Viện Nghiên Cứu Phật Học

201. KINH ÁI TẬN THÌ GIẢI THOÁT[1][2]

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ, Tỳ-kheo Trà-đế,[3] con trai ông Kê-hòa-đa,[4] phát sinh nhận thức sai lầm thế này: “Tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Ở đây, thức này luân chuyển và tái sanh nhưng không đổi khác.’”

Các Tỳ-kheo nghe vậy liền đi đến chỗ Tỳ-kheo Trà-đế và hỏi:

  • Này Trà-đế! Có phải thật sự thầy đã nói: “Tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Ở đây, thức này luân chuyển và tái sanh nhưng không đổi khác?’” Tỳ-kheo Trà-đế đáp:

  • Thưa chư Hiền! Thật sự tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: “Ở đây, thức này luân chuyển và tái sanh nhưng không đổi khác.” Khi ấy, các Tỳ-kheo liền khiển trách Tỳ-kheo Trà-đế:

  • Thầy chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc đức Thế Tôn, xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Đức Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này Trà-đế! Thức này do duyên mà sanh khởi. Đức Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện để nói thức này do duyên mà sanh khởi. Có duyên thì sanh, không duyên thì diệt. Này Tỳ-kheo Trà-đế! Thầy hãy mau buông bỏ nhận thức sai lầm ấy đi!

Tỳ-kheo Trà-đế bị các Tỳ-kheo khiển trách nhưng vẫn cương quyết giữ lấy nhận thức sai lầm của mình và một mực cho rằng: “Đây là điều chân thật, ngoài ra là hư vọng” và đã lặp lại ba lần như vậy.

Các Tỳ-kheo không thể nào khuyên bảo Tỳ-kheo Trà-đế buông bỏ nhận thức sai lầm đó nên liền đứng dậy ra về và đi đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài, ngồi sang một bên rồi thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo Trà-đế phát sanh nhận thức sai lầm này: “Tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Ở đây, thức này luân chuyển và tái sanh, nhưng không đổi khác.’” Bạch Thế Tôn! Chúng con nghe vậy, liền đến chỗ Tỳ-kheo ấy và hỏi: “Này Trà-đế! Có phải thầy nói như vầy: ‘Tôi hiểu Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Ở đây, thức này luân chuyển và tái sanh, nhưng không đổi khác?”’’

Trà-đế trả lời chúng con rằng: “Thưa chư Hiền! Thật sự tôi hiểu Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Ở đây, thức này luân chuyển và tái sanh, nhưng không đổi khác.’”

Chúng con đã khiển trách rằng: “Thầy chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc đức Thế Tôn, xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Đức Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này Trà-đế! Thức này do duyên mà sanh khởi. Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện để nói thức này do duyên mà sanh khởi. Có duyên thì sanh, không duyên thì diệt. Này Trà-đế! Thầy hãy mau buông bỏ nhận thức sai lầm ấy đi.”

Chúng con đã khiển trách như vậy nhưng Tỳ-kheo ấy vẫn cương quyết giữ lấy nhận thức sai lầm của mình và một mực cho rằng: “Đây là điều chân thật, ngoài ra là hư vọng” và đã lặp lại ba lần như vậy. Bạch Thế Tôn! Chúng con không thể khuyên bảo Tỳ-kheo Trà-đế buông bỏ nhận thức sai lầm ấy nên đứng dậy ra về.

[0767a01] Đức Thế Tôn nghe xong liền bảo một Tỳ-kheo:

  • Thầy hãy đến chỗ Tỳ-kheo Trà-đế rồi nói như vầy: “Đức Thế Tôn truyền gọi thầy.”

Bấy giờ, Tỳ-kheo ấy vâng lời đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi đi đến chỗ Tỳ-kheo Trà-đế và nói lại lời Phật dạy: “Đức Thế Tôn truyền gọi thầy.”

Tỳ-kheo Trà-đế liền đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn hỏi:

  • Có phải thầy đã nói: “Tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Ở đây, thức này luân chuyển và tái sanh, nhưng không đổi khác?’” Tỳ-kheo Trà-đế đáp:

  • Bạch Thế Tôn! Con thật sự hiểu Thế Tôn nói pháp như vầy: “Thức này luân chuyển và tái sanh, nhưng không đổi khác.” Đức Thế Tôn hỏi:

  • Thế nào là thức?

Tỳ-kheo Trà-đế đáp:

  • Bạch Thế Tôn! Thức này bao gồm sự nói năng, cảm thọ, hành động, sai bảo hành động, sanh khởi, cùng nhau sanh khởi.[5] Nghĩa là nó tạo tác các nghiệp thiện ác chỗ này, chỗ kia để rồi thọ báo.

Đức Thế Tôn khiển trách:

  • Này Trà-đế! Do đâu mà thầy hiểu Ta nói pháp như vậy? Thầy nghe từ miệng người nào mà cho rằng Ta nói pháp như vậy? Thầy là kẻ mê muội! Ta không nói một chiều mà thầy lại nói một chiều. Thầy thật mê muội! Khi nghe các Tỳ-kheo cùng khiển trách, bấy giờ thầy phải đúng như pháp mà trả lời. Nay Ta sẽ hỏi lại các Tỳ-kheo.

Bấy giờ, Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:

  • Các thầy cũng hiểu Như Lai nói pháp như vầy: “Thức này luân chuyển và tái sanh nhưng không đổi khác” chăng?

Bấy giờ, các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn hỏi:

  • Các thầy hiểu Như Lai nói pháp như thế nào?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Chúng con hiểu Thế Tôn nói pháp như vầy: “Thức do duyên mà sanh khởi. Thế Tôn đã nói thức do duyên mà sanh khởi. Có duyên thì sanh, không có duyên thì diệt.” Chúng con hiểu Thế Tôn nói pháp như vậy.

Đức Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Này các Tỳ-kheo! Các thầy hiểu Như Lai nói pháp như vậy. Vì sao như thế? Vì Như Lai đã nói pháp như vậy. Thức do duyên mà sanh khởi, Như Lai nói thức do duyên mà sanh khởi. Có duyên thì sanh, không có duyên thì diệt. Thức tùy theo những gì nó duyên vào để sanh khởi mà được gọi tên theo duyên ấy, như mắt duyên với sắc mà sanh khởi thức, thức sanh khởi ấy được gọi là nhãn thức. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng như vậy. Ý duyên với pháp mà sanh khởi thức, thức sanh khởi ấy được gọi là ý thức. Ví như lửa, tùy theo những gì nó duyên vào để sanh khởi mà được gọi tên theo duyên đó. Lửa duyên cây mà sanh khởi thì được gọi là lửa cây. Lửa duyên cỏ, rác mà sanh khởi thì được gọi là lửa cỏ, lửa rác. Như vậy, thức tùy theo những gì nó duyên vào để sanh khởi mà được gọi tên theo duyên đó, mắt duyên với sắc mà sanh khởi thức thì thức sanh khởi ấy được gọi là nhãn thức; tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng như vậy; cho đến ý duyên với pháp mà sanh khởi thức, thức sanh khởi ấy được gọi là ý thức.

[0767b02] Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Các thầy hiểu Như Lai nói pháp như vậy, nhưng Tỳ-kheo Trà-đế này là người mê muội, ghi nhớ và hiểu biết sai lệch cả nghĩa và văn. Thầy ấy do tự ghi nhớ và hiểu biết sai lệch nên đã xuyên tạc Như Lai, tự gây tổn hại cho mình, đã phạm tội lỗi, là điều mà các bậc Phạm hạnh có trí không hoan hỷ, nên phạm tội lớn. Này người mê muội kia! Thầy có biết điều xấu ác bất thiện này chăng?

Bấy giờ, Tỳ-kheo Trà-đế bị Thế Tôn quở trách trước mặt, trong lòng rầu rĩ, cúi đầu im lặng, không lời biện bạch, lộ vẻ suy tư. Sau khi quở trách trước mặt Tỳ-kheo Trà-đế, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

  • Nay Như Lai sẽ nói pháp rốt ráo không phiền não, không nóng bức, hằng hữu, bất biến cho các thầy nghe. Những người có trí phải quán xét như thế. Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe và hãy khéo suy nghĩ.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Đức Phật bảo:

  • Đây là một thực thể,[6] các thầy có thấy chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa, có thấy. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như Lai là một thực thể, các thầy có thấy chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa, có thấy. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như Lai diệt độ rồi, cái được gọi là thực thể ấy cũng là pháp tan hoại, các thầy có thấy chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa, có thấy. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Đây là một thực thể, các thầy đã thấy chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa, đã thấy. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như Lai là một thực thể, các thầy đã thấy chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa, đã thấy. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như Lai diệt độ rồi, cái được gọi là thực thể ấy cũng là pháp tan hoại, các thầy đã thấy chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa, đã thấy. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Đây là một thực thể, các thầy không nghi ngờ gì chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như Lai là một thực thể, các thầy không nghi ngờ gì chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như Lai diệt độ rồi, cái được gọi là thực thể ấy cũng là pháp tan hoại, các thầy không có nghi ngờ gì chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như vậy, một thực thể do thấy với trí tuệ chân thật, nếu có nghi ngờ gì thì nó có bị trừ diệt không?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa, sẽ bị trừ diệt. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như vậy, Như Lai là một thực thể do thấy với trí tuệ chân thật, nếu có nghi ngờ gì thì có bị trừ diệt không?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa, sẽ bị trừ diệt. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như Lai diệt độ rồi, cái được gọi là thực thể ấy cũng là pháp tan hoại, do thấy với trí tuệ chân thật như vậy, nếu có nghi ngờ gì thì nó có bị trừ diệt không?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Dạ, sẽ bị trừ diệt. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Đây là một thực thể, các thầy đã không còn nghi ngờ chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa vâng. Bạch đức Thế Tôn!

[0767c01] Đức Thế Tôn bảo:

  • Như Lai là một thực thể, các thầy đã không còn nghi ngờ chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa vâng. Bạch đức Thế Tôn!

Đức Thế Tôn bảo:

  • Như Lai diệt độ rồi, cái được gọi là thực thể ấy cũng là pháp tan hoại, các thầy đã không còn nghi ngờ chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa vâng. Bạch đức Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy thấy như vậy, biết như vậy, rồi cho rằng: “Thấy biết này của tôi thanh tịnh như thế thì nên chấp lấy nó, mến tiếc nó, giữ gìn nó, không muốn xả bỏ.” Các thầy có biết, Như Lai thường nói giáo pháp dụ như chiếc bè, khi đã hiểu rồi thì những gì bị bít kín sẽ được khai thông chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy thấy như vậy, biết như vậy, rồi cho rằng: “Thấy biết này của tôi thanh tịnh như thế thì không nên chấp lấy nó, không mến tiếc nó, không giữ gìn nó, muốn xả bỏ nó.” Các thầy có biết, Như Lai thường nói giáo pháp dụ như chiếc bè, khi đã hiểu rồi thì những gì bị bít kín sẽ được khai thông chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa vâng. Bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu có người ngoại đạo đến hỏi các thầy: “Này Hiền giả! Nếu các ngài có thấy biết thanh tịnh như vậy thì điều đó có mục đích gì, có tác dụng gì, có công đức gì?” Khi ấy, các thầy sẽ trả lời như thế nào?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu có ngoại đạo đến hỏi chúng con rằng: “Này Hiền giả! Các ngài nếu có thấy biết thanh tịnh như vậy, điều đó có mục đích gì, có tác dụng gì, có công đức gì?” Chúng con sẽ trả lời: “Này chư Hiền! Mục đích đó là yểm ly, là vô dục, là thấy biết như thật.” Bạch Thế Tôn! Nếu có ngoại đạo đến hỏi thì chúng con sẽ trả lời như vậy.

Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu có ngoại đạo đến hỏi các thầy, các thầy nên trả lời như vậy. Vì sao như thế? Hãy quán sát ý nghĩa này: Một là đoàn thực thô tế, hai là xúc thực, ba là ý niệm thực, bốn là thức thực. Bốn loại thức ăn này lấy gì làm nhân, do cái gì mà tập khởi, từ đâu mà sanh, do đâu mà tồn tại? Bốn loại thức ăn này đều lấy ái làm nhân, do ái mà tập khởi, từ ái mà sanh, duyên ái mà tồn tại.

Ái lấy gì làm nhân, do cái gì mà tập khởi, từ đâu mà sanh, duyên đâu mà tồn tại? Ái ấy lấy thọ làm nhân, do thọ mà tập khởi, từ thọ mà sanh, duyên thọ mà tồn tại.

Thọ lấy gì làm nhân, do cái gì mà tập khởi, từ đâu mà sanh, duyên đâu mà tồn tại? Thọ lấy xúc làm nhân, do xúc mà tập khởi, từ xúc mà sanh, duyên xúc mà tồn tại.

Xúc lấy gì làm nhân, do cái gì mà tập khởi, từ đâu mà sanh, duyên đâu mà tồn tại? Xúc lấy sáu xứ làm nhân, do sáu xứ mà tập khởi, từ sáu xứ mà sanh, duyên sáu xứ mà tồn tại.

Sáu xứ lấy gì làm nhân, do cái gì mà tập khởi, từ đâu mà sanh, duyên đâu mà tồn tại? Sáu xứ lấy danh sắc làm nhân, do danh sắc mà tập khởi, từ danh sắc mà sanh, duyên danh sắc mà tồn tại.

Danh sắc lấy gì làm nhân, do cái gì mà tập khởi, từ đâu mà sanh, duyên đâu mà tồn tại? Danh sắc lấy thức làm nhân, do thức mà tập khởi, từ thức mà sanh, duyên thức mà tồn tại.

Thức lấy gì làm nhân, do cái gì mà tập khởi, từ đâu mà sanh, duyên đâu mà tồn tại? Thức lấy hành làm nhân, do hành mà tập khởi, từ hành mà sanh, duyên hành mà tồn tại.

Hành lấy gì làm nhân, lấy cái gì mà tập khởi, từ đâu mà sanh, duyên đâu mà tồn tại? Hành lấy vô minh làm nhân, do vô minh mà tập khởi, từ vô minh mà sanh, duyên vô minh mà tồn tại.

[0768a08] Đó là, duyên vô minh nên có hành, duyên hành nên có thức, duyên thức nên có danh sắc, duyên danh sắc nên có sáu xứ, duyên sáu xứ nên có xúc, duyên xúc nên có thọ, duyên thọ nên có ái, duyên ái nên có thủ, duyên thủ nên có hữu, duyên hữu nên có sanh, duyên sanh nên có già, chết, sầu bi, khóc than, buồn khổ, phiền muộn. Như vậy là toàn bộ khối khổ lớn phát sanh. Duyên sanh mà có già, chết. Ở đây nói do duyên sanh mà có già, chết. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên sanh mà có già, chết, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì duyên sanh mà có già, chết.

  • Duyên hữu mà có sanh. Ở đây nói do duyên hữu mà có sanh. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên hữu mà có sanh, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên hữu mà có sanh.

  • Duyên thủ mà có hữu. Ở đây nói do duyên thủ mà có hữu. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên thủ mà có hữu, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên thủ mà có hữu.

  • Duyên ái mà có thủ. Ở đây nói do duyên ái mà có thủ. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên ái mà có thủ, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên ái mà có thủ.

  • Duyên thọ mà có ái. Ở đây nói do duyên thọ mà có ái. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên thọ mà có ái, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên thọ mà có ái.

  • Duyên xúc mà có thọ. Ở đây nói do duyên xúc mà có thọ. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên xúc mà có thọ, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên xúc mà có thọ.

  • Duyên sáu xứ mà có xúc. Ở đây nói do duyên sáu xứ mà có xúc. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên sáu xứ mà có xúc, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên sáu xứ mà có xúc.

[0768b02] – Duyên danh sắc mà có sáu xứ. Ở đây nói do duyên danh sắc mà có sáu xứ. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên danh sắc mà có sáu xứ, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên danh sắc mà có sáu xứ.

  • Duyên thức mà có danh sắc. Ở đây nói do duyên thức mà có danh sắc. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên thức mà có danh sắc, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên thức mà có danh sắc.

  • Duyên hành mà có thức. Ở đây nói do duyên hành có thức. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên hành mà có thức, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên hành mà có thức.

  • Duyên vô minh mà có hành. Ở đây nói do duyên vô minh mà có hành. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Duyên vô minh mà có hành, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do duyên vô minh mà có hành.

Đây là duyên vô minh nên có hành, duyên hành nên có thức, duyên thức nên có danh sắc, duyên danh sắc nên có sáu xứ, duyên sáu xứ nên có xúc, duyên xúc nên có thọ, duyên thọ nên có ái, duyên ái nên có thủ, duyên thủ nên có hữu, duyên hữu nên có sanh, duyên sanh nên có già, chết, sầu bi, khóc than, buồn khổ, muộn phiền. Như vậy là toàn bộ khối khổ lớn này phát sanh.

Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Này Tỳ-kheo! Các thầy hãy nói như vậy. Vì sao như thế? Như Lai cũng nói như vầy: Duyên vô minh nên có hành, duyên hành nên có thức, duyên thức nên có danh sắc, duyên danh sắc nên có sáu xứ, duyên sáu xứ nên có xúc, duyên xúc nên có thọ, duyên thọ nên có ái, duyên ái nên có thủ, duyên thủ nên có hữu, duyên hữu nên có sanh, duyên sanh nên có già, chết, sầu bi, khóc than, buồn khổ, muộn phiền. Như vậy là toàn bộ khối khổ lớn này phát sanh.

Nếu sanh diệt thì già, chết diệt. Ở đây nói do sanh diệt thì già, chết diệt. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Sanh diệt thì già, chết diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do sanh diệt thì già, chết diệt.

  • Hữu diệt thì sanh diệt. Ở đây nói do hữu diệt thì sanh diệt. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Hữu diệt thì sanh diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do hữu diệt thì sanh diệt.

[0768c01] – Thủ diệt thì hữu diệt. Ở đây nói do thủ diệt thì hữu diệt. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Thủ diệt thì hữu diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do thủ diệt thì hữu diệt.

  • Ái diệt thì thủ diệt. Ở đây nói do ái diệt thì thủ diệt, ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Ái diệt thì thủ diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do ái diệt thì thủ diệt.

  • Thọ diệt thì ái diệt. Ở đây nói do thọ diệt thì ái diệt. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Thọ diệt thì ái diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do thọ diệt thì ái diệt.

  • Xúc diệt thì thọ diệt. Ở đây nói do xúc diệt thì thọ diệt. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Xúc diệt thì thọ diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do xúc diệt thì thọ diệt.

  • Sáu xứ diệt thì xúc diệt. Ở đây nói do sáu xứ diệt thì xúc diệt. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Sáu xứ diệt thì xúc diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do sáu xứ diệt thì xúc diệt.

  • Danh sắc diệt thì sáu xứ diệt. Ở đây nói do danh sắc diệt thì sáu xứ diệt.

Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Danh sắc diệt thì sáu xứ diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do danh sắc diệt thì sáu xứ diệt.

  • Thức diệt thì danh sắc diệt. Ở đây nói do thức diệt thì danh sắc diệt. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Thức diệt thì danh sắc diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do thức diệt thì danh sắc diệt.

  • Hành diệt thì thức diệt. Ở đây nói do hành diệt thì thức diệt. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Hành diệt thì thức diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do hành diệt thì thức diệt.

  • Vô minh diệt thì hành diệt. Ở đây nói do vô minh diệt thì hành diệt. Ý các thầy nghĩ sao?

Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Vô minh diệt thì hành diệt, ý chúng con như vậy. Vì sao như thế? Vì do vô minh diệt thì hành diệt.

Như vậy, vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì sáu xứ diệt, sáu xứ diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì già chết diệt, sầu bi, khóc than, buồn khổ, muộn phiền diệt. Như vậy là toàn bộ khối khổ lớn này bị diệt.

[0769a03] Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Này Tỳ-kheo! Các thầy hãy nói như vậy. Vì sao như thế? Như Lai cũng nói như vầy: Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì sáu xứ diệt, sáu xứ diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì già, chết diệt, sầu bi, khóc than, buồn khổ, muộn phiền diệt. Như vậy là toàn bộ khối khổ lớn này bị diệt.

Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy thấy như vậy, biết như vậy thì đối với quá khứ, các thầy có nghĩ rằng: “Ta hiện hữu trong thời quá khứ, hay ta không hiện hữu trong thời quá khứ? Ta hiện hữu trong thời quá khứ như thế nào? Do điều gì mà được hiện hữu trong thời quá khứ” chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy thấy như vậy, biết như vậy thì đối với vị lai, các thầy có nghĩ rằng: “Ta sẽ hiện hữu trong thời vị lai hay ta sẽ không hiện hữu trong thời vị lai? Ta hiện hữu trong thời vị lai như thế nào? Do điều gì mà được hiện hữu trong thời vị lai” chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy đã thấy như vậy, biết như vậy thì trong tâm của các thầy có còn nghi ngờ: “Đây là cái gì? Đây là thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Sẽ đi về đâu? Do nhân gì mà đã có? Do nhân gì mà sẽ có” chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy đã thấy như vậy, biết như vậy thì các thầy có giết cha mẹ, hại bậc Thanh văn A-la-hán,[7] phá hoại Thánh chúng, ác tâm với Phật, làm Như Lai chảy máu chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen ngợi:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy đã thấy như vậy, biết như vậy thì các thầy có phạm giới, xả giới và bỏ đạo chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy đã thấy như vậy, biết như vậy thì các thầy có lìa bỏ đạo của mình rồi tìm ngoại đạo làm thầy, để cầu ruộng phước chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy biết như vậy, thấy như vậy thì đối với các Sa-môn, Phạm chí, các thầy có nói như vầy: “Thưa chư Tôn! Các ngài đã thấy điều đáng thấy, đã biết điều đáng biết” chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn![0769b01] Đức Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy thấy như vậy, biết như vậy thì các thầy liệu có cho rằng điềm lành[8] là thanh tịnh chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy thấy như vậy, biết như vậy thì các thầy có thấy những kiến chấp liên hệ đến dấu hiệu điềm lành của các Sa-môn, Phạm chí xen lẫn khổ đau, xen lẫn độc hại, xen lẫn bứt rứt, xen lẫn phiền toái là chân thật chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy thấy như vậy, biết như vậy thì khi thân thể bị bệnh tật hành hạ đau đớn, gần như mất mạng, các thầy có bỏ đạo của mình để tìm cầu ngoại đạo: “Mong có Sa-môn, Phạm chí nào đó trì cho một câu chú, hoặc hai câu, ba câu, bốn câu, nhiều câu, trăm câu... khiến tôi thoát khổ”, là cách suy tầm về khổ, về sự tập khởi của khổ để được hết khổ chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy thấy như vậy, biết như vậy thì các thầy có phải tám lần thọ sanh chăng?

Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy thấy như vậy, biết như vậy thì các thầy có nói như vầy: “Chúng ta cung kính Sa-môn, kính trọng Sa-môn, vì Samôn Cù-đàm là bậc Tôn sư của chúng ta” chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Đức Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Nếu các thầy nhờ sự tự thấy, tự biết, tự giác ngộ rồi thành tựu Giác ngộ Tối thượng thì các thầy có tùy theo những điều được hỏi mà trả lời chăng?

Các Tỳ-kheo đáp:

  • Thưa có, bạch Thế Tôn!

Thế Tôn khen:

  • Lành thay! Lành thay! Như Lai đã thật sự điều phục các thầy với những pháp hoàn toàn rốt ráo, không não phiền, không nóng bức, thường hằng, không biến đổi, được biết bởi chánh trí, được thấy bởi chánh trí, được giác ngộ bởi chánh trí. Vì lý do đó mà Như Lai đã nói: “Ta sẽ nói cho các thầy nghe về pháp hoàn toàn rốt ráo, không não phiền, không nóng bức, thường hằng, không biến đổi, được biết bởi chánh trí, được thấy bởi chánh trí, được giác ngộ bởi chánh trí.”

Lại nữa, có ba sự hòa hợp để thác sanh vào thai mẹ. Đó là, cha mẹ ở chung một chỗ, người mẹ trong thời kỳ có thể thọ thai và hương ấm đang có mặt. Do ba sự hòa hợp này mới thác sanh vào thai mẹ. Thai mẹ được giữ gìn chín tháng hay mười tháng rồi sanh. Sanh rồi, được nuôi dưỡng bằng máu. Máu đó ở trong Thánh pháp gọi là sữa mẹ. Sau một thời gian, các căn của đứa bé lớn dần lên cho đến khi đầy đủ, biết ăn cơm ăn cháo, biết dùng dầu tô xoa thân.

Mắt đứa trẻ thấy sắc, liền ưa thích sắc đẹp, ghét bỏ sắc xấu. Đứa trẻ sống không an trú niệm tại thân, sống với tâm hạn hẹp, không biết như thật về tâm giải thoát, về tuệ giải thoát; những pháp ác bất thiện được sanh ra không bị diệt tận hoàn toàn, không bị hủy hoại hoàn toàn. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy. Ý đứa trẻ nhận biết pháp, liền ưa thích cái đẹp, ghét bỏ cái xấu. Đứa trẻ sống không an trú niệm tại thân, sống với tâm hạn hẹp, không biết như thật về Tâm giải thoát, về Tuệ giải thoát; những pháp ác bất thiện được sanh ra không bị diệt tận hoàn toàn, không bị hủy hoại hoàn toàn. Đứa trẻ ấy tùy theo những gì ưa, ghét mà sanh khởi cảm thọ, hoặc vui, hoặc khổ, hoặc không khổ không vui. Nó hân hoan với cảm thọ ấy, rồi tìm cầu, chấp trước, chấp thủ cảm thọ ấy. Sau khi hân hoan cảm thọ ấy, nó tìm cầu, chấp trước, chấp thủ cảm thọ ấy rồi, nếu đó là cảm thọ vui thì chấp thủ chúng, rồi do duyên thủ này mà có hữu, do duyên hữu mà có sanh, do duyên sanh mà có già, chết, sầu, bi, khóc than, ưu khổ, ảo não. Như thế toàn bộ khối khổ lớn này phát sanh.

Này Tỳ-kheo! Phải chăng đó là toàn bộ sự trói buộc vững chắc bởi ái, giống như Tỳ-kheo Trà-đế, con trai của ông Kê-hòa-đa?

[0769c11] Tỳ-kheo thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Thật vậy, toàn bộ sự trói buộc vững chắc bởi ái, giống như Tỳ-kheo Trà-đế, con trai của ông Kê-hòa-đa.

  • Khi đấng Như Lai thị hiện ở đời, là bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Mắt Như Lai thấy sắc nhưng đối với sắc đẹp không ưa thích, không chấp trước, đối với sắc xấu cũng không ghét bỏ. Như Lai an lập niệm tại thân với tâm vô lượng, biết như thật về Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát, các pháp ác bất thiện đã sanh bị tận diệt hoàn toàn, bị hủy hoại hoàn toàn. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy. Ý Như Lai  nhận biết pháp, đối với cái đẹp không không chấp trước, đối với cái xấu không ghét bỏ, an lập niệm tại thân với tâm vô lượng, biết như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát, các pháp ác bất thiện đã sanh bị tận diệt hoàn toàn, bị hủy hoại hoàn toàn. Đấng Như Lai đã như thật trừ diệt sự sân hận, không còn sân hận bởi những cảm thọ, hoặc vui, hoặc khổ, hoặc không khổ không vui. Ta không ưa thích cảm thọ ấy, không tìm cầu, không chấp trước, không chấp thủ cảm thọ. Do không ưa thích cảm thọ ấy nên Ta không tìm cầu, không chấp trước, không chấp thủ theo cảm thọ ấy. Nếu có cảm thọ yêu thích, Ta liền trừ diệt. Yêu thích diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu hiệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì già-chết diệt, sầu bi, khóc than, buồn khổ, muộn phiền cũng đều bị trừ diệt. Như vậy là toàn bộ khối khổ lớn này bị trừ diệt.

Này Tỳ-kheo! Phải chăng, khi toàn bộ ái dục bị diệt trừ thì sẽ được giải thoát?

Tỳ-kheo đáp:

  • Bạch Thế Tôn! Quả thật như vậy, khi toàn bộ ái dục bị diệt trừ thì sẽ được giải thoát.

Khi Như Lai nói bài pháp này, ba ngàn đại thiên thế giới chấn động đến ba lần, hết chấn động rồi lại chấn động, hết rung chuyển rồi lại rung chuyển, hết rền vang rồi lại rền vang. Với ý nghĩa trên, bài kinh này được gọi là: “Ái tận thì giải thoát.”

Đức Phật thuyết giảng như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.[9]

Chú thích:

[1] Tựa đề được đức Phật định danh ở cuối bài kinh. Kinh này gọi là Ái tận thì giải thoát (此經稱愛盡解脫). Nguyên tác: Trà-đế kinh 嗏帝經 (T.01. 0026.201. 0766b28). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02.

[2] .21.3. 0602c16); M. 38, Mahātaṇhāsaṅkhaya Sutta (Đại kinh đoạn tận ái).

[3] Trà-đế (嗏帝, Sāti).

[4] Kê-hòa-đa tử (雞和哆子, Kevaṭṭaputta): Con của người đánh cá.

[5] Nguyên tác: Giác, tác, giáo tác, khởi, đẳng khởi (覺,作,教作,起,等起). Tham chiếu: A-tỳ-đạt-ma Pháp uẩn túc luận 阿毘達磨法蘊足論 (T.26. 1537.10. 0507b20): Các thức như vậy, lấy hành làm duyên, nương tựa nơi hành, do hành dựng lập, cùng nhau phát khởi, cùng nhau sanh ra, tụ tập xuất

hiện, gọi hành duyên thức (如是諸識,行為緣,行為依,行為建立故,起等起,生等生,聚集出現,故名行緣識).

[6] Nguyên tác: Chân thuyết (真說), được hiểu là một thực thể, một sự hiện hữu, sự sinh thành. P. Bhava. Tham chiếu: S. 12.31 - II .47: Bhūta (được sanh thành) là quá khứ phân từ của bhavati, nghĩa là hiện hữu, sự có mặt.

[7] Nguyên tác: Đệ tử A-la-ha (弟子阿羅訶). Đệ tử (弟子) trong cú ngữ này, Pāli gọi là sāvaka, cũng mang nghĩa là “bậc Thanh văn.”

[8] Nguyên tác: Cát tường (吉祥). M. 38: Maṅgala, có nghĩa là cát tường, điềm lành, tế đàn. 

[9] Bản Hán, hết quyển 54.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.