Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

195. KINH A-THẤP-BỐI[1]

 

 

Tôi nghe như vầy:

   Một thời, đức Phật cùng với đại chúng Tỳ-kheo du hóa nước Ca-thi.[2] Khi đến một trú xứ, đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

  • Ta mỗi ngày ăn một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi nên được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Các thầy cũng nên ăn ngày một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc.

   Bấy giờ, Thế Tôn vì chúng Tỳ-kheo mà chế giới mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Các Tỳ-kheo đều vâng giữ học giới này và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ. Thế rồi, đức Thế Tôn đi dần đến thôn Ca-la-lại,[3] trú trong rừng Thi-nhiếp-hòa nằm ở phía Bắc của thôn này.

   Lúc đó, tại Ca-la-lại có hai vị Tỳ-kheo, một vị tên là A-thấp-bối,[4] một vị tên là Phất-na-bà-tu,[5] trước đây vốn là chủ đất, chủ tinh xá, chủ tông phái. Hai Tỳ-kheo này sáng cũng ăn, chiều cũng ăn, trưa cũng ăn, quá ngọ cũng ăn. Họ sáng cũng ăn, chiều cũng ăn, trưa cũng ăn, quá ngọ cũng ăn để được thảnh thơi tự tại, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Rất nhiều Tỳ-kheo biết việc này, liền đến chỗ hai Tỳ-kheo A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu nói rằng:

  • Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Thế Tôn du hóa nước Ca-thi cùng đại chúng Tỳ-kheo. Khi đến một trú xứ kia, đức Phật nói với các Tỳ-kheo: “Ta mỗi ngày ăn một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi nên được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Các thầy cũng nên ăn ngày một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc.” Lúc ấy, Thế Tôn vì chúng Tỳ-kheo mà chế giới mỗi ngày ăn một bữa. Các Tỳ-kheo đều vâng giữ học giới này và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ. Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Hai thầy cũng nên ăn ngày một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Các thầy chớ trái nghịch với Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo.

A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu nghe vậy, liền trả lời:

  • Này chư Hiền! Chúng tôi ăn sáng, ăn chiều, ăn trưa, ăn quá ngọ. Ăn như thế rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Vì lý do gì mà chúng tôi phải từ bỏ hiện tại để trông chờ cái mai sau?[6]

Hai vị ấy đáp trả ba lần như thế.

   [0750a02] Chúng Tỳ-kheo không thể khiến cho A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu từ bỏ tà kiến xấu ác, liền từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi, đến chỗ đức Phật, lạy sát chân Ngài, đứng sang một bên rồi thưa:

  • Kính bạch Thế Tôn! Ở tại Ca-la-lại có hai Tỳ-kheo, một vị tên là A-thấp-bối, một vị tên là Phất-na-bà-tu, trước đây vốn là chủ đất, chủ tinh xá, chủ tông phái. Nay hai Tỳ-kheo này sáng cũng ăn, chiều cũng ăn, trưa cũng ăn, quá ngọ cũng ăn. Họ ăn uống như thế để được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Bạch Thế Tôn! Chúng con biết vậy, liền đến chỗ hai Tỳ-kheo A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu bảo với họ rằng: “Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Thế Tôn du hóa nước Ca-thi cùng đại chúng Tỳ-kheo. Khi đến trú xứ kia, đức Phật nói với các Tỳ-kheo: ‘Ta mỗi ngày ăn một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi nên được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Các thầy cũng nên ăn ngày một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc.’ Lúc ấy, Thế Tôn vì chúng Tỳ-kheo mà chế giới mỗi ngày ăn một bữa. Các Tỳkheo đều vâng giữ học giới này và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ. Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Hai thầy cũng nên ăn ngày một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Các thầy chớ trái nghịch với Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo.”

   A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu nghe vậy, liền trả lời: “Này chư Hiền! Chúng tôi ăn sáng, ăn chiều, ăn trưa, ăn quá ngọ. Ăn như thế rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Vì lý do gì mà chúng tôi phải từ bỏ hiện tại để trông chờ cái mai sau?” Hai vị ấy đáp trả ba lần như thế. Bạch Thế Tôn! Chúng con không thể khiến A-thấpbối và Phất-na-bà-tu từ bỏ tà kiến xấu ác, cho nên đã đứng dậy bỏ đi.

Thế Tôn nghe xong, liền bảo một Tỳ-kheo:

  • Thầy hãy đến chỗ hai Tỳ-kheo A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu nói như vầy:

“Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Thế Tôn truyền gọi hai thầy.” Tỳ-kheo ấy nghe rồi liền thưa:

  • Kính vâng, bạch Thế Tôn!

   Rồi Tỳ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ và nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lui ra, đến chỗ hai Tỳ-kheo A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu nói rằng:

  • Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Thế Tôn truyền gọi hai thầy.

[0750b04] A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu nghe vậy liền đến chỗ đức Phật, cúi đầu lễ chân Ngài rồi ngồi sang một bên.

Thế Tôn liền hỏi:

  • Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Chúng Tỳ-kheo có thật sự đã nói với hai thầy như vầy: “Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Thế Tôn du hóa nước Cathi cùng đại chúng Tỳ-kheo. Khi đến một trú xứ kia, đức Phật nói với các Tỳkheo: ‘Ta mỗi ngày ăn một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi nên được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Các thầy cũng nên ăn ngày một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc.’ Bấy giờ, Thế Tôn vì chúng Tỳ-kheo mà chế giới mỗi ngày ăn một bữa. Các Tỳ-kheo đều vâng giữ học giới này và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ. Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Hai thầy cũng nên ăn ngày một bữa. Mỗi ngày ăn một bữa rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Các thầy chớ trái nghịch với Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo.”

   Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Khi các thầy nghe như vậy rồi liền trả lời: “Này chư Hiền! Chúng tôi ăn sáng, ăn chiều, ăn trưa, ăn quá ngọ. Ăn như thế rồi nên được thảnh thơi tự tại, cũng không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, sống trong an lạc. Vì lý do gì mà chúng tôi phải từ bỏ hiện tại để trông chờ cái mai sau?” Hai thầy đã đáp trả ba lần như thế. Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Chúng Tỳ-kheo không thể khiến các thầy từ bỏ tà kiến xấu ác, cho nên đứng dậy bỏ đi, có phải như vậy không?

A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu thưa:

  • Kính bạch Thế Tôn! Thật có như vậy.

Đức Thế Tôn hỏi:

  • Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Phải chăng các thầy hiểu về pháp và đã nói như vầy: “Nếu ai cảm nhận được lạc thọ, khi vị đó đã cảm nhận lạc thọ rồi thì các pháp ác, bất thiện tăng trưởng, còn các thiện pháp sẽ giảm dần. Nếu ai cảm nhận được khổ thọ, khi vị đó đã cảm nhận khổ thọ rồi thì pháp ác, bất thiện giảm dần, còn các thiện pháp tăng trưởng?”

A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu thưa:

  • Kính vâng, bạch Thế Tôn! Chúng con hiểu về pháp được Thế Tôn thuyết giảng như vầy: “Nếu ai cảm nhận được lạc thọ, khi vị đó đã cảm nhận lạc thọ rồi thì các pháp bất thiện tăng trưởng và các thiện pháp giảm dần. Nếu ai cảm nhận được khổ thọ, khi vị đó đã cảm nhận khổ thọ rồi thì pháp ác, bất thiện giảm dần và các thiện pháp tăng trưởng.”

[0750c02] Thế Tôn liền quở trách Tỳ-kheo A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu rằng:

  • Các thầy thật si mê! Do đâu mà các thầy cho rằng Ta thuyết pháp ấy? Các thầy thật si mê! Các thầy nghe pháp ấy từ miệng ai thuyết vậy? Các thầy thật si mê! Từ trước đến nay, Ta không hề nói một chiều như vậy mà các thầy lại thọ trì một chiều như vậy. Các thầy thật si mê! Nếu có chúng Tỳ-kheo nào đến hỏi như trên thì các thầy phải đúng như pháp mà đáp rằng: “Chúng tôi chưa biết, hãy hỏi các Tỳ-kheo khác.”

Bấy giờ, Thế Tôn hỏi chúng Tỳ-kheo:

  • Các thầy có cho rằng Ta thuyết pháp như vầy hay không: “Nếu ai cảm nhận được lạc thọ, khi vị đó đã cảm nhận lạc thọ rồi thì các pháp bất thiện tăng trưởng và các thiện pháp giảm dần. Nếu ai cảm nhận được khổ thọ, khi vị đó đã cảm nhận khổ thọ rồi thì pháp bất thiện giảm dần và các thiện pháp tăng trưởng?” Các Tỳ-kheo đáp:
  • Thưa không, bạch Thế Tôn!

Thế Tôn lại hỏi:

  • Các thầy hiểu pháp Như Lai thuyết như thế nào?

Số đông Tỳ-kheo đáp:

  • Kính bạch Thế Tôn! Chúng con hiểu pháp Thế Tôn thuyết như vầy: “Hoặc có trường hợp cảm nhận được lạc thọ thì pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần; cũng có trường hợp cảm nhận được lạc thọ thì pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng. Hoặc có trường hợp cảm nhận được khổ thọ thì pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần; cũng có trường hợp cảm nhận được khổ thọ thì pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng.” Bạch Thế Tôn! Chúng con hiểu pháp Thế Tôn thuyết như vậy.

Đức Thế Tôn nghe xong, liền khen ngợi các Tỳ-kheo:

  • Lành thay! Lành thay! Các thầy nên hiểu như vầy: “Hoặc có trường hợp cảm nhận được lạc thọ thì pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần; cũng có trường hợp cảm nhận được lạc thọ thì pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng. Hoặc có trường hợp cảm nhận được khổ thọ thì pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần; cũng có trường hợp cảm nhận được khổ thọ thì pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng.” Vì sao như vậy? Vì Ta cũng thuyết như vầy: “Hoặc có trường hợp cảm nhận được lạc thọ thì pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần; cũng có trường hợp cảm nhận được lạc thọ thì pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng. Hoặc có trường hợp cảm nhận được khổ thọ thì pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần; cũng có trường hợp cảm nhận được khổ thọ thì pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng.”

   Nếu Ta không biết đúng như thật, không thấy, không hiểu, không chứng đắc, không giác ngộ rốt ráo về trường hợp có cảm thọ lạc khiến pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần thì Ta không dạy phải từ bỏ cảm thọ lạc đó. Nếu Ta không biết đúng như thật, không thấy, không hiểu, không chứng đắc, không giác ngộ rốt ráo về trường hợp có cảm thọ lạc khiến pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng thì Ta không dạy phải an trú vào cảm thọ lạc đó.

   Nếu Ta không biết đúng như thật, không thấy, không hiểu, không chứng đắc, không giác ngộ rốt ráo về trường hợp có cảm thọ khổ khiến pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần thì Ta không dạy phải từ bỏ cảm thọ khổ đó. Nếu Ta không biết đúng như thật, không thấy, không hiểu, không chứng đắc, không giác ngộ rốt ráo về trường hợp có cảm thọ khổ khiến pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng thì Ta không dạy phải an trú vào cảm thọ khổ đó.

   [0751a08] Nếu Ta biết đúng như thật, đã thấy, đã hiểu, đã chứng đắc, đã giác ngộ rốt ráo về trường hợp có cảm thọ lạc khiến pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần thì Ta dạy phải từ bỏ cảm thọ lạc đó. Nếu Ta biết đúng như thật, đã thấy, đã hiểu, đã chứng đắc, đã giác ngộ rốt ráo về trường hợp có cảm thọ lạc khiến pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng thì Ta dạy phải an trú vào cảm thọ lạc đó.

   Nếu Ta biết đúng như thật, đã thấy, đã hiểu, đã chứng đắc, đã giác ngộ rốt ráo về trường hợp có cảm thọ khổ khiến pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần thì Ta dạy phải từ bỏ cảm thọ khổ đó. Nếu Ta biết đúng như thật, đã thấy, đã hiểu, đã chứng đắc, đã giác ngộ rốt ráo về trường hợp có cảm thọ khổ khiến pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng thì Ta dạy phải an trú vào cảm thọ khổ đó.

   Vì sao như vậy? Ta không dạy an trú hoàn toàn vào thân lạc,[7] cũng không dạy không nên an trú hoàn toàn vào thân lạc. Ta không dạy an trú hoàn toàn vào thân khổ, cũng chẳng dạy không nên an trú hoàn toàn vào thân khổ. Ta không dạy an trú hoàn toàn vào tâm lạc,8 cũng chẳng dạy không nên an trú hoàn toàn vào tâm lạc. Ta không dạy an trú hoàn toàn vào tâm khổ, cũng chẳng dạy không nên an trú hoàn toàn vào tâm khổ.

   Thế nào là thân lạc mà Ta dạy không nên an trú? Nếu an trú vào thân lạc mà khiến pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần thì thân lạc như vậy Ta dạy không nên an trú. Thế nào là thân lạc mà Ta dạy nên an trú? Nếu an trú vào thân lạc mà khiến pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng thì thân lạc như vậy Ta dạy nên an trú. Thế nào là thân khổ mà Ta dạy không nên an trú? Nếu an trú vào thân khổ mà khiến pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần thì thân khổ như vậy Ta dạy không nên an trú. Thế nào là thân khổ mà Ta dạy nên an trú? Nếu an trú vào thân khổ mà pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng thì thân khổ như vậy Ta dạy nên an trú.

   Thế nào là tâm lạc Ta dạy không nên an trú? Nếu an trú vào tâm lạc mà khiến các pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần thì tâm lạc như vậy Ta dạy không nên an trú. Thế nào là tâm lạc Ta dạy nên an trú? Nếu an trú vào tâm lạc mà khiến pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng thì tâm lạc như vậy Ta dạy nên an trú. Thế nào là tâm khổ mà Ta dạy không nên an trú? Nếu an trú vào tâm khổ mà khiến các pháp ác, bất thiện tăng trưởng và thiện pháp giảm dần thì tâm khổ như vậy Ta dạy không nên an trú. Thế nào là tâm khổ mà Ta dạy nên an trú? Nếu an trú vào tâm khổ mà khiến pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp tăng trưởng thì tâm khổ như vậy Ta dạy nên an trú.

   Như vậy, một vị Tỳ-kheo cần phải biết đúng như thật pháp nào nên tu tập và cũng cần phải biết đúng như thật pháp nào không nên tu tập. Sau khi đã biết đúng như thật như vậy rồi thì không tu theo những pháp không nên tu tập và tu theo những pháp nên tu tập. Sau khi đã không tu theo những pháp không nên tu tập và tu theo những pháp nên tu tập rồi thì pháp ác, bất thiện giảm dần và thiện pháp được tăng trưởng.

   [0751b11] Ta không khuyên bảo tất cả Tỳ-kheo cần phải tu hạnh không buông lung, cũng không khuyên bảo tất cả Tỳ-kheo không cần tu hạnh không buông lung.

   Tỳ-kheo như thế nào mà Ta khuyên bảo không cần tu hạnh không buông lung? Thứ nhất, đó là Tỳ-kheo thành tựu Câu giải thoát.[8] Thế nào là Tỳ-kheo thành tựu Câu giải thoát? Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu và an trú Bát giải thoát,[9] nhờ dùng trí tuệ để quán xét nên các lậu được trừ sạch, được liễu tri. Tỳ-kheo như vậy gọi là Tỳ-kheo Câu giải thoát. Đối với Tỳ-kheo này, Ta cho rằng không cần tu hạnh không buông lung. Vì sao như vậy? Vì Hiền giả này vốn sẵn có hạnh không buông lung, nếu Hiền giả này trước đây mà buông lung thì nay chẳng thể chứng đạt như vậy. Do đó, Ta cho rằng Tỳ-kheo này không cần tu hạnh không buông lung. Thứ hai, đó là Tỳ-kheo tuy chưa đạt Câu giải thoát nhưng đã thành tựu Tuệ giải thoát. Thế nào là Tỳ-kheo đã thành tựu Tuệ giải thoát? Đó là Tỳkheo tuy chưa thành tựu và an trú Bát giải thoát, nhưng nhờ dùng trí tuệ để quán xét nên các lậu được trừ sạch, được liễu tri. Tỳ-kheo như vậy gọi là Tỳ-kheo Tuệ giải thoát. Với Tỳ-kheo này, Ta cho rằng không cần tu hạnh không buông lung. Vì sao như vậy? Vì Hiền giả này vốn sẵn có hạnh không buông lung, nếu Hiền giả này trước đây mà buông lung thì chẳng thể chứng đạt như vậy. Do đó, Ta cho rằng Tỳ-kheo này không cần tu hạnh không buông lung.

   Như vậy, với hai hạng Tỳ-kheo trên, Ta cho rằng không cần tu hạnh không buông lung.

   Tỳ-kheo như thế nào mà Như Lai khuyên cần phải tu hạnh không buông lung? Thứ nhất, đó là Tỳ-kheo tuy chưa đạt Câu giải thoát, cũng chưa đạt Tuệ giải thoát nhưng thành tựu Thân chứng. Thế nào là Tỳ-kheo thành tựu Thân chứng? Đó là Tỳ-kheo thành tựu và an trú Bát giải thoát, nhưng không dùng trí tuệ quán xét để các lậu được trừ sạch, được liễu tri. Tỳ-kheo như vậy gọi là Tỳ-kheo Thân chứng. Với Tỳ-kheo này, Ta khuyên nên tu hạnh không buông lung. Như Lai nhận thấy vị Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì được quả vị gì mà khuyên như thế? Tỳ-kheo chế ngự các căn, thân cận thiện tri thức, tùy thuận an trú thì các lậu diệt tận, đắc vô lậu, được tâm giải thoát, được tuệ giải thoát; ngay trong hiện đời tự biết tự ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu an trú và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Vì Ta nhận thấy Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì sẽ đạt quả vị như thế, nên Ta khuyên vị ấy tu hạnh không buông lung.

   [0751c09] Thứ hai, đó là Tỳ-kheo tuy chưa đạt Câu giải thoát, chưa đạt Tuệ giải thoát, cũng chưa đạt Thân chứng, nhưng đã thành tựu Kiến đáo. Thế nào là Tỳ-kheo thành tựu Kiến đáo? Tỳ-kheo có lòng tin kiên định đối với Phật, Pháp và Tăng, tùy thuận theo pháp được nghe, nương nhờ trí tuệ mà có tăng thượng quán và tăng thượng nhẫn. Tỳ-kheo như vậy gọi là Tỳ-kheo Kiến đáo. Với Tỳ-kheo này, Như Lai khuyên nên tu hạnh không buông lung. Ta nhận thấy vị Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì được quả vị gì mà khuyên như thế? Tỳ-kheo chế ngự các căn, thân cận thiện tri thức, tùy thuận an trú thì các lậu diệt tận, đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong hiện đời tự biết tự ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu an trú và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Vì Ta thấy Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì sẽ đạt quả vị như thế nên Ta khuyên vị ấy tu hạnh không buông lung.

   Thứ ba, đó là Tỳ-kheo tuy không đạt Câu giải thoát, không đạt Tuệ giải thoát, không đạt Thân chứng, cũng không đạt Kiến đáo, nhưng đã thành tựu Tín giải thoát. Thế nào là Tỳ-kheo thành tựu Tín giải thoát? Tỳ-kheo có lòng tin kiên định đối với Phật, Pháp và Tăng, tùy thuận theo pháp được nghe, nương nhờ trí tuệ mà có quán và nhẫn, nhưng không bằng bậc Kiến đáo. Tỳ-kheo như vậy gọi là Tỳ-kheo Tín giải thoát. Với Tỳ-kheo này, Ta khuyên nên tu hạnh không buông lung. Ta nhận thấy vị Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì được quả vị gì mà khuyên như thế? Tỳ-kheo chế ngự các căn, thân cận thiện tri thức, tùy thuận an trú thì các lậu diệt tận, đắc vô lậu, Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát, ngay trong hiện đời tự biết tự ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu an trú và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Vì Ta nhận thấy Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì sẽ đạt quả vị như thế, nên Ta khuyên vị ấy tu hạnh không buông lung.

   [0752a03] Thứ tư, đó là Tỳ-kheo tuy không đạt Câu giải thoát, không đạt Tuệ giải thoát, không đạt Thân chứng, không đạt Kiến đáo, cũng chưa đạt Tín giải thoát, nhưng đã thành tựu [Tùy] pháp hành.[10] Thế nào là Tỳ-kheo thành tựu Tùy pháp hành? Tỳ-kheo có lòng tin kiên định với Phật, Pháp và Tăng, tùy thuận theo pháp được nghe, nương nhờ trí tuệ mà có tăng thượng quán và tăng thượng nhẫn. Tỳ-kheo như vậy gọi là Tỳ-kheo pháp hành. Với Tỳ-kheo này, Ta khuyên nên tu hạnh không buông lung. Ta nhận thấy vị Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì được quả vị gì mà khuyên như thế? Tỳ-kheo chế ngự các căn, thân cận thiện tri thức, tùy thuận an trú thì trong hai quả vị sau sẽ chứng đắc được một quả vị: Hoặc ngay hiện tại chứng đắc Cứu cánh trí, hoặc nếu còn Hữu dư thì chứng đắc A-na-hàm. Vì Ta nhận thấy Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì sẽ đạt vị quả như thế, nên Ta khuyên vị ấy tu hạnh không buông lung.

   Thứ năm, đó là Tỳ-kheo tuy không đạt Câu giải thoát, không đạt Tuệ giải thoát, không đạt Thân chứng, không đạt Kiến đáo, không đạt Tín giải thoát, cũng chưa đạt Pháp hành, nhưng đã thành tựu [Tùy] tín hành.[11] Thế nào là Tỳkheo thành tựu Tùy tín hành? Tỳ-kheo có lòng tin kiên định với Phật, Pháp và Tăng, tùy thuận pháp được nghe, nương nhờ trí tuệ mà có quán và nhẫn, nhưng không bằng bậc Pháp hành. Tỳ-kheo như vậy gọi là Tỳ-kheo tín hành. Với Tỳkheo này, Ta khuyên nên tu hạnh không buông lung. Ta nhận thấy vị Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì được quả vị gì mà khuyên như thế? Tỳ-kheo chế ngự các căn, thân cận thiện tri thức, tùy thuận an trú thì sẽ chứng đắc một trong hai quả vị sau: Hoặc ngay hiện tại chứng đắc Cứu cánh trí, hoặc nếu còn Hữu dư thì chứng đắc A-na-hàm. Vì Ta thấy Tỳ-kheo này nếu tu hạnh không buông lung thì sẽ đạt quả vị như thế, nên Ta khuyên vị ấy tu hạnh không buông lung.

   Ta không nói tất cả Tỳ-kheo đều thành tựu Cứu cánh trí, cũng không nói tất cả Tỳ-kheo thành tựu Cứu cánh trí ngay từ lúc đầu[12] mà cần phải tuần tự tu tập qua từng giai đoạn, nhận lãnh giáo huấn, nhẫn chịu khiển trách rồi sau đó các Tỳ-kheo mới đạt được Cứu cánh trí.[13] Đó là những Tỳ-kheo đạt được Cứu cánh trí.

   Thế nào là phải tuần tự tu tập qua từng giai đoạn, phải nhận lãnh giáo huấn, phải nhẫn chịu khiển trách rồi sau đó các Tỳ-kheo mới có thể đạt được Cứu cánh trí, thành những Tỳ-kheo đạt được Cứu cánh trí? Như có người tín tâm tìm đến; tìm đến rồi liền học tập và phụng sự; học tập và phụng sự rồi liền nhất tâm nghe pháp; nhất tâm nghe pháp rồi liền trì pháp; trì pháp rồi liền tư duy về pháp; tư duy về pháp rồi nhận định;[14] nhận định về pháp rồi thẩm sát.16 Đệ tử Hiền thánh thẩm sát về pháp rồi tự thân tác chứng chân đế và nương nhờ trí tuệ mà có tăng thượng quán. Vị ấy suy nghĩ: “Chân đế này trước đây tự thân ta chưa từng tác chứng và cũng chưa từng có tuệ để có tăng thượng quán, nhưng nay chân đế này ta đã tự thân tác chứng và nhờ tuệ mà có tăng thượng quán.” Như vậy, nhờ tuần tự tu tập qua từng giai đoạn, nhận lãnh giáo huấn, nhẫn chịu khiển trách rồi sau đó các Tỳ-kheo mới đạt được Cứu cánh trí, thành những Tỳkheo đạt được Cứu cánh trí.

[0752b10] Bấy giờ, Thế Tôn hỏi:

  • Này A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu! Có pháp được gọi là Tứ cú, Ta muốn thuyết cho các thầy nghe, các thầy có muốn biết không?

A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu thưa:

  • Kính bạch Thế Tôn! Chúng con là hạng người nào? Nhờ đâu mà biết pháp?

   Khi ấy, Thế Tôn liền suy nghĩ: “Hạng người ngu si này đã quá cách xa đối với giáo pháp chân chánh của Ta! Giả sử có bậc làm thầy giới luật mà còn tâm tham đắm việc ăn uống, không xa rời sự ăn uống thì chúng đệ tử của vị thầy ấy cũng vẫn không nên vội vàng buông lung, huống gì Ta là người không tham trước việc ăn uống và đã xa lìa sự ăn uống? Do vậy, đệ tử tín tâm của Ta nên nói như vầy: ‘Thế Tôn là bậc thầy của con. Con là đệ tử của Thế Tôn. Thế Tôn đã vì con mà thuyết pháp, Thiện Thệ đã vì con mà thuyết pháp, giúp cho con được lợi lạc, được hữu ích, được an ổn lâu dài.’”

   Vị đệ tử tín tâm kia có nhiều điều phải làm trong cảnh giới của Thế Tôn, được nhiều điều lợi ích trong cảnh giới của Thế Tôn, có nhiều điều phải tu tập trong cảnh giới của Thế Tôn, được thể nhập trong cảnh giới của Thế Tôn, được an trú trong cảnh giới của Thế Tôn rồi, nên dù đi đến phương Đông thì nhất định sẽ được an lạc, không có khổ đau; hoặc đến phương Nam, phương Tây và phương Bắc cũng giống như vậy, chắc chắn được an lạc, không có khổ đau.

   Vị đệ tử tín tâm kia có nhiều điều phải làm trong cảnh giới của Thế Tôn, được nhiều điều lợi ích trong cảnh giới của Thế Tôn, có nhiều điều phải tu tập trong cảnh giới của Thế Tôn, được thể nhập trong cảnh giới của Thế Tôn, được an trú trong cảnh giới của Thế Tôn như vậy rồi mà Ta còn không nói đến các thiện pháp đã trụ, huống gì nói đến pháp suy thoái, nhưng ngày đêm vị ấy vẫn tăng trưởng thiện pháp, không hề bị suy thoái.

   Vị đệ tử tín tâm kia có nhiều điều phải làm trong cảnh giới của Thế Tôn, được nhiều điều lợi ích trong cảnh giới của Thế Tôn, có nhiều điều phải tu tập trong cảnh giới của Thế Tôn, được thể nhập trong cảnh giới của Thế Tôn, được an trú trong cảnh giới của Thế Tôn thì nhất định sẽ đạt được một trong hai quả vị sau: Hoặc ngay hiện đời chứng đắc Cứu cánh trí, nếu còn sót lại chút phiền não thì chứng đắc A-na-hàm.

   Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.[15]


Chú thích:
[1] Nguyên tác: A-thấp-bối kinh 阿濕貝經 (T.01. 0026.195. 0749c01). Tham chiếu: M. 70, Kīṭāgiri Sutta (Kinh Kīṭāgiri).
[2] Ca-thi (迦尸, Kāsī), một trong 16 nước lớn vào thời đức Phật, thủ đô là Ba-la-nại, là Thánh địa của Phật giáo và Bà-la-môn giáo. Ca-thi nổi tiếng có vườn Lộc Dã nơi đức Phật chuyển pháp luân đầu tiên hóa độ 5 vị Tỳ-kheo.
[3] Ca-la-lại (迦羅賴, Kīṭāgiri).

[4] A-thấp-bối (阿濕貝, Assaji).
[5] Phất-na-bà-tu (弗那婆修, Punabbasu).

[6] Nguyên tác: Xả hiện nhi tu đãi hậu (捨現而須待後): Bỏ hiện tại để mong chờ cái mai sau. Tham chiếu: M. 70, Kīṭāgiri Sutta (Kinh Kīṭāgiri): Te mayaṃ kiṃ sandiṭṭhikaṃ hitvā kālikaṃ anudhāvissāma? (Sao chúng tôi lại bỏ cái hiện tiền chạy theo cái lệ thuộc thời gian?).

[7] Nguyên tác: Thân lạc (身樂): Sự dễ chịu, thoải mái của thân thể. 8 Nguyên tác: Tâm lạc (心樂): Sự thỏa mãn, vừa ý của tâm thức.

[8] Phẩm vị “Câu giải thoát” và các phẩm vị tiếp theo, xem ở chú thích trong Kinh ruộng phước (số 127), tr. 795.

[9] Bát giải thoát (八解脫, Aṭṭha vimokkhā).

[10] Bạt-đà-hòa-lợi kinh 跋陀和利經 (T.01. 0026.194. 0746b18) ghi: Tùy pháp hành (隨法行).

[11] Bạt-đà-hòa-lợi kinh 跋陀和利經 (T.01. 0026.194. 0746b18) ghi: Tùy tín hành (隨信行).

[12] Nguyên tác: Sơ đắc (初得): Chứng đắc ngay lúc ban đầu. Tham chiếu: M. 70, Kīṭāgiri Sutta (Kinh Kīṭāgiri): Ādikeneva (ngay lúc đầu tiên).

[13] Xem thêm A. 8.19 - IV. 197: Evamevaṁ kho, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā, na āyatakeneva aññāpaṭivedho (Này Pahārāda, vì rằng trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình), HT. Thích Minh Châu dịch.

[14] Nguyên tác: Bình lượng (評量): Đo lường. M. 70, Kīṭāgiri Sutta (Kinh Kīṭāgiri): Vodiṭṭha (nhận định). 16 Nguyên tác: Quán sát (觀察): Xem xét. M. 70, Kīṭāgiri Sutta (Kinh Kīṭāgiri): Vocarita (thẩm sát).
[15] Bản Hán, hết quyển 51.

 

 

 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.