Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa thành Vương Xá, ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đà.
Bấy giờ, Sa-di A-di-na-hòa-đề2 cũng ở thành Vương Xá, ngụ trong một thiền thất thanh vắng.
Lúc ấy, Vương đồng tử3 Kỳ-bà-tiên-na4 sau buổi trưa, thong thả đi đến chỗ Sa-di A-di-na-hòa-đề, cùng chào hỏi xong rồi ngồi xuống một bên và nói:
– Thưa Hiền giả A-kỳ-xá-na!5 Tôi có điều muốn hỏi, mong Hiền giả vui lòng nghe chăng?
Sa-di A-di-na-hòa-đề nói:
– Thưa Vương tử! 6 Ngài muốn hỏi gì xin cứ hỏi, tôi nghe rồi sẽ suy nghĩ. Vương đồng tử hỏi:
– A-kỳ-xá-na! Có phải thật sự Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp và Giới luật này, nếu không buông lung, tu hành tinh cần thì sẽ được nhất tâm?
Sa-di đáp:
– Thưa Vương tử! Thật đúng như vậy, Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp và Giới luật này, nếu không buông lung, tu hành tinh cần thì sẽ được nhất tâm.
Thái tử lại hỏi:
– Hiền giả A-kỳ-xá-na! Nương theo những gì đã nghe, đã tụng đọc và thực hành, mong Hiền giả nói lại hết cho tôi về trường hợp Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp và Giới luật này không buông lung, tu hành tinh cần thì sẽ được nhất tâm.
Sa-di đáp:
– Thưa Vương tử! Theo như những điều đã nghe, đã tụng đọc và thực hành thì tôi không đủ sức để nói lại hết cho Vương tử về trường hợp Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp và Giới luật này không buông lung, tu hành tinh cần thì sẽ được nhất tâm. Thưa Vương tử, nếu tôi nương theo những điều đã nghe, đã tụng đọc và thực hành rồi nói lại hết cho Vương tử về trường hợp Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp và Giới luật này không buông lung, tu hành tinh cần sẽ được nhất tâm thì e rằng Vương tử không thể hiểu được. Như vậy thì tôi sẽ nhọc công vô ích.
Thái tử nói với Sa-di:
– Hiền giả A-kỳ-xá-na! Hiền giả chưa bị người khác nhiếp phục, vì ý gì mà đã tự mình thoái lui? Hiền giả A-kỳ-xá-na, mong Hiền giả cứ nương theo những điều đã nghe, đã tụng đọc và thực hành, rồi có thể nói lại hết cho tôi về trường hợp Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp và Giới luật này không buông lung, tu hành tinh cần thì sẽ được nhất tâm. Nếu tôi hiểu được thì quả là thú vị, nhưng nếu không hiểu, tôi sẽ không hỏi thêm về pháp khác nữa đâu.
Thế rồi Sa-di A-di-na-hòa-đề nương theo những điều đã nghe, đã tụng đọc và thực hành, nói lại cho Vương đồng tử Kỳ-bà-tiên-na về trường hợp Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp và Giới luật này không buông lung, tu hành tinh cần thì đạt được nhất tâm.
[0757b01] Bấy giờ, Vương tử Kỳ-bà-tiên-na nói:
– Hiền giả A-kỳ-xá-na! Nếu Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp và Giới luật này không buông lung, tu hành tinh cần mà đạt được nhất tâm thì điều này không thể xảy ra. Nói điều vô lý như thế xong, Vương tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, không nói lời từ giã mà bỏ đi. Vương tử Kỳ-bà-tiên-na đi chưa bao lâu, Sa-di A-dina-hòa-đề đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi sang một bên rồi đem những điều đã thảo luận với Vương tử Kỳ-bà-tiên-na thưa lại với Phật. Nghe xong, Thế Tôn bảo Sa-di:
– Này A-kỳ-xá-na, thôi đủ rồi! Vương tử Kỳ-bà-tiên-na làm sao có được những điều đó? Bởi vì ông ấy đang sống trong dục vọng, đắm trước dục vọng, bị dục ái nhai nuốt, bị dục vọng đốt cháy. Đối với trạng thái7 đã đoạn trừ dục, đoạn trừ dục ái, đoạn trừ sự đốt cháy của dục thì chỉ có bậc Vô dục mới biết, bậc Vô dục mới thấy, bậc Vô dục mới chứng đắc. Đối với trạng thái ấy mà Vương tử có thể biết được hoặc có thể thấy được thì điều này không thể xảy ra. Vì sao như thế? Này A-kỳ-xá-na, vì Vương tử Kỳ-bà-tiên-na thường sống trong dục vọng.
Này A-kỳ-xá-na! Cũng như bốn trường hợp huấn luyện8 là huấn luyện voi, huấn luyện ngựa, huấn luyện bò và huấn luyện người, trong đó có hai trường hợp huấn luyện nhưng không thể huấn luyện được, có hai trường hợp huấn luyện và có thể huấn luyện được.
Này A-kỳ-xá-na! Ý thầy nghĩ sao? Nếu như ở đây, với hai trường hợp huấn luyện nhưng không thế huấn luyện được, đó gọi là chưa được huấn luyện, thuộc tình trạng chưa được huấn luyện. Ở trường hợp chưa được huấn luyện mà đem ra sử dụng thì điều này không thể xảy ra. Nếu như ở đây, với hai trường hợp huấn luyện, đã huấn luyện được và đã khéo huấn luyện; đó gọi là được huấn luyện từ tình trạng chưa được huấn luyện. Ở trường hợp đã được huấn luyện mà đem ra sử dụng thì tất yếu có sự kiện đó.
Cũng vậy, này A-kỳ-xá-na, thôi đủ rồi! Vương tử Kỳ-bà-tiên-na làm sao có được những điều đó? Bởi vì ông ấy đang sống trong dục vọng, đắm trước dục vọng, bị dục ái nhai nuốt, bị dục vọng đốt cháy. Đối với trạng thái đã đoạn trừ dục, đoạn trừ dục ái, đoạn trừ sự đốt cháy của dục thì chỉ có bậc Vô dục mới biết, bậc Vô dục mới thấy, bậc Vô dục mới chứng đắc. Đối với trạng thái ấy mà Vương tử có thể biết được, có thể thấy được thì điều này không thể xảy ra. Vì sao như vậy? Này A-kỳ-xá-na, vì Vương tử Kỳ-bà-tiên-na thường sống trong dục vọng.
Này A-kỳ-xá-na! Cũng như cách thôn xóm không xa có một núi đá lớn, không sứt mẻ, không thủng lổ, không trống rỗng, bền chặt, không lung lay, hợp thành khối duy nhất. Giả sử có hai người đang muốn ngắm cảnh bên kia núi, nhưng chỉ có một người leo nhanh lên núi, còn người kia đứng lại dưới chân núi. Người đứng trên đỉnh núi đá nhìn thấy bên kia núi đá có khoảng đất bằng phẳng, với vườn tược, rừng cây, suối trong, ao hoa, sông dài, nước lớn. Thấy rồi, người trên núi liền hỏi người đứng ở dưới núi rằng: “Bạn có thấy bên kia núi có khoảng đất bằng phẳng, với vườn tược, rừng cây, ao hoa, suối trong, sông dài, nước lớn chăng?”
Người dưới núi đáp:
“Nếu tôi thấy được khoảng đất bằng phẳng, với vườn tược, rừng cây, suối trong, ao hoa, sông dài, nước lớn ở phía bên kia ngọn núi này thì điều này không thể xảy ra.”
Nghe vậy, người trên núi leo nhanh xuống, đưa người dưới núi lên đỉnh núi đá, đến nơi rồi hỏi:
“Bạn có thấy bên kia núi có khoảng đất bằng phẳng, với vườn tược, rừng cây, suối trong, ao hoa, sông dài, nước lớn chăng?”
Người kia đáp:
“Bây giờ tôi mới thấy.”
Lại hỏi người kia:
“Vừa rồi bạn nói không thể có trường hợp này, bây giờ lại nói thấy, nghĩa là thế nào?”
Người kia đáp:
“Vì vừa rồi tôi bị ngọn núi che khuất nên không thấy.”
Cũng vậy, này A-kỳ-xá-na, thôi đủ rồi! Vương tử Kỳ-bà-tiên-na làm sao có được những điều đó? Bởi vì ông ấy đang sống trong dục vọng, đắm trước dục vọng, bị dục ái nhai nuốt, bị dục vọng đốt cháy. Đối với trạng thái đã đoạn trừ dục, đoạn trừ dục ái, đoạn trừ sự đốt cháy của dục, chỉ có bậc Vô dục mới biết, bậc Vô dục mới thấy, bậc Vô dục mới chứng đắc. Đối với trạng thái ấy mà Vương tử có thể biết được, có thể thấy được thì điều này không thể xảy ra.
[0757c13] Này A-kỳ-xá-na! Thuở xưa, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh có một người thợ săn voi. Vua ra lệnh: “Này thợ săn voi, hãy bắt voi rừng về đây cho trẫm. Nếu bắt được rồi, hãy báo cho trẫm biết.” Bấy giờ, sau khi tuân lệnh nhà vua, người thợ săn voi liền cưỡi con voi chúa đi đến một khu rừng già. Ở trong khu rừng già này, người thợ săn voi trông thấy một con voi rừng rất lớn. Thấy rồi, ông ta liền bắt và buộc nó vào cổ voi chúa. Lúc ấy, voi chúa dẫn voi rừng ra khỏi khu rừng đến khoảng đất trống, còn người thợ săn voi thì đi đến Vua Sátlợi Đảnh Sanh và thưa:
– Tâu Thiên vương, thần đã bắt được con voi rừng, đang cột ở khoảng đất trống, xin Thiên vương định đoạt.
Vua Sát-lợi Đảnh Sanh nghe tâu, liền bảo:
– Này nài voi giỏi, bây giờ ông hãy nhanh chóng huấn luyện con voi rừng đó, hãy huấn luyện kỹ khiến nó trở nên thuần phục. Nếu huấn luyện đã thuần phục rồi thì trở về báo cho trẫm biết.
Người huấn luyện voi giỏi tuân lệnh vua, vác cây gậy cực lớn trên vai phải rồi đi đến chỗ con voi rừng. Người ấy cắm cây gậy xuống đất, cột cổ voi rừng lại, chế ngự tâm ý vui thích núi rừng của nó, trừ khử tâm niệm ham muốn núi rừng, dứt bỏ sự mệt nhọc núi rừng, khiến cho nó vui nơi thôn ấp, quen nết ưa thích nhân gian. Người huấn luyện voi giỏi trước hết cho nó ăn uống.
Này A-kỳ-xá-na! Khi con voi rừng bắt đầu nghe theo nài voi mà chịu ăn uống, người luyện voi giỏi liền nghĩ rằng: “Bây giờ, con voi rừng này có thể sống được rồi. Vì sao như vậy? Vì con voi rừng to lớn này bắt đầu chịu ăn uống.” Khi voi rừng bắt đầu nghe lời nài voi mà chịu ăn uống, nài voi mới nói với nó bằng những lời dịu dàng đáng yêu, bảo nó nằm xuống, đứng dậy, đi tới, đi lui, lấy, bỏ, co lại, duỗi ra. Khi nài voi nói với voi rừng bằng những lời dịu dàng đáng yêu, bảo nó nằm xuống, đứng dậy, đi tới, đi lui, lấy, bỏ, co lại, duỗi ra thì voi rừng làm y theo lời dạy của nài voi như vậy. Này A-kỳ-xá-na, khi voi rừng nghe theo lời dạy của nài voi, bấy giờ nài voi mới buộc hai chân trước, hai chân sau, hai bắp vế, hai bên hông, đùi, xương sống, đầu, trán, tai, ngà và buộc cả vòi nó lại, rồi sai người cầm móc câu ngồi lên đầu nó; đồng thời sai nhiều người cầm dao, thuẫn, giáo, mâu, kích, búa, rìu đứng phía trước, còn nài voi thì tay cầm một cây mâu nhọn đứng trước voi rừng rồi bảo: “Bây giờ, ta huấn luyện ngươi, khiến ngươi không lay động. Ta huấn luyện ngươi, chớ có di chuyển.” Khi voi rừng nghe nài voi huấn luyện không được di chuyển thì nó không nhấc chân trước cũng không động đậy chân sau, hai bắp vế, hai bên hông, đùi, xương sống, đầu, trán, tai, ngà và vòi, tất cả thảy đều không động đậy. Voi rừng nghe theo nài voi nên đứng im bất động như vậy.
[0758a12] Này A-kỳ-xá-na! Khi voi rừng đã nghe theo nài voi, giữ thân không lay động thì lúc ấy, nó nhẫn chịu được tất cả những thứ như dao, giáo, mâu, kích, búa, rìu, hoặc tiếng hò hét lớn, tiếng huýt sáo, thổi tù và, hoặc thúc trống, giục chuông. Khi voi rừng đã có thể kham nhẫn, bấy giờ nó là con voi đã được điều phục, được điều phục khéo léo, được điều phục hơn hết, được điều phục tối thượng, nhanh nhẹn hơn hết, nhanh nhẹn tối thượng, có thể để cho vua cưỡi, ăn thức ăn của vua, được gọi là vương tượng.
Cũng vậy, này A-kỳ-xá-na, khi Như Lai xuất hiện thế gian, là bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy ở trong thế gian này, giữa chúng chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Sa-môn, Phạm chí, từ loài người cho đến cõi trời, tự biết tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu an trú. Pháp mà vị ấy thuyết phần đầu thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh. Pháp được vị ấy nói, khi con của cư sĩ nghe được và sau khi nghe thì có tín tâm nơi giáo pháp của Như Lai. Sau khi có tín tâm, người này liền cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Này A-kỳ-xá-na, đó là lúc vị Thánh đệ tử ra nơi khoảng đất trống, cũng như voi chúa dẫn voi rừng ra khoảng đất trống vậy. Và cũng như voi rừng còn tham luyến, ham muốn, ưa thích nơi đời sống trong núi rừng, này A-kỳ-xá-na, cũng vậy, chư thiên và nhân loại tham luyến, ưa thích, dính mắc nơi năm dục là sắc, thanh, hương, vị và xúc. Như Lai bắt đầu điều phục Tỳ-kheo ấy rằng: “Thầy hãy thủ hộ thân bằng việc nuôi sống thanh tịnh, hãy thủ hộ miệng và ý bằng việc nuôi sống thanh tịnh.”
[0758b01] Khi vị Thánh đệ tử thủ hộ thân bằng việc nuôi sống thanh tịnh, thủ hộ miệng và ý bằng việc nuôi sống thanh tịnh rồi, Như Lai lại điều phục Tỳ-kheo ấy rằng: “Thầy hãy quán nội thân đúng như thân,... (cho đến) quán thọ, tâm, quán nội pháp đúng như pháp.”9 Khi vị Thánh đệ tử quán nội thân đúng như thân,... (cho đến) thọ, tâm, quán nội pháp đúng như pháp thì bốn niệm xứ này xem như ở trong tâm của vị đệ tử Hiền thánh, buộc trói tâm của vị ấy lại, chế ngự tâm ý vui say theo thế tục, trừ khử tâm niệm ham muốn thế tục, dứt trừ sự mệt nhọc thế tục, khiến an vui nơi Chánh pháp, tu tập Thánh giới.
Này A-kỳ-xá-na! Cũng như nài voi, sau khi vâng lệnh Vua Sát-lợi Đảnh Sanh rồi, vác cây gậy cực lớn trên vai phải, đi đến chỗ voi rừng, cắm gậy xuống đất, cột cổ voi rừng lại, chế ngự tâm ý vui thích núi rừng, trừ khử tâm niệm ham muốn núi rừng, dứt bỏ sự mệt nhọc đối với núi rừng, khiến cho nó vui nơi thôn ấp, quen nết ưa thích nhân gian. Cũng vậy, A-kỳ-xá-na, bốn niệm xứ này ở trong tâm của vị đệ tử Hiền thánh, buộc trói tâm vị ấy lại, chế ngự tâm ý vui say thế tục, trừ khử tâm niệm ham muốn thế tục, dứt bỏ sự mệt nhọc thế tục, khiến an vui nơi Chánh pháp, tu tập Thánh giới.
Khi vị Thánh đệ tử quán nội thân đúng như thân,... (cho đến) quán thọ tâm, quán nội pháp đúng như pháp, Như Lai lại huấn luyện vị Tỳ-kheo ấy rằng: “Thầy hãy quán nội thân đúng như thân, đừng suy niệm những tư niệm tương ưng với dục, cho đến quán thọ, tâm, quán nội pháp đúng như pháp, không suy niệm những tư niệm tương ưng với phi pháp.” Vị Thánh đệ tử quán nội thân đúng như thân, không suy niệm những tư niệm tương ưng với dục,... (cho đến) quán thọ, tâm, quán nội pháp đúng như pháp; đó là không suy niệm những tư niệm tương ưng với phi pháp. Vị Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của Như Lai như vậy. Này A-kỳ-xá-na, cũng như voi rừng nghe theo nài voi, bằng những lời dịu dàng đáng yêu, bảo nằm xuống, đứng dậy, đi tới, đi lui, lấy, bỏ, co lại, duỗi ra; voi rừng tuân theo lời dạy của nài voi như vậy. Cũng vậy, A-kỳ-xá-na, khi Thánh đệ tử quán nội thân đúng như thân, không suy niệm tư niệm tương ưng với dục,... (cho đến) quán thọ, tâm, quán nội pháp đúng như pháp, không suy niệm tương ưng với phi pháp; Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của Như Lai như vậy. Khi Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của Như Lai, Như Lai lại huấn luyện Tỳ-kheo ấy rằng: “Thầy hãy lìa dục, lìa pháp ác, bất thiện,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú.” Như vậy, Thánh đệ tử vâng theo Như Lai, an trú không lay động. Này A-kỳ-xá-na, cũng như voi rừng vâng theo sự huấn luyện của nài voi, không di chuyển, không nhấc hai chân trước, hai chân sau, hai bắp vế, hai bên hông, đùi, xương sống, đầu, tai, ngà và vòi, thảy đều không di chuyển; voi rừng nghe theo nài voi, đứng im, không động đậy như vậy. Cũng vậy, A-kỳ-xá-na, khi Thánh đệ tử lìa dục, lìa pháp ác, bất thiện,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú. Như vậy, Thánh đệ tử vâng theo Như Lai mà an trú không lay động.
[0758c06] Khi Thánh đệ tử vâng theo Như Lai mà an trú không lay động, bấy giờ vị ấy có thể kham nhẫn đói, khát, nóng, lạnh, muỗi, rận, rệp, gió, nắng bức bách, dù bị mắng chửi hoặc dùng gậy đánh cũng có thể kham nhẫn; hoặc thân gặp phải bệnh tật rất đau đớn, gần như tuyệt mạng và những điều không vui thích, nhưng vị ấy có thể kham nhẫn tất cả. A-kỳ-xá-na, cũng như voi rừng nghe theo nài voi, đứng im không động đậy, lúc ấy, nó có thể nhẫn chịu được dao, thuẫn, giáo, mâu, kích, búa, rìu, tiếng hò hét lớn, tiếng huýt sáo, thổi tù và, thúc trống, dục chuông, thảy đều có thể kham nhẫn. Cũng vậy, A-kỳ-xá-na, khi Thánh đệ tử vâng theo Như Lai mà an trú không lay động thì bấy giờ vị ấy có thể kham nhẫn đói, khát, lạnh, nóng, muỗi, rận, rệp, gió, nắng bức bách, dù bị mắng chửi hoặc dùng gậy đánh cũng có thể kham nhẫn; hoặc thân gặp phải những bệnh tật rất đau đớn, gần như tuyệt mạng và những điều không vui thích, nhưng vị ấy có thể kham nhẫn tất cả.
A-kỳ-xá-na, khi vị Thánh đệ tử vâng theo Như Lai mà có thể kham nhẫn thì bấy giờ, vị ấy được gọi là bậc đã được điều phục, khéo điều phục, được điều phục hơn hết, được điều phục tối thượng, được tịch tịnh hơn hết, tịch tịnh tối thượng, trừ bỏ các tà vạy, sợ hãi, ngu si và dối nịnh, thanh tịnh lắng đọng phiền não, không cấu nhiễm, không ô uế, xứng đáng tán thán, đáng thỉnh, đáng kính, đáng trọng, thật sự xứng đáng được cúng dường, là ruộng phước lành cho hết thảy chư thiên và loài người. A-kỳ-xá-na, cũng như voi rừng đã có thể kham nhẫn, bấy giờ nó là con voi đã được điều phục, được điều phục khéo léo, được điều phục hơn hết, được điều phục tối thượng, nhanh nhẹn hơn hết, nhanh nhẹn tối thượng, có thể để cho vua cưỡi, ăn lương thực của vua, được gọi là vương tượng.
Cũng vậy, A-kỳ-xá-na, khi vị Thánh đệ tử vâng theo Như Lai mà có thể kham nhẫn thì bấy giờ, vị ấy được gọi là bậc đã được điều phục, khéo điều phục, được điều phục hơn hết, được điều phục tối thượng, được tịch tịnh hơn hết, tịch tịnh tối thượng, trừ bỏ các tà vạy, sợ hãi, ngu si và dua nịnh, thanh tịnh lắng đọng phiền não, không cấu nhiễm, không ô uế, xứng đáng tán thán, đáng thỉnh, đáng kính, đáng trọng, thật sự xứng đáng được cúng dường, là ruộng phước lành cho hết thảy chư thiên và loài người.
Này A-kỳ-xá-na, như con voi rừng còn nhỏ, không được điều phục mà chết thì đó gọi là cái chết không được điều phục. Con voi rừng trung niên không được điều phục mà chết thì đó gọi là cái chết không được điều phục. Này A-kỳxá-na, khi vị Thánh đệ tử niên thiếu không được điều phục mà qua đời thì đó gọi là sự qua đời không được điều phục. Vị Thánh đệ tử trung niên không được điều phục mà qua đời thì đó gọi là sự qua đời không được điều phục.
A-kỳ-xá-na, như con voi rừng còn nhỏ được khéo điều phục mà chết thì đó gọi là cái chết khéo điều phục. Như con voi rừng trung niên được khéo điều phục mà chết thì đó gọi là cái chết được khéo điều phục. A-kỳ-xá-na, vị Thánh đệ tử niên thiếu được khéo điều phục mà qua đời thì đó gọi là sự qua đời khéo điều phục. Vị Thánh đệ tử trung niên được khéo điều phục mà qua đời thì đó gọi là sự qua đời khéo điều phục.
Đức Phật dạy như vậy, Sa-di A-di-na-hòa-đề và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.10
Chú Thích
1 Nguyên tác: Điều ngự địa kinh 調御地經 (T.01. 0026.198. 0757a03). Tham chiếu: M. 125, Dantabhūmi Sutta (Kinh điều ngự địa). Điều ngự địa: Ở địa vị đã được điều phục, ở trạng thái đã được điều phục.
2 A-di-na-hòa-đề (阿夷那和提, Aciravata): Sa-di tân học Aciravata.
3 Nguyên tác: Vương đồng tử (王童子), một vị thái tử còn niên thiếu (rājakumāra).
4 Kỳ-bà-tiên-na (耆婆先那, Jayasena).
5 A-kỳ-xá-na (阿奇舍那, Aggivassana). Theo DPPN, có lẽ là tên riêng của một dòng họ Bà-la-môn (Agnivesyāyanas). Ở đây, Thái tử Kỳ-bà-tiên-na (Jayasena) muốn xưng danh dòng họ của vị Sa-di để thể hiện sự tôn kính.
6 Nguyên tác: Hiền vương đồng tử (賢王童子), cách nói chuyện khéo léo, thể hiện sự tôn trọng với bậc Vương tôn của Sa-di tân học A-di-na-hòa-đề.
7 Nguyên tác: Địa (地, bhūmi): Địa vị, trạng thái hay trình độ.
8 Nguyên tác: Điều ngự (調御, damma): Được huấn luyện, chế phục. M. 125 chỉ kể có 3: Hatthidamma (huấn luyện voi), assadamma (huấn luyện ngựa), godamma (huấn luyện bò).
9 Nguyên tác: Quán nội thân như thân,… nãi chí… quán giác…, tâm…, pháp như pháp (觀內身如身乃 至觀覺心法如法). Xem chú thích 3, kinh số 41, tr. 272 và chú thích 5, kinh số 98, tr. 653.
10 Bản Hán, hết quyển 52.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.