Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

197. KINH ƯU-BÀ-LY[1]

 

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa tại Chiêm-ba rồi ngụ bên bờ hồ Hằng-già.[2]

   Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả Ưu-bà-ly từ nơi tĩnh tọa đứng dậy, đi đến chỗ Phật, cúi lạy sát chân Ngài rồi ngồi sang một bên và thưa:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng nhau hòa hợp mà lại cử hành pháp “biệt yết-ma”[3] thuyết “biệt yết-ma”[4] thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn dạy:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật hiện diện[5] nhưng lại dùng Luật nhớ lại,[6] cần áp dụng Luật nhớ lại, lại dùng Luật hiện diện thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật nhớ lại nhưng lại dùng Luật không si mê,[7] cần áp dụng Luật không si mê, lại dùng Luật nhớ lại thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn dạy:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

[0756a01] Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn, nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật không si mê lại dùng Luật tự tỏ bày tội lỗi,[8] cần áp dụng Luật tự tỏ bày tội lỗi lại dùng Luật không si mê thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn dạy:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật tự tỏ bày tội lỗi, lại dùng Luật nhiều người chỉ tội,[9] cần áp dụng Luật nhiều người chỉ tội lại dùng Luật tự tỏ bày tội lỗi thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật nhiều người chỉ tội lại dùng pháp “khiển trách”, cần áp dụng pháp “khiển trách”, lại dùng Luật nhiều người chỉ tội thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, cần áp dụng pháp “khiển trách” lại dùng pháp “giữ nguyên tội”,[10] cần áp dụng pháp “giữ nguyên tội”, lại dùng pháp “khiển trách” thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “giữ nguyên tội” lại dùng pháp “cử tội”,[11] cần áp dụng pháp “cử tội”, lại dùng pháp “giữ nguyên tội” thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “cử tội” lại dùng pháp “tẩn xuất”,[12] cần áp dụng pháp “tẩn xuất”, lại dùng pháp “cử tội” thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trường hợp cần áp dụng pháp “tẩn xuất” lại dùng pháp “nhớ lại”, cần áp dụng pháp “nhớ lại”, lại dùng pháp “tẩn xuất” thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “nhớ lại” lại dùng pháp “căn bản trị”,13 cần phải áp dụng pháp “căn bản trị”, lại dùng pháp “nhớ lại” thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yếtma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “căn bản trị” lại dùng pháp “khu xuất”,[13] cần áp dụng pháp “khu xuất”, lại dùng pháp “căn bản trị” thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “khu xuất” lại dùng pháp “hành bất mạn”,[14] cần áp dụng pháp “hành bất mạn”, lại dùng pháp “khu xuất” thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

Tôn giả Ưu-bà-ly lại hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần phải áp dụng pháp “hành bất mạn” lại dùng pháp “xuất tội”,[15] cần áp dụng pháp “xuất tội”, lại dùng pháp “hành bất mạn” thì đó có phải là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

  • Này Ưu-bà-ly! Không đúng Luật.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp mà lại cử hành “biệt yếtma”, thuyết “biệt yết-ma” thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật hiện diện nhưng lại dùng Luật nhớ lại, cần áp dụng Luật nhớ lại nhưng lại dùng Luật hiện diện thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật nhớ lại nhưng lại dùng Luật không si mê, cần áp dụng Luật không si mê nhưng lại dùng Luật nhớ lại thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật không si mê nhưng lại dùng Luật tự tỏ bày tội lỗi, cần áp dụng Luật tự tỏ bày tội lỗi nhưng lại dùng Luật không si mê thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

  Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật tự tỏ bày tội lỗi nhưng lại dùng Luật nhiều người chỉ tội, cần áp dụng Luật nhiều người chỉ tội nhưng lại dùng Luật tự tỏ bày tội lỗi thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật nhiều người chỉ tội nhưng lại dùng pháp “khiển trách”, cần áp dụng pháp “khiển trách” nhưng lại dùng Luật nhiều người chỉ tội thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “khiển trách” nhưng lại dùng pháp “giữ nguyên tội”, cần áp dụng pháp “giữ nguyên tội” nhưng lại dùng pháp “khiển trách” thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “giữ nguyên tội” nhưng lại dùng pháp “cử tội”, cần áp dụng pháp “cử tội” nhưng lại dùng pháp “giữ nguyên tội” thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “cử tội” nhưng lại dùng pháp “tẩn xuất”, cần áp dụng pháp “tẩn xuất” nhưng lại dùng pháp “cử tội” thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “tẩn xuất” nhưng lại dùng pháp “nhớ lại”, cần áp dụng pháp “nhớ lại” nhưng lại dùng pháp “tẩn xuất” thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “nhớ lại” nhưng lại dùng pháp “căn bản trị”, cần áp dụng pháp “căn bản trị” nhưng lại dùng pháp “nhớ lại” thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “căn bản trị” nhưng lại dùng pháp “khu xuất”, cần áp dụng pháp “khu xuất” nhưng lại dùng pháp “căn bản trị” thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “khu xuất” nhưng lại dùng pháp “hành bất mạn”, cần áp dụng pháp “hành bất mạn” nhưng lại dùng pháp “khu xuất” thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng pháp “hành bất mạn” nhưng lại dùng pháp “xuất tội”, cần áp dụng pháp “xuất tội” nhưng lại dùng pháp “hành bất mạn” thì đó không phải là yết-ma đúng Pháp, không phải yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng có tội.

   [0756c11] Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, tùy theo loại yết-ma nào mà thuyết yết-ma đó. Đó là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng không có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Nếu chúng Tỳ-kheo cùng hòa hợp, trong trường hợp cần áp dụng Luật hiện diện, liền áp dụng Luật hiện diện; cần áp dụng Luật nhớ lại, liền áp dụng Luật nhớ lại; cần áp dụng Luật không si mê, liền áp dụng Luật không si mê; cần áp dụng Luật tự tỏ bày tội lỗi, liền áp dụng Luật tự tỏ bày tội lỗi; cần áp dụng Luật nhiều người chỉ tội, liền áp dụng Luật nhiều người chỉ tội; cần “khiển trách” liền “khiển trách”; cần “giữ nguyên” liền “giữ nguyên”; cần “cử tội” liền “cử tội”; cần “tẩn xuất” liền “tẩn xuất”; cần “nhớ lại” liền “nhớ lại”; cần dùng “căn bản trị” liền dùng “căn bản trị”; cần “khu xuất” liền dùng “khu xuất”; cần “hành bất mạn” liền “hành bất mạn”; cần “xuất tội” liền “xuất tội.” Đó là yết-ma đúng Pháp, yết-ma đúng Luật, Tăng chúng cũng không có tội.

   Này Ưu-bà-ly! Thầy nên học tùy theo loại yết-ma nào thì thuyết yết-ma đó; cần áp dụng Luật hiện diện liền áp dụng Luật hiện diện; cần áp dụng Luật nhớ lại liền áp dụng Luật nhớ lại; cần áp dụng Luật không si mê liền áp dụng Luật không si mê; cần áp dụng Luật tự tỏ bày tội lỗi liền áp dụng Luật tự tỏ bày tội lỗi; cần áp dụng Luật nhiều người chỉ tội liền áp dụng Luật nhiều người chỉ tội; cần “khiển trách” liền “khiển trách”; cần “giữ nguyên” liền “giữ nguyên”; cần “cử tội” liền “cử tội”; cần “tẩn xuất” liền “tẩn xuất”; cần “nhớ lại” liền “nhớ lại”; cần dùng “căn bản trị” liền dùng “căn bản trị”; cần “khu xuất”liền “khu xuất”; cần “hành bất mạn” liền “hành bất mạn”; cần “xuất tội” liền “xuất tội.” Này Ưu-bà-ly, thầy nên học như vậy.

   Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả Ưu-bà-ly và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

 
 
Chú thích:

[1] Nguyên tác: Ưu-bà-ly kinh 優婆離經 (T.01. 0026.197. 0755c17). Tham chiếu: Mv. 9, Campeyyakkhandhakaṃ (chương Campā).

[2] Chiêm-ba Hằng-già trì (瞻波恆伽池): Hồ sen ở thành Chiêm-ba (瞻波, Campā) do Hoàng hậu Gaggarā (Hằng-già, 恆伽) xây dựng, nên dùng tôn danh của bà để đặt tên.

[3] Nguyên tác: Tác dị nghiệp, thuyết dị nghiệp (作異業, 說異業). Nghiệp (業) có gốc Pāli là kamma, phiên âm là yết-ma (羯磨), là một nguyên tắc nghị sự trong tổ chức Tăng đoàn Phật giáo. Trong đó, dùng ý chí hòa hợp để đưa đến hành động thanh tịnh của Tăng đoàn.

[4] Nguyên tác: Dị nghiệp (異業) tức Biệt yết-ma (別羯磨, Vaggakamma), cùng ở trong một kiết giới, vì hoàn cảnh đặc biệt nào đó, một số ít Tăng sĩ trong giáo đoàn tách rời đại chúng để làm tác pháp riêng, gọi là Biệt yết-ma.

[5] Nguyên tác: Diện tiền luật (面前律, sammukhāvinaya).

[6] Nguyên tác: Ức luật (憶律, sativinaya).

[7] Nguyên tác: Bất si luật (不癡律, amūḷhavinaya).

[8] Nguyên tác: Tự phát lộ luật (自發露律, paṭiññāya kāretabbaṃ).

[9] Nguyên tác: Quân luật (君律, yebhuyyasikā). Xem chú thích 12, kinh số 196, tr. 1309.

[10] Nguyên tác: Ưng trách số giả nhi hạ trí (應責數者而下置), tức bắt phục tùng sự giám hộ.

[11] Nguyên tác: Ưng hạ trí giả nhi cử (應下置者而舉), tức cử tội (āpatti), buộc tội Tỳ-kheo trước đại chúng.

[12] Nguyên tác: Ưng cử giả nhi tẩn (應舉者而擯), tức diệt tẩn (pravrājana), trục xuất ra khỏi Tăng đoàn. 13 “Căn bản trị” (根本治). Luật tứ phần 四分律 (T.22. 1428.33. 0799b25) gọi là “Bản nhật trị” (本日治).

[13] Khu xuất (驅出, pravrājana) tức “tẩn xuất”, đuổi Tỳ-kheo ra khỏi chỗ đang ở, di chuyển đến chỗ khác, cũng gọi là “biệt trú” (別住, parivāsa).

[14] Hành bất mạn (行不慢). Theo Thiện Kiến luật Tỳ-bà-sa 善見律毘婆沙 (T.24. 1462.14. 0770c09), Ma-na-đỏa (摩那埵, Mānatta) là cách thức chiết phục sự cống cao, trong pháp sám hối tội Tăng-giàbà-thi-sa.

[15] Nguyên tác: Trị (治). Phép xuất tội (abbheti).

 

 

 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.