Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, có Tỳ-kheo A-lê-tra[2] vốn là người Già-đà-bà-lê[3] đã phát sanh nhận thức sai lầm như vầy: “Tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Hành dục không bị chướng ngại.’”[4]
Các Tỳ-kheo nghe vậy liền đi đến chỗ Tỳ-kheo A-lê-tra rồi hỏi:
Này A-lê-tra! Có phải thầy đã nói: “Tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Hành dục không bị chướng ngại’” chăng?
Khi ấy, A-lê-tra đáp:
Thưa chư Hiền! Thật sự tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: “Hành dục không bị chướng ngại.”
Các Tỳ-kheo liền khiển trách A-lê-tra:
Thầy chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc đức Thế Tôn, xuyên tạc đức Thế Tôn là không tốt. Đức Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này A-lê-tra, dục là pháp chướng ngại. Đức Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói dục là pháp chướng ngại. Này A-lê-tra, thầy nên xả bỏ nhận thức sai lầm ấy.
Tỳ-kheo A-lê-tra bị các Tỳ-kheo khiển trách, nhưng vẫn cố chấp nhận thức sai lầm của mình và nhất quyết nói: “Đây là điều chân thật, ngoài ra là hư vọng” và lặp lại ba lần như vậy. Số đông các Tỳ-kheo không thể khuyên bảo Tỳ-kheo A-lê-tra xả bỏ nhận thức sai lầm ấy, liền đứng dậy ra về, đi đến chỗ Phật, cúi lạy sát chân Ngài rồi ngồi sang một bên và thưa:
Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo A-lê-tra phát sanh nhận thức sai lầm như vầy: “Tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Hành dục không bị chướng ngại.’” Bạch Thế Tôn, chúng con nghe vậy, liền đi đến chỗ Tỳ-kheo A-lê-tra và hỏi: “Này A-lê-tra, có phải thầy đã nói như vầy: ‘Tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Hành dục không bị chướng ngại’’ chăng?” Tỳ-kheo A-lê-tra trả lời chúng con rằng: “Thưa chư Hiền, thật sự tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Hành dục không bị chướng ngại.’”
Bạch Thế Tôn! Chúng con khiển trách rằng: “Này A-lê-tra, chớ nói như thế, chớ xuyên tạc đức Thế Tôn, xuyên tạc đức Thế Tôn là không tốt. Đức Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này A-lê-tra, dục là pháp chướng ngại. Đức Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói dục là pháp chướng ngại. Này A-lê-tra, thầy nên xả bỏ nhận thức sai lầm ấy.”
Chúng con khiển trách rồi nhưng Tỳ-kheo A-lê-tra vẫn cố chấp nhận thức sai lầm của mình và nhất quyết nói: “Đây là điều chân thật, ngoài ra là hư vọng” và lặp lại ba lần như vậy. Bạch Thế Tôn, chúng con không thể khuyên bảo Tỳkheo A-lê-tra xả bỏ nhận thức sai lầm ấy nên đứng dậy ra về.
Đức Thế Tôn nghe xong liền bảo một thầy Tỳ-kheo:
Thầy hãy đến chỗ Tỳ-kheo A-lê-tra và nói như vầy: “Đức Thế Tôn truyền gọi thầy.”
[0763c02] Bấy giờ, vị Tỳ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, rời chỗ ngồi đứng dậy, cúi lạy sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi đi đến chỗ Tỳ-kheo A-lêtra và nói:
Thế Tôn truyền gọi thầy.
Tỳ-kheo A-lê-tra liền đi đến chỗ Phật, cúi lạy sát chân Ngài rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn hỏi:
Này A-lê-tra, có đúng là thầy đã nói như vầy: “Tôi hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: ‘Hành dục không bị chướng ngại’” chăng?
A-lê-tra đáp:
Bạch Thế Tôn! Quả thật con hiểu đức Thế Tôn nói pháp như vầy: “Hành dục không bị chướng ngại.”
Đức Thế Tôn khiển trách:
Này A-lê-tra! Bằng cách nào mà thầy hiểu Ta nói pháp như vậy? Thầy nghe từ miệng người nào mà cho rằng Ta nói pháp như vậy? Thầy quả là người mê muội. Ta không nói một chiều mà thầy lại đi nói một chiều. Thầy là người mê muội! Khi nghe các Tỳ-kheo cùng khiển trách, bấy giờ thầy phải đúng như pháp mà trả lời. Hôm nay, Ta sẽ hỏi lại các Tỳ-kheo.
Rồi đức Thế Tôn liền hỏi các Tỳ-kheo:
Các thầy cũng hiểu Ta nói pháp như vầy: “Hành dục không bị chướng ngại” chăng?
Bấy giờ, các Tỳ-kheo đáp:
Bạch Thế Tôn, không phải vậy!
Đức Thế Tôn hỏi:
Các thầy hiểu Ta nói pháp như thế nào?
Các Tỳ-kheo đáp:
Bạch Thế Tôn! Chúng con hiểu Thế Tôn nói pháp như vầy: “Dục là pháp chướng ngại. Thế Tôn đã nói dục là pháp chướng ngại. Dục như bộ xương khô, Thế Tôn đã nói dục như bộ xương khô. Dục như miếng thịt, Thế Tôn đã nói dục như miếng thịt. Dục như cây đuốc trong tay, Thế Tôn đã nói dục như cây đuốc trong tay. Dục như hầm lửa, Thế Tôn đã nói dục như hầm lửa. Dục như rắn độc, Thế Tôn đã nói dục như rắn độc. Dục như giấc mộng, Thế Tôn đã nói dục như giấc mộng. Dục như đồ vay mượn, Thế Tôn đã nói dục như đồ vay mượn. Dục như trái cây, Thế Tôn đã nói dục như trái cây.” Chúng con hiểu Thế Tôn nói pháp như vậy.
Đức Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Này các Tỳ-kheo, các thầy hiểu Ta nói pháp như vậy. Vì sao như thế? Vì Ta cũng nói: Dục là pháp chướng ngại, Ta đã nói dục là pháp chướng ngại. Dục như bộ xương khô, Ta đã nói dục như bộ xương khô. Dục như miếng thịt, Ta đã nói dục như miếng thịt. Dục như cây đuốc trong tay, Ta đã nói dục như cây đuốc trong tay. Dục như hầm lửa, Ta nói đã dục như hầm lửa. Dục như rắn độc, Ta đã nói dục như rắn độc. Dục như giấc mộng, Ta đã nói dục như giấc mộng. Dục như đồ vay mượn, Ta đã nói dục như đồ vay mượn. Dục như trái cây, Ta đã nói dục như trái cây.
[0764a02] Đức Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Các thầy hiểu Ta nói pháp như vậy. Nhưng A-lê-tra là người mê muội, đã ghi nhớ và hiểu biết sai lệch về nghĩa và văn. Thầy ấy do tự ghi nhớ và hiểu biết sai lệch nên đã xuyên tạc Như Lai, tự gây tổn hại cho mình, có tội, có phạm, là điều mà các bậc Phạm hạnh có trí không hoan hỷ nên mắc một tội lớn.[5] Này người mê muội kia, thầy có biết chỗ xấu ác, bất thiện này chăng?
Lúc ấy, Tỳ-kheo A-lê-tra bị đức Thế Tôn khiển trách, trong lòng rầu rĩ, cúi đầu im lặng, không lời biện bạch, lộ vẻ suy tư. Sau khi đức Thế Tôn đã khiển trách Tỳ-kheo A-lê-tra, Ngài lại nói với các Tỳ-kheo:
Nếu pháp Ta nói mà ý nghĩa được hiểu biết đầy đủ, tường tận thì nên thọ trì đúng như vậy. Nếu pháp Ta nói mà ý nghĩa không được hiểu biết đầy đủ, tường tận thì phải hỏi lại Ta hay các bậc Phạm hạnh có trí. Vì sao như vậy? Vì có những người ngu muội ghi nhớ và hiểu biết sai lệch cả nghĩa và văn. Do họ tự mình ghi nhớ và hiểu biết sai lệch, cho nên mới hiểu pháp kia như vậy, như vậy, tức là Chánh kinh, Ca vịnh, Ký thuyết, Kệ-tha, Nhân duyên, Soạn lục, Bản khởi, Thử thuyết, Sanh xứ, Quảng giải, Vị tằng hữu pháp và Thuyết nghĩa.[6] Người ấy nhờ tranh luận mà biết ý nghĩa này, chứ không phải do giải thoát mà biết ý nghĩa này. Tuy họ biết pháp này nhưng không hiểu được ý nghĩa nên chỉ chuốc lấy cực khổ luống công, tự gây phiền nhọc. Vì sao như vậy? Vì họ ghi nhớ và hiểu pháp một cách sai lệch.
Như có người muốn bắt được rắn, liền đi tìm rắn. Khi đi tìm rắn, người đó đi vào rừng hoang, thấy con rắn rất lớn, liền bước tới, dùng tay nắm lấy lưng rắn; rắn liền ngóc đầu quay lại mổ vào tay, chân, hoặc các bộ phận khác trên thân. Người đó làm nghề bắt rắn nhưng không thành tựu được mục đích mà chỉ chuốc lấy cực khổ luống công, tự gây phiền nhọc. Vì sao như vậy? Vì người ấy không biết rõ cách bắt rắn. Cũng vậy, như có những người ngu muội ghi nhớ và hiểu biết sai lệch cả nghĩa và văn. Do họ tự mình ghi nhớ và hiểu biết sai lệch, cho nên mới hiểu pháp kia như vậy, như vậy, tức là Chánh kinh, Ca vịnh, Ký thuyết, Kệ-tha, Nhân duyên, Soạn lục, Bản khởi, Thử thuyết, Sanh xứ, Quảng giải, Vị tằng hữu pháp và Thuyết nghĩa. Họ nhờ tranh luận mà biết ý nghĩa này chứ không phải do giải thoát mà biết ý nghĩa này. Tuy họ biết pháp này, nhưng không hiểu được ý nghĩa nên chỉ chuốc lấy cực khổ luống công, tự gây phiền nhọc. Vì sao như thế? Vì họ ghi nhớ và hiểu pháp một cách sai lệch.
Nếu như có người thiện nam ghi nhớ và hiểu biết không sai lệch cả nghĩa và văn. Vị ấy do ghi nhớ và hiểu biết không sai lệch, cho nên hiểu pháp kia như vậy, như vậy, tức là Chánh kinh, Ca vịnh, Ký thuyết, Kệ-tha, Nhân duyên, Soạn lục, Bản khởi, Thử thuyết, Sanh xứ, Quảng giải, Vị tằng hữu pháp và Thuyết nghĩa. Vị ấy không vì tranh luận mà biết ý nghĩa này, chỉ nhờ giải thoát mà biết được ý nghĩa này. Vị ấy biết pháp này và cũng hiểu được ý nghĩa nên không chuốc lấy cực khổ luống công, không tự gây phiền nhọc. Vì sao như thế? Vì vị ấy ghi nhớ và hiểu pháp không sai lệch.
[0764b06] Cũng như có người muốn bắt rắn, liền đi tìm rắn. Khi đi tìm rắn, người ấy tay cầm gậy sắt, đi vào rừng hoang, thấy một con rắn rất lớn, liền lấy gậy sắt đè lên đầu con rắn, rồi dùng tay nắm đầu nó. Rắn tuy quay đuôi lại quấn tay, quấn chân, hoặc các thân phần khác, nhưng nó không thể cắn được. Người ấy làm nghề bắt rắn và đã thành tựu được mục đích, không chuốc lấy cực khổ luống công, cũng không tự gây phiền nhọc. Vì sao như thế? Vì người ấy khéo biết cách bắt rắn. Cũng vậy, như có người thiện nam ghi nhớ và hiểu biết không sai lệch cả nghĩa và văn. Vị ấy do ghi nhớ và hiểu biết không sai lệch cho nên hiểu pháp kia như vậy, như vậy, tức Chánh kinh, Ca vịnh, Ký thuyết, Kệ-tha, Nhân duyên, Soạn lục, Bản khởi, Thử thuyết, Sanh xứ, Quảng giải, Vị tằng hữu pháp và Thuyết nghĩa. Vị ấy không vì tranh luận mà biết ý nghĩa này, chỉ nhờ giải thoát mà biết được ý nghĩa này. Vị ấy biết pháp này và cũng hiểu được ý nghĩa nên không chuốc lấy cực khổ luống công, không tự gây phiền nhọc. Vì sao như thế? Vì vị ấy ghi nhớ và hiểu pháp không sai lệch.
Ta thường nói cho các thầy nghe ví dụ về chiếc bè, để các thầy biết mà xả bỏ, chứ không phải để chấp thủ.
Ta thường nói cho các thầy nghe ví dụ về chiếc bè, để các thầy biết mà xả bỏ, chứ không phải để chấp thủ, nghĩa là thế nào?
Ví như dòng nước lũ từ núi đổ xuống, rất sâu, rất rộng, chảy xiết cuốn trôi nhiều thứ. Nơi đó không có thuyền bè, cũng chẳng có cầu ngang. Như có người đi đến, vì có việc cần qua bờ bên kia nên người ấy nghĩ rằng: “Ở đây, có dòng nước lũ từ núi đổ xuống, rất sâu, rất rộng, chảy xiết và cuốn trôi nhiều thứ. Nơi đây không có thuyền bè, cũng chẳng có cầu ngang. Ta có công việc cần phải qua bờ bên kia thì phải dùng phương tiện gì để đến bờ bên kia được yên ổn?” Lại suy nghĩ: “Nay ở bờ bên này, ta hãy góp nhặt cỏ, cây, cột làm bè rồi nương vào đó để qua sông.”
Người ấy liền ở bờ bên này góp nhặt cỏ, cây cột lại làm bè[7] rồi nương vào đó để qua sông. Đến bờ bên kia được yên ổn, liền nghĩ rằng: “Chiếc bè này có nhiều ích lợi. Nhờ nó mà ta đã yên ổn bơi từ bờ bên kia sang bờ bên này. Nay ta hãy vác nó lên vai phải hoặc đội trên đầu mà đi.” Người ấy liền vác chiếc bè trên vai phải, hoặc đội trên đầu mà đi. Ý các thầy nghĩ sao? Người ấy làm như vậy, có thể có lợi ích gì đối với chiếc bè chăng?
[0764c04] Bấy giờ, các Tỳ-kheo đáp:
- Thưa không, bạch Thế Tôn!
Đức Thế Tôn lại nói:
Người ấy phải làm thế nào để được lợi ích đối với chiếc bè? Người ấy phải nghĩ như vầy: “Chiếc bè này có nhiều lợi ích. Nhờ nó mà ta an ổn từ bờ kia sang bờ này. Nay ta nên thả chiếc bè này trở lại trong nước, hoặc để nó trên bờ rồi bỏ đi chăng?” Người ấy liền đem chiếc bè này thả lại trong nước, hoặc để nó trên bờ rồi bỏ đi. Ý các thầy nghĩ sao? Người ấy làm như vậy có ích lợi gì đối với chiếc bè chăng?
Bấy giờ, các thầy Tỳ-kheo đáp:
Thưa có, bạch Thế Tôn!
Đức Thế Tôn dạy:
Cũng vậy, Ta đã vì các thầy mà thường nói pháp ví dụ về chiếc bè, để các thầy biết mà xả bỏ, chứ không phải để chấp thủ. Thế nên các thầy phải biết Ta thường nói pháp ví dụ về chiếc bè là để thấy rằng: Với pháp chân thật[8] còn phải xả bỏ, huống là phi pháp.
Lại nữa, có sáu kiến xứ.[9] Đó là những gì? Tỳ-kheo, đối với những gì thuộc sắc ở quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc tinh, hoặc thô, hoặc đẹp, hoặc xấu, hoặc gần, hoặc xa, tất cả sắc ấy không phải là sở hữu của ta, ta không là sở hữu của sắc ấy, sắc ấy không phải là tự ngã.[10] Quán sát bằng tuệ giác như vậy để biết như thật về chúng.
Những gì thuộc thọ, thuộc tưởng,11 những gì thuộc về kiến chấp này đều không phải là sở hữu của ta, ta không là sở hữu của chúng, ta sẽ không có, ta sẽ không hiện hữu, tất cả chúng đều không là sở hữu của ta, ta không phải là sở hữu của chúng, cũng không phải là tự ngã. Quán sát bằng tuệ giác như vậy để biết như thật về chúng.
Những gì thuộc về kiến chấp này, như thấy, nghe, nhận biết,[11] được thủ đắc, được quán sát, được tư niệm bởi ý, từ đời này đến đời kia, từ đời kia đến đời này; tất cả chúng đều không là sở hữu của ta, ta không là sở hữu của chúng, cũng không phải là tự ngã. Quán sát bằng tuệ giác như vậy để biết như thật về chúng.
Những gì thuộc về kiến chấp này, như “đây là tự ngã,[12] đây là thế gian, đây là ta, ta sẽ hiện hữu ở đời sau, là pháp thường trú, không biến chuyển, là pháp hằng hữu, không hủy hoại; tất cả chúng đều không phải là sở hữu của ta, ta không là sở hữu của chúng, cũng không phải là tự ngã.” Quán sát bằng tuệ giác như vậy để biết như thật về chúng.
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên phải, chắp tay hướng Phật và thưa:
Bạch Thế Tôn! Có sự việc nào do bên trong mà gây ra sợ hãi chăng?[13]Đức Thế Tôn đáp:
Có điều ấy.
[0765a01] Tỳ-kheo ấy lại hỏi:
Bạch Thế Tôn! Thế nào là do bên trong mà gây ra sợ hãi?
Đức Thế Tôn đáp:
Nếu Tỳ-kheo thấy như vầy, nói như vầy: “Sự việc kia, lúc trước có thể là không, giả như chúng hiện hữu thì ta cũng không có được.” Do thấy như vậy, nói như vậy nên vị ấy ưu sầu, phiền muộn, khóc than, đấm ngực, phát cuồng si. Này Tỳ-kheo, như vậy là do bên trong mà có sợ hãi.
Nghe xong, Tỳ-kheo ấy ca tụng đức Thế Tôn, rồi lại hỏi:
Bạch Thế Tôn! Có sự việc nào do bên trong mà không gây ra sợ hãi chăng?
Đức Thế Tôn đáp:
Có điều ấy!
Tỳ-kheo ấy lại hỏi:
Bạch Thế Tôn! Thế nào là do bên trong mà không có sợ hãi?
Đức Thế Tôn đáp:
Nếu Tỳ-kheo không thấy như vầy, không nói như vầy: “Sự việc kia lúc trước có thể là không, nếu như chúng hiện hữu thì ta cũng không thể có được.” Tỳ-kheo đó do không thấy như vậy, không nói như vậy nên vị ấy không ưu sầu, không phiền muộn, không khóc than, không đấm ngực, không phát cuồng si. Này Tỳ-kheo, như vậy là do bên trong mà không có sợ hãi.
Tỳ-kheo ấy ca tụng đức Thế Tôn, rồi lại hỏi:
Bạch Thế Tôn! Có sự kiện nào do bên ngoài mà có sợ hãi chăng?[14]Đức Thế Tôn đáp:
Có điều ấy!
Tỳ-kheo ấy lại hỏi:
Bạch Thế Tôn! Thế nào là do bên ngoài mà có sợ hãi?
Đức Thế Tôn đáp:
Nếu Tỳ-kheo thấy như vầy, nói như vầy: “Đây là tự ngã, đây là thế gian, đây là ta, ta sẽ hiện hữu ở đời sau.” Do thấy như vậy, nói như vậy nên khi gặp Như Lai, hoặc đệ tử của Như Lai, thông minh trí tuệ, nói năng khéo léo, thành tựu trí tuệ. Bấy giờ, Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai vì muốn diệt trừ tất cả kiến chấp về thân thường trụ[15] cho nên nói pháp, khiến người ấy lìa bỏ tất cả lậu, tất cả ngã và hành vi của ngã, diệt trừ kiết sử kiêu mạn, cho nên nói pháp. Người ấy được nghe Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai, vì muốn diệt trừ tất cả kiến chấp về thân thường trụ cho nên nói pháp, vì để người ấy lìa bỏ tất cả lậu, tất cả ngã và hành vi của ngã, diệt kiết sử kiêu mạn cho nên nói pháp, người ấy liền ưu sầu, phiền muộn, khóc than, đấm ngực, phát cuồng si và nói như vầy: “Ta sẽ bị đoạn diệt, không còn tái sanh nữa.” Vì sao như vậy? Này Tỳ-kheo, vì người ấy trong một thời gian dài thường sống với những điều không đáng yêu, không đáng thích, không nên nhớ nghĩ. Cho nên người ấy ưu sầu, phiền muộn, khóc than, đấm ngực, phát cuồng si. Này Tỳ-kheo, như vậy là do bên ngoài mà có sợ hãi.
Tỳ-kheo ấy tán thán đức Thế Tôn, rồi lại hỏi:
Bạch Thế Tôn! Có sự kiện nào do bên ngoài mà không có sợ hãi chăng?
Đức Thế Tôn đáp:
Có điều ấy!
Tỳ-kheo ấy lại hỏi:
Bạch Thế Tôn! Thế nào là do bên ngoài mà không có sợ hãi?
Đức Thế Tôn đáp:
Nếu Tỳ-kheo không thấy như vầy, không nói như vầy: “Đây là tự ngã, đây là thế gian, đây là ta, ta sẽ hiện hữu ở đời sau.” Và do không thấy như vậy, không nói như vậy, khi vị ấy gặp Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai, thông minh trí tuệ, nói năng khéo léo, thành tựu trí tuệ; và bấy giờ, Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai, vì diệt trừ tất cả kiến chấp về thân thường trụ cho nên nói pháp, vì để người ấy lìa bỏ tất cả lậu, tất cả ngã và hành vi của ngã, diệt kiết sử kiêu mạn, cho nên nói pháp. Người ấy, được nghe Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai, vì diệt trừ tất cả tự thân cho nên nói pháp, vì lìa bỏ tất cả lậu, tất cả ngã và hành vi của ngã, diệt kiết sử kiêu mạn cho nên nói pháp; người ấy không ưu sầu, không phiền muộn, không khóc than, không đấm ngực, không phát cuồng si và không nói như vầy: “Ta sẽ bị đoạn diệt, không còn tái sanh nữa.” Vì sao như vậy? Này Tỳ-kheo, vì người ấy trong một thời gian dài thường sống với những điều đáng yêu, đáng thích, đáng nhớ nghĩ, cho nên không ưu sầu, không phiền muộn, không khóc than, không đấm ngực, không phát cuồng si. Này Tỳ-kheo, như vậy là do bên ngoài mà không có sự sợ hãi.
[0765b13] Bấy giờ, Tỳ-kheo ấy tán thán đức Thế Tôn:
Lành thay! Lành thay!
Sau khi tán thán lành thay, vị ấy cẩn thận ghi nhớ, tụng tập những điều Phật dạy rồi liền ngồi im lặng. Bấy giờ, đức Thế Tôn khen các Tỳ-kheo:
Lành thay! Lành thay! Này Tỳ-kheo, các thầy chấp thủ[16] những điều đáng được chấp thủ như vậy. Sau khi chấp thủ không sanh ưu sầu, phiền muộn, khóc than, không đấm ngực, không phát cuồng si chăng? Các thầy có thấy những điều đáng được chấp thủ không sanh ưu sầu, phiền muộn, khóc than, không đấm ngực, không phát cuồng si chăng?
Tỳ-kheo đáp:
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Đức Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Các thầy nương tựa vào kiến chấp đáng được nương tựa như vậy.[17] Sau khi kiến chấp lại không sanh ưu sầu, không phiền muộn, không khóc than, không đấm ngực, không phát cuồng si chăng? Các thầy có kiến chấp, nương tựa vào kiến chấp đáng được nương tựa như vậy, sau khi kiến chấp lại không sanh ưu sầu, không phiền muộn, không khóc than, không đấm ngực, không phát cuồng si chăng?
Tỳ-kheo đáp:
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Đức Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Các thầy chấp thủ về thân như vầy: Thân được sở hữu này là thường trụ không thay đổi, là pháp không hoại diệt. Nhưng các thầy có thấy thân được chấp thủ như vậy và sau khi thân được chấp thủ thì có thường trụ không thay đổi, là pháp không hoại diệt chăng?
Tỳ-kheo đáp:
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Đức Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Đó gọi là, do có tự ngã mà có cái tôi, nếu không có tự ngã thì không có cái tôi. Do vậy, tự ngã này những thứ thuộc về tự ngã đều không thể nắm bắt, không thể dựng lập, cho đến cơ sở của kiến chấp trong tâm, những trói buộc, các kiết sử cũng không thể nắm bắt và không thể dựng lập. Này Tỳ-kheo, đây chẳng phải là nói đầy đủ về kiến chấp và sự vững chãi của kiến chấp,[18] giống như Tỳ-kheo A-lê-tra, vốn là một người Già-đà-bà-lê chăng?
[0765c03] Tỳ-kheo đáp:
Thật sự như vậy, bạch Thế Tôn! Như vậy là đã nói đầy đủ về kiến chấp và sự vững chãi của kiến chấp, giống như Tỳ-kheo A-lê-tra, vốn là một người Già-đà-bà-lê.
Lại nữa, có sáu kiến xứ. Đó là những gì? Tỳ-kheo, đối với những gì thuộc sắc ở quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc tinh, hoặc thô, hoặc đẹp, hoặc xấu, hoặc gần, hoặc xa; tất cả sắc ấy không phải là sở hữu của ta, ta không là sở hữu của sắc ấy, sắc ấy không phải là tự ngã. Quán sát bằng tuệ giác như vậy để biết như thật về chúng.
Những gì thuộc thọ, thuộc tưởng, những gì thuộc về kiến này, đều không phải là sở hữu của ta, ta không là sở hữu của chúng, ta sẽ không có, ta sẽ không hiện hữu, tất cả chúng đều không là sở hữu của ta, ta không phải là sở hữu của chúng, cũng không phải là tự ngã. Quán sát bằng tuệ giác như vậy để biết như thật về chúng.
Những gì thuộc về kiến chấp này như thấy, nghe, nhận biết, được thủ đắc, được quán sát, được tư niệm bởi ý, từ đời này đến đời kia, từ đời kia đến đời này; tất cả chúng đều không là sở hữu của ta, ta không là sở hữu của chúng, cũng không phải là tự ngã. Quán sát bằng tuệ giác như vậy để biết như thật về chúng.
Những gì thuộc về kiến chấp này như “đây là tự ngã, đây là thế gian, đây là ta, ta sẽ hiện hữu ở đời sau, là pháp thường trú, không biến chuyển, là pháp hằng hữu, không hủy hoại; tất cả chúng đều không phải là sở hữu của ta, ta không là sở hữu của chúng, cũng không phải là tự ngã.” Quán sát bằng tuệ giác như vậy để biết như thật về chúng.
Nếu có Tỳ-kheo đối với sáu kiến xứ ấy mà không kiến chấp đó là ngã, lại cũng không kiến chấp đó là sở hữu của ngã, do vị ấy không kiến chấp như vậy nên không chấp thủ thế gian này.
Do không chấp thủ thế gian này nên không sợ hãi. Do không sợ hãi nên chứng nhập Niết-bàn rồi biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Đó gọi là Tỳkheo băng hào,[19] vượt hào,[20] phá đổ thành quách,[21] phá tan chướng ngại,[22] được gương Thánh trí tuệ.
Thế nào là Tỳ-kheo băng hào? Hào vô minh đã diệt tận, đã thấu triệt, đã nhổ sạch gốc rễ, đã dẹp tan, không còn sanh trở lại nữa. Như vậy gọi là Tỳ-kheo băng hào.
Thế nào là Tỳ-kheo vượt hào? Hào hữu ái đã diệt tận, đã thấu triệt, nhổ sạch gốc rễ, đã dẹp tan, không còn sanh trở lại nữa. Như vậy gọi là Tỳ-kheo vượt hào.
Thế nào là Tỳ-kheo phá đổ thành quách? Sanh tử vô cùng đã diệt tận, đã thấu triệt, nhổ sạch gốc rễ, đã dẹp tan, không còn sinh trở lại nữa. Như vậy gọi là Tỳ-kheo phá đổ thành quách.
Thế nào là Tỳ-kheo phá tan chướng ngại? Năm hạ phần kiết sử đã diệt tận, đã thấu triệt, nhổ sạch gốc rễ, đã dẹp tan, không còn sanh trở lại nữa. Như vậy gọi là Tỳ-kheo phá tan chướng ngại.
Thế nào là Tỳ-kheo được gương Thánh trí tuệ?[23] Ngã mạn đã diệt tận, đã thấu triệt, nhổ sạch gốc rễ, dẹp tan, không còn sanh trở lại nữa. Như vậy gọi là Tỳ-kheo được gương Thánh trí tuệ.
Đó gọi là Tỳ-kheo băng hào, vượt hào, phá đổ thành quách, phá tan chướng ngại và được gương Thánh trí tuệ.
[0766a05] Như Lai đã giải thoát hoàn toàn như vậy, dù Nhơn-đà-la,[24] dù thiên Y-sa-na,[25] dù Phạm thiên và quyến thuộc, không có ai có thể tìm thấy nơi thức an trú của Như Lai. Như Lai là Thanh tịnh, Như Lai là Mát lạnh, Như Lai là Không nóng bức, Như Lai là Bất dị. Như Lai nói như vậy, nhưng các Sa-môn, Phạm chí xuyên tạc Như Lai bằng những lời hư vọng, không chân thật, rằng: “Sa-môn Cù-đàm chủ trương hư vô.[26] Quả thật là có chúng sanh, nhưng lại chủ trương là đoạn tận, hủy diệt.”[27] Vì trong đây không có gì nên Như Lai đã không nói. Trong đời hiện tại, Như Lai chủ trương không ưu não. Nếu có người khác nhiều lần mắng chửi, đánh đập, sân hận, trách mắng Như Lai; trong trường hợp đó Như Lai không sân hận, không thù hằn, không khởi tâm tổn hại. Nếu có ai đánh đập, mắng chửi, sân hận, trách mắng Như Lai, ý Như Lai như thế nào? Như Lai tự nghĩ như vầy: “Do hành vi tạo ác nào đó của Như Lai trong quá khứ nên đưa đến sự kiện này.” Đối với sự mắng chửi, đánh đập, sân hận, trách mắng Như Lai, Như Lai cũng nghĩ như vậy. Nếu có ai cung kính, cúng dường, lễ bái, tôn trọng, thừa sự Như Lai; Như Lai không vì đó mà hân hoan, không vì đó mà hoan hỷ, tâm không vì đó mà vui thích. Nếu có ai cung kính, cúng dường, lễ bái, tôn trọng, thừa sự Như Lai thì ý Như Lai như thế nào? Như Lai tự nghĩ: “Do những điều mà ngày nay Như Lai đã chứng tri, đã đoạn trừ nên đưa đến sự kiện này.” Nếu có ai cung kính, cúng dường, lễ bái, tôn trọng, thừa sự Như Lai, Như Lai cũng nghĩ như vậy.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Nếu có ai mắng chửi, đánh đập, sân hận, trách mắng các thầy, hay nếu có ai cung kính, cúng dường, lễ bái, tôn trọng, thừa sự các thầy, các thầy nhân đó cũng chớ nên sân hận, thù hằn, chớ khởi tâm tổn hại, cũng chớ phấn khởi, hân hoan, cũng đừng có tâm vui thích. Vì sao như vậy? Vì chúng ta không có bản ngã, không có những gì thuộc về bản ngã. Ví như ngay nơi đây, ngoài cửa Thắng Lâm, có cỏ khô, có cây khô, có một người mang đi đốt, tùy ý sử dụng. Ý các thầy nghĩ sao? Cỏ khô, cây khô kia có bao giờ nghĩ rằng: “Người ấy mang ta đi đốt, tùy ý sử dụng” chăng? [0766b01] Các Tỳ-kheo đáp:
Thưa không. Bạch Thế Tôn!
Cũng vậy, nếu có ai mắng chửi, đánh đập, sân hận, trách mắng các thầy, hay nếu có ai cung kính, cúng dường, lễ bái, tôn trọng, thừa sự các thầy thì các thầy nhân đó cũng chớ nên sân hận, thù ghét, chớ khởi tâm tổn hại, cũng chớ phấn khởi, hân hoan, cũng đừng có tâm vui thích. Vì sao như vậy? Vì chúng ta không có bản ngã, không có những gì thuộc về bản ngã.
Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người. Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người như vậy, nếu có người nào thành tựu chánh trí và tuệ giải thoát mà qua đời thì vị ấy không còn trở lại luân hồi.
Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người. Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người như vậy, nếu có người nào đã trừ sạch năm hạ phần kiết sử mà qua đời thì sẽ sanh vào cõi kia mà nhập Niết-bàn, được pháp bất thoái, không còn trở lại thế gian này.
Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người. Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người như vậy, nếu có người nào đã trừ sạch ba kiết sử, đã làm giảm thiểu tham, sân, si thì chứng đắc Tư-đà-hàm, một lần qua lại cõi trời, cõi người. Sau khi trải qua một lần sanh tử sẽ vượt thoát khổ đau.
Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người. Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người như vậy, nếu có người nào đã diệt trừ ba kiết sử thì chứng đắc Tu-đà-hoàn, không rơi vào pháp ác, quyết định sẽ đến Chánh giác, chỉ còn bảy lần qua lại cõi trời, cõi người, sau bảy lần qua lại sẽ vượt thoát khổ đau.
Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người. Pháp của Như Lai được khéo giảng thuyết, được hiển bày, được truyền bá rộng rãi, không trống rỗng, không hư khuyết, được lưu bố, được tuyên thuyết cho đến trời, người như vậy, nếu người nào có tín tâm và hoan hỷ với Như Lai mà qua đời thì chắc chắn sẽ sanh về cõi lành như vừa nêu, hoặc còn hơn thế.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Quyển 54. Nguyên tác: A-lê-tra kinh 阿梨吒經 (T.01. 0026.200. 0763b01). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.43.5. 0759c29; Tăng. 增 (T.02. 0125.50.8. 0812c02); Ma-ha-tăng-kỳ luật 摩訶僧祇律 (T.22. 1425.17. 0367a03-b20); Tứ phần luật 四分律 (T.22. 1428.45. 0895b02-0896b24); M. 22. Alagaddūpama Sutta (Kinh ví dụ con rắn).
[2] A-lê-tra (阿梨吒, Ariṭṭha) nghĩa đen là tàn bạo, không may mắn, ở đây là tên riêng của vị Tỳ-kheo.
[3] Nguyên tác: Già-đà-bà-lợi (伽陀婆利). M. 22: Gaddhabādhī (người huấn luyện chim ưng).
[4] Nguyên tác: Hành dục giả vô chướng ngại (行欲者無障礙). Tham chiếu: M. 22: Tathāhaṃ bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṃ antarāyāyā’ti (Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì), HT. Thích Minh Châu dịch.
[5] Tội này còn gọi là Tăng-già-bà-thi-sa (僧伽婆尸沙), vì không chịu nghe Tăng can gián sau 3 lần.
[6] Nguyên tác: Chánh kinh, Ca vịnh, Ký thuyết, Kệ-tha, Nhân duyên, Soạn lục, Bản khởi, Thử thuyết,
Sanh xứ, Quảng giải, Vị tằng hữu, Thuyết nghĩa (正經,歌詠,記説,偈他,因縁,撰録,本起,此說, 生處,廣解,未曾有,說義), gồm 12 bộ loại. M. 22 chỉ liệt kê 9 loại: Suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ gāthaṃ udānaṃ ittivuttakaṃ jātakaṃ abbhutadhammaṃ vedallaṃ.
[7] Nguyên tác: Bệ phiệt (椑筏). M. 22: Kullūpama. Gồm 2 thành tố, kula: chiếc bè; upama: những thứ tương tự như thế.
[8] Nguyên tác: Thị pháp (是法). “Thị” (是) dùng như chữ “thật” (實). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.43.5 0760a26): Thiện pháp còn phải xả bỏ huống hồ phi pháp (善法猶可捨, 何況非法).
[9] Nguyên tác: Kiến xứ (見處, diṭṭhiṭṭhāna): Cơ sở của kiến chấp.
[10] Nguyên tác: Diệc phi thị thần (亦非是神). M. 22: Na m’eso attā (cái đó không phải là tự ngã của tôi). 11 Nêu dẫn “sắc” (色), “thọ” (受), “tưởng” (想) mà không đề cập về “hành” (行).
[11] Nguyên tác: Kiến, văn, thức tri (見,聞,識知). M. 22: Diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ viññātaṃ (cái được thấy, được nghe, được cảm giác, được nhận thức).
[12] Nguyên tác: Thử thị thần (此是神). M. 22: So attā (đây là tự ngã).
[13] Tham chiếu: M. 22: “Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn?” (HT. Thích Minh Châu dịch).
[14] Tham chiếu: M. 22: “Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở ngoài có thể không gây lo âu phiền muộn?”
[15] Nguyên tác: Tự thân (自身), cũng được dịch là “hữu thân” (有身).
[16] Nguyên tác: Thọ (受): Chấp thủ (執取, upādāna).
[17] Nguyên tác: Kiến y (見依). M. 22: Diṭṭhinissaya (chỗ nương tựa của cái thấy).
[18] Nguyên tác: Kiến sở tương tục (見所相續): Kiến chấp vững chãi.
[19] Nguyên tác: Độ tiệm (度塹). M. 22: Ukkhittapaligho (người đã vứt bỏ đi các chướng ngại).
[20] Nguyên tác: Quá tiệm (過塹). M. 22: Abbūhesiko (người đã nhổ lên cột trụ).
[21] Nguyên tác: Phá quách (破墎). M. 22 : Saṃkiṇṇaparikkho (người đã lấp hào).
[22] Nguyên tác: Vô môn (無門). M. 22: Niraggaḷo (người đã mở tung các lề khóa).
[23] Nguyên tác: Thánh trí tuệ kính (聖智慧鏡). M. 22: Ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṃyutto (vị Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không còn gì hệ lụy).
[24] Nhân-đà-la (因陀羅, Inda): Thiên Đế-thích.
[25] Y-sá-na (伊舍那, Īsāna): Tự Tại thiên (自在天).
[26] Nguyên tác: Ngự vô sở thi thiết (御無所施切). M. 22: Venayiko Samano Gotamo (Sa-môn Cù-đàm, người dẫn đến chỗ hư vô).
[27] Nguyên tác: Thi thiết đoạn diệt hoại (施設斷滅壞). M. 22: Ucchedaṃ vināsaṃ vibhavaṃ paññāpeti (chủ trương đoạn diệt, hoại diệt, tiêu diệt hữu tình).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.