Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Hôm nay, Ta sẽ nói cho các thầy nghe về pháp ngu si và pháp trí tuệ. Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ! Các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe.
Đức Phật dạy:
– Thế nào là pháp ngu si? Người ngu si có ba đặc tướng, ba dấu hiệu2 của người ngu si. Nghĩa là do hội đủ những yếu tố ngu si nên được nói là ngu si.
Ba dấu hiệu ấy là gì? Người ngu si suy nghĩ những ý niệm ác, nói lời nói ác, làm việc làm ác. Do đó, người ngu si được gọi là ngu si. Nếu người ngu si không suy nghĩ những ý niệm ác, không nói lời nói ác, không làm việc làm ác thì không nên gọi họ là người ngu si. Vì người ngu si suy nghĩ những ý niệm ác, nói lời nói ác, làm việc làm ác, cho nên người ngu si được gọi là người ngu si.
Ngay trong hiện tại, thân tâm người ngu si ấy phải nhận chịu ba điều sầu khổ. Thân tâm người ngu si phải nhận chịu ba điều sầu khổ nào? Người ngu si ấy hoặc có làm việc gì, hoặc ngồi nhóm họp, hoặc nơi đường cái, hoặc trong hẻm nhỏ, hoặc nơi chợ quán, hoặc ngã tư đường, bàn tán những sự việc liên quan đến sự ngu si như: Người ngu si sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến và kết thành vô lượng pháp ác, bất thiện khác. Khi đã kết thành vô lượng pháp ác, bất thiện rồi, người khác thấy được liền nói về việc ác của người ngu si kia. Người ngu si kia nghe xong liền nghĩ: “Nếu ai kết thành vô lượng pháp ác, bất thiện, khi người khác thấy được liền nói về việc ác của người đó. Ta cũng có vô lượng pháp ác, bất thiện, nếu có kẻ khác biết được thì họ sẽ nói về việc ác của ta.” Đây là điều sầu khổ thứ nhất mà thân tâm người ngu si phải lãnh thọ ngay trong đời hiện tại.
[0759b11] Lại nữa, người ngu si kia thấy người của vua bắt trói kẻ có tội rồi xử trị bằng nhiều hình phạt đau đớn, như chặt tay, chặt chân, hoặc chặt cả tay lẫn chân, hoặc xẻo tai, xẻo mũi, hoặc xẻo cả tai lẫn mũi, hoặc lóc từng miếng thịt, hoặc nhổ râu, bứt tóc, hoặc nhổ cả râu và tóc, hoặc nhốt trong cũi rồi quấn vải hỏa thiêu, hoặc vùi trong cát rồi đắp cỏ lên trên mà đốt, hoặc nhốt vào bụng lừa sắt hay miệng heo sắt, hoặc miệng cọp sắt rồi đốt, hoặc bỏ vào trong vạc đồng hay vạc sắt đun nấu, hoặc chặt ra từng khúc, hoặc dùng chĩa bén đâm, hoặc lấy móc sắt mà móc, hoặc đặt nằm trên giường sắt rồi lấy dầu sôi giội lên, hoặc bắt ngồi trong cối sắt rồi dùng chày sắt giã, hoặc cho rắn rết mổ cắn, hoặc dùng roi quất, hoặc dùng gậy thọc, hoặc dùng đòn gánh đánh, hoặc đem thây bêu nơi nguyên quán, hoặc chém đầu rồi bêu trên cây. Người ngu si kia thấy rồi liền tự suy nghĩ: “Ai gây tạo vô lượng pháp ác, bất thiện, nếu vua biết được thì sẽ bắt và tra khảo đánh đập như thế. Ta cũng có vô lượng pháp ác, bất thiện, nếu vua biết được thì ta cũng bị tra khảo đánh đập như vậy.” Đây là điều sầu khổ thứ hai mà thân tâm của kẻ ngu si phải lãnh thọ ngay trong đời hiện tại.
Lại nữa, người ngu si kia, thân làm việc ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác. Người đó gặp lúc bệnh khổ, hoặc nằm ngồi trên giường, hoặc nằm ngồi trên ván, hoặc nằm ngồi dưới đất, bản thân đau khổ tột cùng, tưởng như sắp chết. Bấy giờ, những việc ác mà kẻ đó đã làm từ thân, miệng và ý luôn ám ảnh trước mắt họ.3 Ví như vào lúc xế chiều, mặt trời sắp lặn xuống thì bóng núi cao đổ dài trên mặt đất. Cũng vậy, lúc ấy, những việc ác mà kẻ đó đã làm từ thân, miệng và ý luôn ám ảnh trước mắt họ. Người đó tự nghĩ: “Đây những việc ác từ thân, miệng và ý mà ta đã làm, chúng luôn ám ảnh trước mắt ta. Bởi trước kia ta không biết tạo phước mà lại tạo quá nhiều việc ác. Nếu có nơi nào dành cho những người làm ác, những kẻ hung bạo, những người làm việc phi pháp, không biết làm lành, không biết tạo phước, không tạo nơi quy hướng và nương tựa khi sợ hãi thì chắc ta sẽ phải đến chỗ ác đó.” Từ đó, kẻ kia sanh ra hối hận, do hối hận mà lâm chung không nhẹ nhàng, qua đời chẳng an lành. Đây là điều sầu khổ thứ ba mà thân tâm của người ngu si phải lãnh thọ ngay trong đời hiện tại.
[0759c08] Lại nữa, người ngu si kia thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác. Sau khi thân đã làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác rồi, do nhân duyên đó nên khi qua đời thì nhất định rơi vào đường ác, đọa vào địa ngục. Đã sanh vào đó, người ấy tất phải lãnh thọ khổ báo, hoàn toàn không đáng yêu, không đáng thích, không đáng nhớ nghĩ. Nếu nói rằng điều gì hoàn toàn không đáng yêu, không đáng thích, không đáng nhớ nghĩ thì điều đó chính là địa ngục. Vì sao như thế? Vì trong địa ngục kia hoàn toàn không đáng yêu, không đáng thích, không đáng nhớ nghĩ.
Bấy giờ, có vị Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên phải, chắp tay hướng Phật và bạch:
– Bạch Thế Tôn! Sự thống khổ trong địa ngục như thế nào?
Thế Tôn đáp:
– Này Tỳ-kheo! Sự thống khổ trong địa ngục không thể nói hết được. Này Tỳ-kheo, vì địa ngục chỉ toàn sự thống khổ mà thôi.
Tỳ-kheo lại hỏi:
– Đức Thế Tôn có thể dùng ví dụ để làm rõ nghĩa ấy chăng?
Đức Thế Tôn đáp:
– Cũng có thể dùng ví dụ để làm rõ nghĩa ấy. Này Tỳ-kheo, ví như người của nhà vua bắt kẻ giặc đem về chỗ Vua Sát-lợi Đảnh Sanh và tâu: “Tâu Thiên vương, kẻ giặc này có tội, xin Thiên vương trừng trị!” Vua Sát-lợi Đảnh Sanh bảo: “Các khanh hãy đem người này đi trị tội, buổi sáng dùng một trăm cây giáo nhọn mà đâm!” Người của vua vâng lệnh liền đem đi trị tội. Buổi sáng dùng một trăm cây giáo nhọn mà đâm, nhưng người kia vẫn còn sống.
Vua Sát-lợi Đảnh Sanh hỏi: “Người kia thế nào?” Người của vua đáp: “Tâu Thiên vương, người kia còn sống!” Vua Sát-lợi Đảnh Sanh lại bảo: “Buổi trưa các khanh cũng dùng một trăm cây giáo nhọn mà đâm.”
Người của vua vâng lệnh, giữa trưa dùng một trăm cây giáo nhọn mà đâm, nhưng người kia vẫn còn sống. Vua Sát-lợi Đảnh Sanh lại hỏi: “Người kia thế nào?” Người của vua đáp: “Tâu Thiên vương, kẻ kia còn sống!” Vua Sát-lợi Đảnh Sanh lại bảo: “Buổi chiều các khanh cũng dùng một trăm cây giáo nhọn mà đâm.”
Người của vua thừa lệnh, buổi chiều lại dùng một trăm cây giáo nhọn mà đâm, nhưng người kia vẫn còn sống. Tuy nhiên, thân thể người đó bị đâm thủng, mình đầy thương tích, không còn một chỗ nguyên vẹn, dù nhỏ như lỗ đồng tiền. Vua Sát-lợi Đảnh Sanh lại hỏi: “Người kia thế nào?”
Người của vua đáp: “Tâu Thiên vương, kẻ kia vẫn còn sống, nhưng thân thể đã bị đâm thủng, mình đầy thương tích, không còn một chỗ nguyên vẹn, dù nhỏ như lỗ đồng tiền.”
Này Tỳ-kheo, ý thầy nghĩ sao? Nếu người kia một ngày bị ba trăm mũi giáo nhọn đâm, vậy thân tâm họ có chịu sự khổ não, đau đớn tột cùng không?
[0760a06] Tỳ-kheo ấy đáp:
– Bạch Thế Tôn, bị một mũi giáo nhọn đâm còn chịu khổ lớn, huống nữa một ngày chịu ba trăm mũi giáo nhọn đâm. Thân tâm người kia lẽ nào không chịu sự khổ não, đau đớn tột cùng sao?
Bấy giờ, Thế Tôn tay cầm viên đá nhỏ như hạt đậu, hỏi Tỳ-kheo ấy:
– Thầy thấy tay Ta cầm viên đá nhỏ như hạt đậu chăng?
Tỳ-kheo đáp:
– Bạch Thế Tôn, con có thấy.
Thế Tôn lại hỏi:
– Này Tỳ-kheo, ý thầy nghĩ sao? Viên đá Ta cầm nhỏ bằng hạt đậu này nếu đem so sánh với núi chúa Tuyết4 thì cái nào lớn hơn?
Tỳ-kheo đáp:
– Bạch Thế Tôn! Viên đá Thế Tôn cầm trong tay nhỏ bằng hạt đậu nếu đem so sánh với núi chúa Tuyết thì nhỏ hơn gấp trăm, gấp ngàn lần, gấp trăm ngàn vạn lần, hoàn toàn không thể sánh kịp, không thể đếm, không thể tính, không thể ví dụ, không thể so sánh được, chỉ nói là núi chúa Tuyết rất lớn, cực lớn.
Thế Tôn bảo:
– Này Tỳ-kheo! Viên đá Ta cầm trong tay nhỏ bằng hạt đậu nếu đem so sánh với núi chúa Tuyết thì nhỏ hơn gấp trăm lần, gấp ngàn lần, gấp trăm ngàn vạn lần, hoàn toàn không thể sánh kịp, không thể đếm, không thể tính, không thể ví dụ, không thể so sánh được, chỉ nói là núi chúa Tuyết rất lớn, cực lớn. Cũng vậy, này Tỳ-kheo, nếu người này một ngày bị ba trăm mũi giáo nhọn đâm, do nhân duyên đó mà thân tâm chịu khổ não, đau đớn tột cùng; dù vậy, nếu đem so sánh với sự thống khổ ở trong địa ngục thì không bằng trăm lần, ngàn lần, trăm ngàn vạn lần, hoàn toàn không thể sánh kịp, không thể đếm, không thể tính, không thể ví dụ, không thể so sánh được, chỉ nói là trong địa ngục rất khổ sở, cực kỳ khổ sở.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, đã đọa vào đó rồi thì cai ngục bắt giữ, dùng búa sắt nung cháy đỏ rực mà đẽo thân thể, hoặc đẽo thành tám cạnh, hoặc thành sáu cạnh, hoặc thành vuông vức, hoặc thành hình tròn, hoặc cao, hoặc thấp, hoặc đẹp, hoặc xấu. Như vậy, kẻ tội nhân bị tra khảo chèn ép, thống khổ bức ngặt, trải qua nhiều năm cho đến trăm ngàn năm chịu vô lượng khổ, cực kỳ thống khổ, nhưng không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ chấm dứt. Như vậy gọi là nỗi khổ trong địa ngục.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó rồi thì cai ngục bắt giữ, dùng rìu sắt nung cháy đỏ rực mà đẽo thân thể, hoặc đẽo thành tám cạnh, hoặc thành sáu cạnh, hoặc thành vuông vức, hoặc thành hình tròn, hoặc cao, hoặc thấp, hoặc đẹp, hoặc xấu. Như vậy, kẻ tội nhân bị tra khảo chèn ép, thống khổ bức ngặt, trải qua nhiều năm cho đến trăm ngàn năm chịu vô lượng khổ, cực kỳ thống khổ, nhưng không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ đã chấm dứt. Như vậy gọi là nỗi khổ trong địa ngục.5
[0760b06] Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó rồi thì cai ngục bắt giữ, dùng cây thương bằng sắt nung cháy đỏ rực, ép ngồi trên đó, rồi lấy kìm sắt cạy miệng há ra, bỏ hòn sắt cháy hừng hực vào miệng tội nhân, làm cháy môi, cháy lưỡi, cháy răng, cháy cổ, cháy tim, cháy bao tử, rồi cháy xuống dưới thân mà ra ngoài. Như vậy, tội nhân bị tra khảo chèn ép, thống khổ bức ngặt trải qua nhiều năm, cho đến trăm ngàn năm chịu vô lượng khổ, cực kỳ thống khổ, nhưng không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ đã chấm dứt. Như vậy gọi là nỗi khổ trong địa ngục.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó rồi thì cai ngục bắt giữ, dùng búa đẽo bằng sắt lớn6 nung cháy đỏ rực, ép ngồi trên đó, rồi lấy kìm sắt, cạy miệng há ra, đổ nước đồng sôi vào miệng tội nhân, làm cháy môi, cháy lưỡi, cháy cổ, cháy răng, cháy tim, cháy bao tử, rồi cháy xuống dưới thân mà ra ngoài. Như vậy, tội nhân bị tra khảo chèn ép, thống khổ bức ngặt trải qua nhiều năm, cho đến trăm ngàn năm, chịu vô lượng khổ, cực kỳ thống khổ, nhưng không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ đã chấm dứt. Như vậy gọi là nỗi khổ trong địa ngục.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó rồi thì cai ngục bắt giữ, ép nằm ngửa trên tấm sắt nung cháy đỏ rực, rồi tra khảo bằng hình phạt ghim chặt năm chỗ,7 tức lấy đinh sắt đóng xuống hai tay, hai chân rồi dùng một cái đinh riêng đóng ở bụng tội nhân. Như vậy, tội nhân bị tra khảo bức ngặt, đau đớn cùng cực, trải qua nhiều năm cho đến trăm ngàn năm như vậy, chịu vô lượng khổ, nhưng tội nhân không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ đã chấm dứt. Như vậy gọi là nỗi khổ trong địa ngục.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó rồi thì cai ngục bắt giữ, ép nằm sát trên tấm sắt nung cháy đỏ rực, kéo lưỡi ra, dùng hàng trăm cây đinh căng cho thẳng, không nhăn không chùng. Cũng như miếng da bò được căng ra với một trăm cây đinh, nó không nhăn, không chùng. Cũng như vậy, chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó, bị cai ngục bắt giữ, ép nằm sát trên tấm sắt nung cháy đỏ rực, kéo lưỡi ra, dùng hàng trăm cây đinh căng cho thẳng, không nhăn không chùng. Như vậy, kẻ kia bị tra khảo bức ngặt, đau khổ cùng cực, trải qua nhiều năm, cho đến trăm ngàn năm, chịu vô lượng khổ, cực kỳ đau khổ nhưng họ không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ đã chấm dứt. Như thế gọi là nỗi khổ trong địa ngục.
[0760c05] Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó rồi thì bị cai ngục túm đầu, lột da từ đầu đến chân, rồi lột ngược từ chân lên đầu, lại dùng xe sắt, đốt lửa đỏ rực, buộc tội nhân vào, trên tấm sắt rộng, châm lửa cháy khắp, rồi bắt tội nhân kéo qua kéo lại trên đó. Như vậy, kẻ kia bị tra khảo bức ngặt, đau đớn cùng cực trải qua nhiều năm, cho đến trăm ngàn năm, chịu vô lượng khổ, cực kỳ đau khổ, nhưng họ không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ chấm dứt. Như vậy gọi là nỗi khổ trong địa ngục. Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó rồi thì cai ngục đốt lửa cháy hừng hực khắp trên mặt đất, lại bắt tội nhân lấy tay vốc lửa vãi lên thân mình. Như vậy, kẻ kia bị tra khảo bức ngặt, đau đớn cùng cực, trải qua nhiều năm, cho đến trăm ngàn năm, chịu vô lượng khổ, cực kỳ thống khổ, nhưng họ không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ đã chấm dứt. Như vậy gọi là nỗi khổ trong địa ngục.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó rồi thì cai ngục đốt núi lửa cháy đỏ rực, bắt tội nhân kia leo lên, leo xuống. Khi tội nhân đặt chân xuống thì máu, da, thịt của thân đều bị cháy sạch; nếu nhấc chân lên thì da, thịt, máu huyết của người đó hoàn lại như cũ. Như vậy, tội nhân bị hành hạ đau đớn đến cùng cực, trải qua nhiều năm, cho đến trăm ngàn năm, chịu vô lượng khổ, cực kỳ thống khổ, nhưng họ không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ đã chấm dứt. Như vậy gọi là nỗi khổ trong địa ngục.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã đọa vào đó rồi thì cai ngục bắt giữ, xách ngược tội nhân, chân hướng lên trên, đầu quay xuống dưới, thả vào trong chảo sắt lớn chứa đầy nước, bên dưới lửa cháy đỏ rực. Tội nhân ở trong chảo ấy, hoặc nổi hoặc chìm, hoặc dạt ra bốn bên, thân tuôn nước dãi, nước đó lại nấu thân. Cũng như lấy đậu nành, đậu đỏ, đậu dây, đậu đắng, hạt cải rồi bỏ chung trong chảo chứa đầy nước, bên dưới lửa cháy đỏ rực, các hạt đậu trong chảo hoặc nổi hoặc chìm, hoặc dạt bốn bên, đậu tự ra bọt rồi lại nấu lấy chúng. Cũng vậy, chúng sanh đọa vào địa ngục, khi đã vào đó rồi, cai ngục bắt giữ, xách ngược tội nhân, chân hướng lên trên, đầu quay xuống dưới, thả vào chảo sắt lớn chứa đầy nước, bên dưới lửa cháy đỏ rực; tội nhân ở trong chảo ấy, hoặc nổi hoặc chìm, hoặc dạt ra bốn bên, thân tuôn nước dãi, nước đó lại nấu thân. Họ bị tra khảo, hành hạ như vậy, thống khổ vô cùng, trải qua nhiều năm cho đến trăm ngàn năm, chịu vô lượng khổ, khổ não cùng cực. Nhưng tội nhân không thể chết được, trừ khi tội ác, bất thiện của họ đã chấm dứt. Như thế gọi là nỗi khổ trong địa ngục.
[0761a05] Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ trong địa ngục? Trong địa ngục kia có ngục tên là Lục Cánh Lạc. Nếu chúng sanh đọa vào trong đó, khi đã đọa vào trong đó, nếu mắt thấy sắc không vui, không thích, không phải điều đáng vui thích, lòng không thấy yêu thích, không phải điều đáng yêu, lòng không vui vẻ, không phải điều đáng vui vẻ; hoặc tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý biết pháp không vui, không thích, không phải điều đáng vui thích, lòng không thấy yêu thích, không phải điều đáng yêu, lòng không vui vẻ, không phải điều đáng vui vẻ thì đó gọi là nỗi khổ trong địa ngục.
Này Tỳ-kheo! Ta đã dùng vô lượng phương tiện nói cho các thầy nghe về địa ngục, về sự việc ở địa ngục, song sự khổ ở địa ngục không thể nói hết được. Chỉ có thể nói là địa ngục chỉ toàn thống khổ mà thôi.
Này Tỳ-kheo, có lúc người ngu si kia ra khỏi địa ngục, sanh làm súc sanh thì súc sanh đó cũng rất khổ.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ của súc sanh? Nếu chúng sanh nào sanh vào loài súc sanh, tức sanh vào loài sống trong tăm tối, lớn lên trong tăm tối và chết đi trong tăm tối. Đó là loài gì? Là loài trùng sống trong đất.8 Do lúc trước, người ngu si ấy tham đắm vị ngọt vật chất, người đó hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác. Sau khi hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác rồi, do nhân duyên đó, đến lúc qua đời, người đó sanh trong loài súc sanh, tức làm loài sống trong tăm tối, lớn lên trong tăm tối và chết đi trong tăm tối. Như vậy gọi là nỗi khổ của súc sanh.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ của súc sanh? Nếu chúng sanh nào sanh vào loài súc sanh, tức sanh vào loài sống trong thân, lớn lên trong thân và chết đi trong thân. Đó là loài gì? Là loài sanh trùng ghẻ chóc. Bởi do lúc trước, người ngu si ấy tham đắm vị ngọt vật chất, người đó hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác. Sau khi hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác rồi, do nhân duyên đó, khi qua đời, người đó sanh vào loài súc sanh, tức làm loài sống trong thân, lớn lên trong thân và chết trong thân. Như vậy gọi là nỗi khổ của súc sanh.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ của súc sanh? Nếu chúng sanh nào sanh vào loài súc sanh, tức sanh vào loài sống trong nước, lớn lên trong nước và chết đi trong nước. Đó là loài gì? Là loài cá ma-kiệt,9 rùa, cá sấu, bà-lưu-ly,10 đề- tỉ, 11 đề-tỉ-già-la.12 Bởi do lúc trước, người ngu si ấy tham đắm vị ngọt vật chất, người đó hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác. Sau khi hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác rồi, do nhân duyên đó nên khi qua đời, người đó sanh vào loài súc sanh, làm loài sống trong nước, lớn lên trong nước và chết đi trong nước. Như vậy gọi là nỗi khổ của súc sanh.
[0761b04] Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ của súc sanh? Nếu chúng sanh nào sanh vào loài súc sanh, tức sanh vào loài có răng để cắn, sống nhờ ăn rau cỏ hay cây lá. Đó là loài gì? Là voi, ngựa, lạc đà, bò, lừa, nai, trâu và heo. Bởi do lúc trước, người ngu si ấy tham đắm vị ngọt vật chất, người đó hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác. Sau khi đã hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, do nhân duyên đó, khi qua đời, người đó sanh vào loài súc sanh, làm loài có răng để cắn, sống nhờ ăn rau cỏ hay cây lá. Như vậy gọi là nỗi khổ của súc sanh.
Này Tỳ-kheo, thế nào là nỗi khổ của súc sanh? Nếu chúng sanh nào sanh vào loài súc sanh, tức sanh làm loài súc sanh mà khi nghe mùi đại tiểu tiện của người ta, liền chạy đến chỗ đó để ăn chất thải đó. Cũng như kẻ nam người nữ khi ngửi thấy mùi thơm thức ăn thức uống, liền chạy đến nơi ấy và nói: “Đây là đồ ăn, đây là đồ ăn.” Cũng vậy, các Tỳ-kheo, nếu chúng sanh nào sanh vào súc sanh, tức làm loài súc sanh mà khi nghe mùi người ta đại tiểu tiện ra, liền chạy đến nơi đó để ăn chất thải đó. Đó là loài gì? Là gà, heo, chó, chó sói, quạ, câulâu-la, câu-lăng-già.13 Bởi do lúc trước, người ngu si ấy tham đắm vị ngọt vật chất, người đó hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác. Sau khi hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, do nhân duyên đó, khi qua đời, người đó sanh vào súc sanh, làm loài ăn phân dơ. Như vậy gọi là nỗi khổ của súc sanh.
Này các Tỳ-kheo, Ta đã dùng vô lượng phương tiện để nói cho các thầy về súc sanh, nói về sự việc của súc sanh, nhưng nỗi khổ của súc sanh thì không làm sao nói hết được. Chỉ nói là ở súc sanh chỉ toàn thống khổ mà thôi.
Này Tỳ-kheo, nếu người ngu si kia ra khỏi đường súc sanh, sanh trở lại làm người là điều vô cùng khó khăn. Vì sao như vậy? Vì kẻ kia ở trong loài súc sanh không thực hành nhân nghĩa, không theo lễ nghi phép tắc, không làm việc lành; vả lại súc sanh ăn nuốt lẫn nhau, con mạnh ăn con yếu, con lớn ăn con nhỏ. Này Tỳ-kheo! Ví như cõi đất này tràn đầy nước, có một con rùa mù, sống lâu vô lượng trăm ngàn năm. Trên mặt nước kia có miếng ván vừa nhỏ vừa nhẹ, và chỉ có một lỗ duy nhất, lại bị gió thổi trôi. Này Tỳ-kheo, ý thầy nghĩ sao? Con rùa mù kia, đầu nó có thể chui vào cái lỗ duy nhất của miếng gỗ vừa nhẹ, vừa nhỏ kia chăng?
Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Có thể chui được, nhưng thật lâu, rất lâu và cực khó.
Thế Tôn bảo:
– Này Tỳ-kheo! Trải qua một trăm năm, con rùa mù bơi đến phương Đông rồi ngoi đầu lên thì miếng gỗ chỉ có một lỗ hỏng kia lại bị gió thổi từ phương Đông dạt qua phương Nam. Rồi trải qua một trăm năm, con rùa mù bơi đến phương Nam rồi ngoi đầu lên thì miếng gỗ chỉ có một lỗ kia đã bị gió thổi từ phương Nam dạt qua phương Tây. Trải qua một trăm năm nữa, con rùa mù bơi đến phương Tây rồi ngoi đầu lên thì miếng gỗ chỉ có một lỗ kia đã bị gió thổi từ phương Tây dạt qua phương Bắc. Lại trải qua một trăm năm, con rùa mù bơi đến phương Bắc rồi ngoi đầu lên thì miếng gỗ chỉ có một lỗ kia đã bị gió thổi từ phương Bắc dạt đến các phương khác. Này Tỳ-kheo, ý thầy nghĩ sao? Con rùa mù ấy có chui vào được lỗ của miếng gỗ kia chăng?
[0761c09] Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Có thể chui vào được, nhưng thật lâu, rất lâu và cực khó.14
– Này Tỳ-kheo! Cũng vậy, người ngu si kia, từ cõi súc sanh thoát ra mà trở lại làm người thì cũng rất khó. Vì sao như vậy? Kẻ kia khi sanh vào loài súc sanh, không thực hành nhân nghĩa, không theo lễ nghi phép tắc, không làm việc tốt lành, vả lại loài súc sanh lại ăn nuốt lẫn nhau, con mạnh ăn con yếu, con lớn nuốt con nhỏ.
Này Tỳ-kheo! Nếu người ngu si khi được thoát ra khỏi loài súc sanh, sanh lên làm người, lại sanh vào nhà thuộc giai cấp hạ tiện, xấu xí, bần cùng, ăn uống thiếu thốn, kiếm thức ăn rất khó. Đó là hạng người nào? Là cai ngục, là thợ thuyền, là nhà thủ công, nhà làm đồ gốm và các người thấp kém khác và các hạng tương tự như vậy. Tất cả đều xấu xí, bần cùng, ăn uống thiếu thốn, kiếm ăn rất khó. Họ sanh vào những nhà như vậy. Khi sanh vào đó rồi, hoặc bị đui mù, hoặc bị què, hoặc khuỷu tay ngắn, hoặc bị gù, hoặc chỉ dùng tay trái, da dẻ xấu xí, mặt như mặt dê, tướng mạo khó coi, mạng sống ngắn ngủi, bị người sai sử. Người đó hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác. Sau khi hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác rồi, do nhân duyên đó nên khi qua đời, người đó trở lại chỗ ác, đọa vào địa ngục.
Cũng như hai người cùng đánh bạc, một trong hai người đó, canh bạc đầu sẽ mất tôi tớ và mất cả vợ con, sau đó lại để thân mình bị treo ngược trong nhà khói.15 Người đó tự nghĩ: “Ta không dám ăn uống, song canh bạc đầu ta mất tôi tớ, mất cả vợ con; canh bạc cuối, thân ta bị treo ngược trong nhà khói.” Này Tỳ-kheo, canh bạc ấy thua như vậy vẫn rất ít, chỉ mất tôi tớ, mất vợ con và sau đó thân bị treo ngược trong nhà khói. Này Tỳ-kheo, canh bạc này mới đáng kể. Đó là hành động của thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác. Sau khi hành động với thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác rồi, do nhân duyên đó nên khi qua đời, người đó trở lại chỗ ác, đọa vào địa ngục.
Này Tỳ-kheo! Đối với các việc làm này, thật không thể vui, thật không thể thích, chẳng phải điều đáng nghĩ tưởng đến.
Này Tỳ-kheo! Với những điều được nói như vậy, lẽ nào vẫn chưa đầy đủ về pháp ngu si chăng?
[0762a03] Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, những điều ấy đã nói đầy đủ về pháp ngu si kia.
Đức Thế Tôn bảo:
– Thế nào là pháp trí tuệ? Người trí tuệ có có ba đặc tướng, ba dấu hiệu của người trí tuệ. Nghĩa là do hội đủ những yếu tố trí tuệ nên được gọi là trí tuệ.
Ba điều ấy là gì? Người trí suy nghĩ với ý nghĩ thiện, nói lời nói thiện và làm việc làm thiện. Do đó người trí tuệ được gọi là bậc trí tuệ.
Nếu người trí tuệ khi nghĩ không nghĩ ý thiện, nói không nói lời thiện, làm không làm điều thiện thì người trí không thể nói đó là bậc trí tuệ. Vì người có trí tuệ, nghĩ thì nghĩ thiện, nói thì nói thiện và làm thì làm thiện nên người có trí được gọi là bậc trí tuệ.
Người trí tuệ ngay trong đời hiện tại, thân tâm cảm thọ được ba điều hỷ lạc. Thế nào là người trí tuệ ngay trong đời hiện tại thân tâm cảm thọ được ba điều hỷ lạc? Người trí tuệ thường có những hành vi, hoặc lúc ngồi nhóm họp, hoặc nơi đường cái, hoặc trong hẻm nhỏ, hoặc nơi chợ quán, hoặc ngã tư đường mà nói về những sự việc liên quan đến người trí như: Người trí từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cướp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối,... (cho đến) từ bỏ tà kiến mà được chánh kiến, thành tựu vô lượng pháp thiện.
Nếu thành tựu vô lượng pháp thiện rồi, người khác thấy được liền khen ngợi, người trí tuệ kia nghe được liền nghĩ: “Nếu ai thành tựu vô lượng pháp thiện, khi người khác thấy được, họ liền khen ngợi người đó. Ta cũng có vô lượng pháp thiện, nếu có ai thấy được thì cũng sẽ ngợi khen ta.” Đây là điều hỷ lạc thứ nhất mà thân tâm người trí tuệ cảm thọ được ngay trong đời hiện tại.
Lại nữa, người trí tuệ kia thấy người của vua dùng các thứ hình phạt để trị giặc cướp, như chặt tay, chặt chân, hoặc chặt cả tay lẫn chân, hoặc xẻo tai, xẻo mũi, hoặc xẻo cả tai lẫn mũi, hoặc lóc từng miếng thịt, hoặc nhổ tóc, bứt râu, hoặc nhổ cả râu và tóc, hoặc nhốt vào trong cũi rồi quấn vải hỏa thiêu, hoặc vùi trong cát rồi đắp cỏ lên trên mà đốt, hoặc nhốt vào trong bụng lừa sắt hay miệng heo sắt hoặc miệng cọp sắt rồi đốt, hoặc bỏ vào vạt đồng hay chảo sắt đun nấu, hoặc chặt ra từng khúc, hoặc dùng chĩa bén đâm, hoặc lấy móc sắc mà móc, hoặc đặt nằm trên giường sắt rồi lấy dầu sôi giội lên, hoặc bắt ngồi trong cối sắt rồi dùng chày sắt giã, hoặc cho rắn rết mổ cắn, hoặc dùng roi quất, hoặc dùng gậy thọc, hoặc dùng đòn gánh đánh, hoặc đem thây bêu nơi nguyên quán, hoặc chém đầu rồi bêu trên cây. Người trí tuệ kia thấy rồi liền suy nghĩ: “Nếu ai gây tạo vô lượng pháp ác, bất thiện, nếu nhà vua biết được thì sẽ bị bắt và khảo tra như vậy. Ta không gây tạo vô lượng pháp ác, bất thiện thì ta hoàn toàn chẳng bị những hình phạt thống khổ của vua như vậy.” Đây là điều hỷ lạc thứ hai mà thân tâm người trí tuệ cảm thọ được ngay trong đời hiện tại.
[0762b05] Lại nữa, người trí tuệ kia với thân thực hành diệu hạnh, miệng và ý thực hành diệu hạnh. Người đó gặp lúc bệnh khổ, hoặc nằm ngồi trên giường, hoặc nằm ngồi trên ván, hoặc nằm ngồi dưới đất, bản thân cực kỳ đau khổ, tưởng như sắp chết. Bấy giờ, những diệu hạnh mà vị đó đã làm từ thân, miệng và ý đều hiện lên trước mắt của vị đó. Ví như vào lúc xế chiều, mặt trời sắp lặn xuống thì bóng núi cao đổ dài trên mặt đất. Cũng vậy, vào lúc ấy, những diệu hạnh mà vị đó đã làm từ thân, miệng và ý hiện lên trước mắt người đó. Người kia tự nghĩ: “Đây là những diệu hạnh mà ta đã làm từ thân, miệng và ý đang hiện diện trước mắt. Trước đây ta không làm điều ác mà tạo nhiều việc phước. Nếu có nơi nào dành cho những người không làm ác, không hung bạo, không làm điều phi lý, chỉ làm phước, chỉ làm thiện, tạo chỗ quy mạng và nương tựa khi sợ hãi thì ta sẽ đến chỗ lành đó mà không sanh tâm hối hận.” Do không hối hận nên người ấy lâm chung nhẹ nhàng, qua đời an lành. Đây là điều hỷ lạc thứ ba mà thân tâm người trí tuệ cảm thọ được ngay trong đời hiện tại.
Lại nữa, người trí tuệ kia với thân thực hành diệu hạnh, miệng và ý thực hành diệu hạnh. Người ấy sau khi thân thực hành diệu hạnh, miệng và ý thực hành diệu hạnh rồi, do nhân duyên đó, khi qua đời, chắc chắn sẽ đến cõi lành, sanh lên cõi trời. Vị ấy đã sanh lên cõi đó rồi, cảm thọ quả báo lành, hoàn toàn đáng yêu, đáng thích, đáng nhớ nghĩ. Nếu ai nghĩ rằng: “Nơi nào hoàn toàn đáng yêu, đáng thích và đáng nhớ nghĩ thì nơi đó được nói là cõi lành.” Vì sao như vậy? Vì chốn lành kia hoàn toàn đáng yêu, đáng thích và đáng nhớ nghĩ.
Bấy giờ, có vị Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên phải, chắp tay hướng Phật và thưa:
– Bạch Thế Tôn, cõi lành là thế nào?
Thế Tôn đáp:
– Này Tỳ-kheo! Cõi lành không thể nào nói hết, nhưng khi nói về sự an lạc nơi cõi lành thì có thể nói rằng, cõi lành chỉ có toàn an lạc.
Tỳ-kheo ấy lại hỏi:
– Bạch Thế Tôn! Xin Ngài có thể dùng ví dụ để làm rõ nghĩa ấy chăng?
Thế Tôn đáp:
– Cũng có thể dùng ví dụ để làm rõ nghĩa ấy. Ví như Chuyển Luân Vương thành tựu đầy đủ bảy báu và bốn như ý túc của loài người. Này Tỳ-kheo, ý thầy nghĩ sao? Chuyển Luân Vương kia thành tựu đầy đủ bảy báu và bốn như ý túc của loài người thì vị vua kia, nhân đó thân tâm có cảm thọ hỷ lạc cùng cực chăng?
[0762c02] Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Nếu ai thành tựu được một báu và một như ý túc của loài người thì đã lãnh thọ được hỷ lạc cùng cực, huống nữa là Chuyển Luân Vương thành tựu hết bảy báu và bốn như ý túc của loài người, lẽ nào chẳng phải là cảm thọ hỷ lạc cùng cực đó sao?
Bấy giờ, Thế Tôn tay cầm viên đá nhỏ bằng hạt đậu rồi hỏi Tỳ-kheo:
– Thầy có thấy viên đá nhỏ bằng hạt đậu mà Ta cầm trong tay chăng?
Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con có thấy.
Thế Tôn lại hỏi:
– Này Tỳ-kheo! Ý thầy nghĩ sao, viên đá nhỏ như hạt đậu mà Ta cầm đây đem so với núi chúa Tuyết thì cái nào lớn hơn?
Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Viên đá nhỏ như hạt đậu mà Thế Tôn cầm đem so với núi chúa Tuyết thật quá nhỏ, nhỏ gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn lần, không thể so sánh kịp, không thể tính toán, không thể so sánh được, chỉ nói là núi chúa Tuyết cực kì to lớn.
Thế Tôn lại bảo:
– Này Tỳ-kheo! Nếu viên đá nhỏ như hạt đậu mà Ta cầm đây đem so với núi chúa Tuyết thì quả thật nhỏ bé, nhỏ gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn lần, hoàn toàn không thể so sánh kịp, không thể tính toán, không thể ví dụ được, chỉ nói là núi chúa Tuyết cực kì to lớn thôi. Cũng vậy, này Tỳ-kheo, nếu Chuyển Luân Vương đã thành tựu đầy đủ bảy báu và bốn như ý túc của loài người thì thân tâm vị vua kia, cảm thọ niềm hỷ lạc cùng cực, nhưng nếu đem so sánh với sự hỷ lạc ở các cõi trời thì thật kém gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn lần, không thể sánh kịp, không thể tính toán, không thể ví dụ, không thể so sánh. Thế nên khi nói về sự an lạc nơi cõi lành thì có thể nói rằng cõi lành chỉ có toàn an lạc.
Này Tỳ-kheo! Thế nào là sự an lạc nơi cõi lành? Có cõi lành gọi là Sáu Xúc, nếu chúng sanh nào sanh vào trong đó, khi đã sanh vào cõi ấy rồi thì sắc được thấy bởi mắt rất đáng vui thích, vừa ý. Cõi ấy đáng vui thích nên tâm ý tràn ngập luyến ái. Cõi ấy tràn ngập luyến ái nên tâm ý hân hoan, hạnh phúc. Cõi ấy hân hoan, hạnh phúc nên âm thanh được nghe từ tai, mùi hương được ngửi do mũi, vị được nếm bởi lưỡi, sự xúc chạm nơi thân, pháp được biết bởi ý, đều rất đáng vui thích, vừa ý. Do đáng vui thích nên tâm ý tràn ngập luyến ái. Do cõi ấy tràn ngập luyến ái nên tâm ý hân hoan, hạnh phúc. Như vậy gọi là sự an lạc ở cõi lành.
Này Tỳ-kheo! Ta đã dùng vô số phương tiện để nói về cõi lành, nói sự việc ở cõi lành cho các thầy nghe. Song sự an lạc nơi cõi lành kia không thể nói hết được, có thể nói rằng cõi lành chỉ có toàn an lạc.
Này Tỳ-kheo! Nếu người trí tuệ kia, khi từ cõi lành đến để sanh vào nhân gian thì sẽ sanh vào nhà rất giàu sang, tiền tài vô số, nhiều tôi tớ và vật nuôi, phong hộ thực ấp, thóc lúa đầy dẫy và rất nhiều nhu cầu sinh hoạt khác. Đó là hạng người nào? Là nhà đại trưởng giả dòng Sát-lợi, nhà trưởng giả dòng Phạm-chí, nhà trưởng giả cư sĩ và các nhà cực kỳ giàu có khác, tiền của vô số, nhiều tôi tớ và vật nuôi, phong hộ thực ấp, thóc lúa đầy dẫy và biết bao nhu cầu sinh hoạt khác. Sanh vào nhà như vậy, với tướng mạo đoan chánh, đáng yêu, nhiều người kính thuận, danh vang cùng khắp, có oai đức lớn, nhiều người kính mến, nhiều người nhắc đến. Rồi người ấy thân lại thực hành diệu hạnh, miệng và ý thực hành diệu hạnh, sau khi thân thực hành diệu hạnh, miệng và ý thực hành diệu hạnh rồi, do nhân duyên đó, khi qua đời thì sanh trở lại cõi lành, sanh lên cõi trời.
[0763a09] Ví như hai người đánh bạc, trong đó một người thắng ván đầu và tiếp tục đánh, thắng được nhiều tiền tài. Người ấy nghĩ rằng: “Ta chẳng có mưu mô, nhưng ván đầu ta thắng và tiếp tục canh bạc như vậy, ta lấy được nhiều tiền của.” Này Tỳ-kheo, canh bạc đó quá nhỏ, mà người ấy lại có được nhiều tiền của. Này Tỳ-kheo, canh bạc này mới đáng kể, đó là thân thực hành diệu hạnh, miệng và ý thực hành diệu hạnh. Sau khi thân thực hành diệu hạnh, miệng và ý thực hành diệu hạnh, do nhân duyên đó, khi qua đời thì sanh trở lại cõi lành, sanh lên cõi trời. Này Tỳ-kheo, các việc làm này là sự việc rất đáng vui, rất đáng thích, rất đáng được thích ý.
Này Tỳ-kheo, pháp của người trí tuệ được nói như vậy, lẽ nào vẫn chưa đầy đủ chăng?
Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Pháp của người trí tuệ được nói như vậy là đã đầy đủ.
Thế Tôn bảo:
– Đó là pháp của người ngu si và pháp của người trí tuệ. Các thầy cần phải biết pháp của người ngu si và pháp của người trí tuệ. Đã biết pháp của người ngu si và pháp của người trí tuệ rồi thì phải xả bỏ pháp của người ngu si và chọn lấy pháp của người trí tuệ. Các thầy phải nên học tập như vậy.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.16
Chú thích:
1 Quyển 53. Nguyên tác: Si tuệ địa kinh 癡慧地經 (T.01. 0026.199. 0759a19). Tham chiếu: Khổ ấm kinh, hạ 苦陰經,下 (T.01. 0026.100. 0586b02); Khổ ấm kinh 苦陰經 (T.01. 0053. 0846c05); Nê-lê kinh 泥犁經 (T.01. 0086. 0907a11); M. 129, Bālapaṇḍita Sutta (Kinh hiền ngu).
2 Tham chiếu: M. 129: Tīṇi bālassa bālalakkhaṇāni bālanimittāni bālāpadāni (3 đặc điểm, đặc tướng và đặc ấn này của người ngu), HT. Thích Minh Châu dịch.
3 Nguyên tác: Huyền hướng tại thượng (懸向在上). Tham chiếu: M. 129 ghi: Abhippalambanti. Cấu trúc tiếp đầu ngữ abhi mang nghĩa trước mặt hoặc phía trên, kết hợp với động từ lambati nghĩa là treo, nên được hiểu là treo ở phía trước. Theo Khổ ấm kinh, thượng 苦陰經, 上 (T.01. 0026.99. 0585b25) ghi: Tại tiền phú chướng (在前覆障): Che phủ trước mắt.
4 Nguyên tác: Tuyết Sơn vương (雪山王, Himavapabbatarājā).
5 Đoạn này lặp lại đoạn trên, chỉ có 2 chữ khác biệt. Đoạn trên là chữ “phủ” (斧) và đoạn dưới là chữ “cân” (釿).
6 Nguyên tác: Thương (鏘): Búa lớn (大斧).
7 Nguyên tác: Ngũ phược trị (五縛治). M. 129: Pañcavidhabandhanaṃ (hình phạt 5 cọc).
8 Tham khảo: M. 129: Các loại sâu hay giòi (puḷavā), giun (gaṇḍuppādā). Bālo idha pubbe rasādo (người ngu trước kia thưởng thức vị ngọt ở nơi này).
9 Nguyên tác: Ma-kiệt ngư (摩竭魚, maṅkara), một loài thủy quái.
10 Bà-lưu-ni (婆留尼, varuna), tên một loại rắn nước, thuồng luồng. Theo J. VI. 545, đó là tên của một vị long vương.
11 Đề-tỷ (提鼻, timi), một loại cá lớn.
12 Đề-tỷ-già-la (提鼻伽羅, timiṅgala), một loại cá lớn có thể nuốt cả một chiếc thuyền.
13 Câu-lâu-la (拘樓羅), câu-lăng-ca (拘稜迦). M. 129 chỉ kể 4 loại: Kukkuṭā (gà), sūkarā (heo), soṇā (chó), siṅgalā (dã can).
14 Ví dụ rùa mù, xem thêm Tạp. 雜 (T.02. 0099.406. 0108c06); S. 56.47 - V. 455; S. 56.48 - V. 456.
15 Nguyên tác: Yên ốc (煙屋). Tham chiếu: M. 129: Uttaripi adhibandhaṃ nigaccheyya (cuối cùng bị cột trói).
16 Bản Hán, hết quyển 53.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.