấn Độ (pañca mahānadī), bắt nguồn từ phía Đông Himalaya rồi chảy ra biển. Tuy nhiên, M. 26 chỉ cho một bến nước của con sông này, tên là Pubbakoṭṭhaka, gần Lộc Tử Mẫu giảng đường ở Xá-vệ. 4 La-ma (羅摩, Rammaka).
[4] A-la-la Già-la-ma (阿羅羅伽羅摩, Āḷāra Kālāma). Theo D. 16, vị này cũng là thầy của Pukkusa, đã chứng đắc Sơ thiền.
[5] Uất-đà-la La-ma tử (欝陀羅羅摩子, Uddaka Rāmaputta): Uất-đà-la, con trai của La-ma. Theo Phật bổn hạnh tập kinh 佛本行集經 (T.03. 0190.27. 0757b13), Uất-đà-la là con trai của vị Đạo sư tên Lama. Sau khi người cha là La-ma qua đời, Uất-đà-la là người kế thừa cha lãnh đạo giáo phái và tên đầy đủ của ông là Uất-đà-la La-ma tử (Uddaka Rāmaputta).
[6] Tượng Đỉnh sơn (象頂山, Gayāsīsa) còn được dịch là núi Tượng Đầu.
[7] Uất-tỳ-la (欝鞞羅, Uruvelā).
[8] Tư-na (斯那, Senā).
[9] Nguyên tác: Giác thọ (覺樹), tức cây Bồ-đề.
[10] Tỳ-kheo (比丘, Bhikkhu), nghĩa đen là người khất thực (bhikkhaka), là tên gọi chỉ cho Sa-môn, hoặc Phạm chí nói chung ở Ấn Độ trước và trong thời Phật. Tỳ-kheo trong ngữ cảnh này không mang nghĩa là vị Tỳ-kheo trong Phật giáo.
[11] Nguyên tác: Ba-la-nại, Tiên nhân trụ xứ, Lộc Dã viên (波羅奈, 仙人住處, 鹿野園, Bārāṇasī Isipatanaṃ Migadāyo).
[12] Nguyên tác: Tùy trụ (隨住). Pāli: Yathābhirantaṃ viharitvā (ở đó tùy theo ý muốn).
[13] Già-thi (加尸) tức thành phố Kāsi, thủ đô nước Ba-la-nại.
[14] Ưu-đà (優陀, Upaka), một tu sĩ tà mạng (ājīvaka). 16 Nguyên tác: Phổ tri (普知): Biết khắp tất cả.
[15] Nguyên tác: Diệu Cam lộ cổ (妙甘露鼓). Tham chiếu: M. 26: Amatadundubhi (trống bất tử). 18 Nguyên tác: Khanh (卿, Āvuso): Bạn hay Hiền giả.
[16] Nguyên tác: Vô nghĩa tương ưng (無義相應). Theo Du-già sư địa luận 瑜伽師地論 (T.30. 1579.84. 0770b07): Những việc dẫn đến khổ đau, gọi là “vô nghĩa” (能引苦故, 說名無義).
[17] Nguyên tác: Ngũ cái (五蓋, pañca nīvaraṇā): Tham dục (貪欲, kāmarāga), sân khuể (瞋恚, vyāpāda), thụy miên (睡眠, thinamiddha), trạo cử (掉舉, uddhacca) và nghi (疑, vicikicchā).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.