Viện Nghiên Cứu Phật Học

194. KINH BẠT-ĐÀ-HÒA-LỢI[1]

 

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật cùng với đại chúng Tỳ-kheo du hóa nước Xá-vệ rồi an cư mùa mưa tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

  • Như Lai thực hành hạnh một lần ngồi ăn.[2] Thực hành hạnh một lần ngồi ăn rồi nên được thảnh thơi tự tại, không nhiễm bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn hân hoan. Các thầy cũng nên học hạnh một lần ngồi ăn. Học hạnh một lần ngồi ăn rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, không nhiễm bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn hân hoan.

Bấy giờ, Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi3 cũng đang ở giữa đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai, chắp tay hướng Phật rồi thưa:

  • Kính bạch Thế Tôn! Con không thể kham nổi hạnh một lần ngồi ăn. Vì sao như vậy? Nếu con hành theo hạnh một lần ngồi ăn thì con có cảm giác như chưa làm xong việc, trong lòng cảm thấy ảo não, tiếc nuối. Bạch Thế Tôn, do đó mà con không kham nổi hạnh một lần ngồi ăn.

Thế Tôn bảo:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Khi Ta nhận lời thọ trai thì thầy cũng theo Ta. Ta cho phép thầy mang thức ăn nhận thỉnh về và chỉ ăn trong một lần ngồi.[3] Này Bạtđà-hòa-lợi! Nếu làm như vậy thì thầy sẽ an ổn trong sinh hoạt.

[0746c02] Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi lại thưa:

  • Kính bạch Thế Tôn! Dù vậy con cũng không kham nổi hạnh một lần ngồi ăn. Vì sao như vậy? Nếu con hành theo hạnh này thì có cảm giác như chưa làm xong việc, trong lòng cảm thấy ảo não, tiếc nuối. Bạch Thế Tôn, do đó mà con không kham nổi hạnh một lần ngồi ăn ấy.

Thế Tôn ba lần nói với các Tỳ-kheo rằng:

  • Như Lai thực hành hạnh một lần ngồi ăn. Thực hành hạnh này rồi nên được thảnh thơi tự tại, không nhiễm bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn hân hoan. Các thầy cũng nên học hạnh một lần ngồi ăn. Học hạnh một lần ngồi ăn rồi thì sẽ được thảnh thơi tự tại, không nhiễm bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn hân hoan.

Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi cũng ba lần từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai, chắp tay hướng về Thế Tôn thưa:

  • Kính bạch Thế Tôn! Con không thể kham nổi hạnh một lần ngồi ăn. Vì sao như vậy? Nếu con hành theo hạnh này thì có cảm giác như chưa làm xong việc, trong lòng cảm thấy ảo não, tiếc nuối. Bạch Thế Tôn, do đó mà con không kham nổi hạnh một lần ngồi ăn ấy.

Đức Thế Tôn cũng ba lần nói rằng:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Khi Ta nhận lời thọ trai thì thầy cũng theo Ta. Ta cho phép thầy mang thức ăn nhận thỉnh về và chỉ ăn trong một lần ngồi. Này Bạtđà-hòa-lợi! Nếu làm như vậy thì thầy sẽ an ổn trong sinh hoạt.

Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi cũng thưa ba lần:

  • Kính bạch Thế Tôn! Dù vậy con cũng không kham nổi hạnh một lần ngồi ăn. Vì sao như vậy? Nếu con hành theo hạnh này thì con có cảm giác như chưa làm xong việc, trong lòng cảm thấy ảo não, tiếc nuối. Thưa Thế Tôn, do vậy mà con không kham nổi hạnh một lần ngồi ăn.

   Bấy giờ, Thế Tôn vì chúng Tỳ-kheo mà thiết lập giới “Một lần ngồi ăn.” Hết thảy chúng Tỳ-kheo đều vâng giữ học giới ấy và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ, chỉ trừ Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi đã tuyên bố không thể kham nổi, nên từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi. Vì sao như vậy? Vì Tôn giả ấy không chịu hành trì giới Cụ túc và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ.

   Từ đó, suốt mùa an cư, Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi đã lánh mặt không diện kiến Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì Tôn giả ấy không hành trì giới điều và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ.

   Lần nọ, các Tỳ-kheo may y cho Phật, để sau ba tháng an cư mùa mưa tại nước Xá-vệ kết thúc và việc khâu vá y đã xong, Thế Tôn sẽ đắp y ôm bát lên đường du hóa trong nhân gian. Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi nghe tin các Tỳ-kheo đang may y cho Phật, để sau ba tháng an cư mùa mưa tại nước Xá-vệ kết thúc và việc khâu vá y đã xong, Thế Tôn sẽ đắp y ôm bát lên đường du hóa trong nhân gian. Nghe tin này rồi, Tôn giả liền đi đến chỗ các Tỳ-kheo. Từ xa trông thấy Bạt-đà-hòa-lợi đi đến, các Tỳ-kheo liền nói:

  • Hiền giả Bạt-đà-hòa-lợi! Thầy nên biết chúng tôi đang may y cho Phật, để sau ba tháng an cư mùa mưa tại nước Xá-vệ kết thúc và việc khâu vá y đã xong, Thế Tôn sẽ đắp y ôm bát lên đường du hóa trong nhân gian. Này Bạt-đàhòa-lợi! Thầy hãy tự mình khéo thủ hộ đối với học giới ấy,[4] đừng để dẫn đến về sau chuốc nhiều phiền lụy.

   [0747a07] Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi nghe những lời này xong, liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật rồi thưa rằng:

  • Kính bạch Thế Tôn! Con thật có lỗi! Con thật có lỗi! Con như kẻ ngu si, thiếu hiểu biết, quá bất thiện. Vì sao như vậy? Thế Tôn vì chúng Tỳ-kheo mà chế giới Một lần ngồi ăn, hết thảy chúng Tỳ-kheo đều vâng giữ học giới và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ, chỉ riêng con tuyên bố không thể kham nổi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi. Vì sao như vậy? Vì con không chịu hành trì học giới và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ.

Thế Tôn bảo:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Khi ấy thầy không biết rằng có rất đông Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni đang an cư tại Xá-vệ, họ biết về thầy,[5] thấy về thầy như vầy: “Có Tỳ-kheo tên Bạt-đà-hòa-lợi, là đệ tử Thế Tôn mà không hành trì giới điều và các pháp vi diệu mà Thế Tôn chứng ngộ.” Bạt-đà-hòa-lợi, lẽ nào khi ấy thầy không biết việc này?

   Này Bạt-đà-hòa-lợi! Khi ấy thầy không biết rằng có rất đông ưu-bà-tắc và ưu-bà-di đang sinh sống tại Xá-vệ, họ biết về thầy, thấy về thầy như vầy: “Có Tỳ-kheo tên Bạt-đà-hòa-lợi, là đệ tử Thế Tôn mà không vâng giữ giới điều và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ.” Bạt-đà-hòa-lợi, lẽ nào khi ấy thầy không biết việc này?

   Này Bạt-đà-hòa-lợi! Khi ấy thầy không biết rằng có rất đông ngoại đạo Sa-môn và Phạm chí đang an cư tại Xá-vệ, họ cũng biết về thầy, thấy về thầy như vầy: “Có Tỳ-kheo tên Bạt-đà-hòa-lợi, đệ tử Sa-môn Cù-đàm, một bậc danh đức, nhưng lại không vâng giữ giới điều và các pháp vi diệu mà thầy mình đã chứng ngộ.” Bạt-đà-hòa-lợi, lẽ nào khi ấy thầy không biết việc này?

   Này Bạt-đà-hòa-lợi! Nếu có Tỳ-kheo chứng Câu phần giải thoát,[6] Ta nói với vị ấy rằng: “Thầy hãy lội xuống bùn”[7] thì này Bạt-đà-hòa-lợi, ý thầy nghĩ sao? Nghe Ta dạy như vậy thì vị Tỳ-kheo ấy có thể đứng im hoặc tránh đi chỗ khác hay không?

Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi đáp:

  • Kính bạch Thế Tôn, không thể.

[0747b01] Thế Tôn bảo:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Giả sử không phải Tỳ-kheo Câu phần giải thoát mà là Tỳ-kheo Tuệ giải thoát; hoặc giả không phải Tỳ-kheo Tuệ giải thoát mà là Tỳ-kheo Thân chứng; hoặc giả không phải Tỳ-kheo Thân chứng mà là Tỳ-kheo Kiến đáo; hoặc giả không phải Tỳ-kheo Kiến đáo mà là Tỳ-kheo Tín giải thoát; hoặc giả không phải Tỳ-kheo Tín giải thoát mà là Tỳ-kheo Tùy pháp hành; hoặc giả không phải Tỳ-kheo Tùy pháp hành mà là Tỳ-kheo Tùy tín hành, khi nghe Ta nói rằng: “Thầy hãy lội xuống bùn” thì này Bạt-đà-hòa-lợi, ý thầy nghĩ sao? Nghe Ta dạy như vậy thì các Tỳ-kheo ấy có thể đứng im hoặc tránh đi chỗ khác hay không?

Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi thưa:

  • Bạch Thế Tôn, không thể!

Thế Tôn lại hỏi:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Ý thầy nghĩ sao? Khi ấy thầy đã chứng Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải thoát, Kiến đáo, Thân chứng, Tuệ giải thoát hay Câu giải thoát chưa?

Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi đáp:

  • Bạch Thế Tôn, con chưa chứng được.

Thế Tôn bảo:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Vậy thì khi ấy thầy chẳng phải giống như ngôi nhà trống ư?

   Bấy giờ, Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi bị đức Thế Tôn trực tiếp quở trách nên trong lòng buồn bã, cúi đầu im lặng, không lời biện bạch, lộ vẻ suy tư.

   Sau khi trực tiếp quở trách Bạt-đà-hòa-lợi rồi, Thế Tôn lại muốn giúp Tôn giả ấy hoan hỷ trở lại, liền dạy:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Khi ấy thầy ở trước Ta mà lại không tin vào pháp an định, cũng không thích pháp an định, không kính pháp an định. Vì sao như vậy? Khi Ta vì chúng Tỳ-kheo mà chế giới Một lần ngồi ăn, tất cả chúng Tỳkheo đều vâng giữ học giới và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ, chỉ riêng thầy lại tuyên bố không thể kham nổi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi. Vì sao như vậy? Vì sao thầy không vâng giữ học giới và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ?

Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi bạch rằng:

  • Thật đúng như vậy! Vì sao như thế? Khi Thế Tôn vì chúng Tỳ-kheo mà chế giới Một lần ngồi ăn, tất cả chúng Tỳ-kheo đều vâng giữ học giới và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ, chỉ riêng con lại tuyên bố không thể kham nổi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi. Vì sao như vậy? Vì con không chịu vâng giữ học giới Cụ túc và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã đạt ngộ. Cúi mong Thế Tôn chấp nhận sự hối lỗi của con, con đã biết lỗi, sẽ tự sửa đổi, từ nay trở đi nguyện luôn gìn giữ, không để tái phạm!

Thế Tôn bảo:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Đúng vậy, thầy thật sự như kẻ ngu muội, thiếu hiểu biết, quá bất thiện. Vì sao như vậy? Ta vì chúng Tỳ-kheo mà chế giới Một lần ngồi ăn, tất cả chúng Tỳ-kheo đều vâng giữ học giới và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ, riêng thầy lại tuyên bố không thể kham nổi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi. Vì sao như vậy? Vì thầy không muốn vâng giữ học giới Cụ túc và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ.

   Này Bạt-đà-hòa-lợi! Nếu thầy đã biết lỗi, thấy lỗi rồi tự sám hối và nguyện từ nay về sau sẽ gìn giữ, không để tái phạm, thì này Bạt-đà-hòa-lợi, ở trong giáo pháp của bậc Thánh, như vậy là được tăng ích chứ không tổn giảm. Nếu thầy đã biết lỗi, thấy lỗi rồi tự sám hối, từ nay về sau hãy giữ gìn, không để tái phạm.

   Bạt-đà-hòa-lợi! Ý thầy nghĩ sao? Như có Tỳ-kheo không vâng giữ giới điều, vị ấy sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Vị ấy trú nơi thanh vắng ấy và siêng năng tu tập, cho nên được tâm tăng thượng, an lạc trong pháp hiện tại. Vị ấy tuy sống ở nơi xa vắng và siêng năng tu tập, an ổn hân hoan, nhưng lại chê bai học giới của Thế Tôn, chê bai chư thiên và các bậc Phạm hạnh có trí, cũng chê bai học giới của chính mình. Vì vị ấy chê bai học giới của Thế Tôn, chê bai chư thiên và các bậc Phạm hạnh có trí, lại cũng chê bai học giới của chính mình nên không sanh hân hoan, do không sanh hân hoan nên không sanh hỷ, do không sanh hỷ nên thân không khinh an, do thân không khinh an nên không có cảm thọ lạc, do không có cảm thọ lạc nên tâm bất định. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Đệ tử của bậc Hiền thánh mà tâm bất định thì không thể thấy đúng như thật, biết đúng như thật.

   [0747c17] Này Bạt-đà-hòa-lợi! Ý thầy nghĩ sao? Như có Tỳ-kheo vâng giữ đầy đủ học giới, vị ấy sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Vị ấy trú nơi thanh vắng và siêng năng tu tập, cho nên được tâm tăng thượng, an lạc trong pháp hiện tại. Vị ấy sống nơi xa vắng và siêng năng tu tập, an ổn hân hoan như vậy rồi, lại cũng không chê bai học giới của Thế Tôn, không chê bai chư thiên, các bậc Phạm hạnh có trí và cũng không chê bai học giới của mình. Nhờ vị ấy không chê bai học giới của Thế Tôn, không chê bai chư thiên và các bậc Phạm hạnh có trí, lại cũng không chê bai học giới của mình cho nên tâm sanh hân hoan, do có hân hoan nên sanh hỷ, nhờ sanh hỷ nên thân khinh an, do thân khinh an nên có cảm thọ lạc, nhờ có cảm thọ lạc nên tâm được định.

   Này Bạt-đà-hòa-lợi! Đệ tử của bậc Hiền thánh khi tâm đã được định rồi thì sẽ thấy đúng như thật, biết đúng như thật. Khi đã thấy đúng như thật, biết đúng như thật rồi thì sẽ ly dục, ly bất thiện pháp, có giác, có quán, an trú hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Nghĩa là vị ấy lúc bấy giờ đã được tâm tăng thượng thứ nhất, ngay trong đời hiện tại có được an lạc, dễ chứ không khó, vui vẻ chẳng lo, an ổn hân hoan, tiến nhập Niết-bàn.

   Rồi vị ấy tịnh trừ giác và quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, an trú hỷ lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Này Bạt-đà-hòalợi! Nghĩa là vị ấy lúc bấy giờ đã thành tựu tâm tăng thượng thứ hai, ngay trong đời hiện tại có được an lạc, dễ chứ không khó, vui vẻ chẳng lo, an ổn hân hoan, tiến nhập Niết-bàn.

   Rồi vị ấy ly hỷ dục, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm thọ lạc, điều mà bậc Thánh gọi là xả niệm an trú lạc, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Nghĩa là vị ấy lúc bấy giờ thành tựu tâm tăng thượng thứ ba, ngay trong đời hiện tại có được an lạc, dễ chứ không khó, vui vẻ chẳng lo, an ổn hân hoan, tiến nhập Niết-bàn.

   Rồi vị ấy buông bỏ cả và lạc, diệt hỷ diệt ưu đã cảm thọ từ trước, không khổ không lạc, xả, niệm thanh tịnh, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này Bạtđà-hòa-lợi! Đó nghĩa là vị ấy lúc bấy giờ đã thành tựu tâm tăng thượng thứ tư, ngay trong đời hiện tại có được an lạc, dễ chứ không khó, vui vẻ chẳng lo, an ổn hân hoan, tiến nhập Niết-bàn.

   [0748a15] Vị ấy đã đắc định, tâm thanh tịnh như thế, không uế, không phiền, nhu hoà, an trụ vững chãi, trụ tâm bất động, thành tựu Túc mạng trí thông. Vị ấy nhớ mình có nghiệp như thế, có dung mạo như thế ở trong vô lượng đời trước, một đời, hai đời, trăm đời, ngàn đời, kiếp thành, kiếp hoại, vô lượng kiếp thành hoại, ta có tên đó, xưa kia từng trải qua như thế,[8] vị ấy từng sanh ở đó, có họ như thế, có tên như thế, sinh sống như thế, ăn uống như thế, cảm nhận khổ vui như thế, sống lâu như thế, trú nơi đó lâu như thế, qua đời như thế, chết nơi này sanh nơi kia, chết nơi kia sanh nơi này, vị ấy sanh tại nơi này, có họ như thế, có tên như thế, sinh sống như thế, ăn uống như thế, cảm nhận khổ vui như thế, sống lâu như thế, trú nơi đó lâu như thế, qua đời như thế. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Nghĩa là vị ấy lúc bấy giờ đã chứng đắc minh đạt thứ nhất này. Nhờ từ trước không buông lung, vui trú trong hạnh viễn ly, tu hành tinh tấn nên vô trí diệt để trí sanh, bóng tối bị tan hoại để ánh sáng sanh, vô minh diệt để minh sanh, đó gọi là thành tựu minh đạt, chứng Túc mạng trí.

   Vị ấy đã đắc định tâm thanh tịnh như thế, không uế, không phiền, nhu hòa, an trụ vững chãi, trụ tâm bất động, thành tựu Sanh tử trí. Vị ấy bằng thiên nhãn thanh tịnh vượt hơn người thường, thấy được chúng sanh này lúc sanh ra lúc chết đi, hình sắc đẹp hoặc xấu, lúc tốt lúc không tốt, sanh vào chốn thiện hay chốn bất thiện, tùy theo nghiệp mà chúng sanh ấy đã tạo, vị ấy thấy điều đó một cách đúng như thật. Nếu chúng sanh này gây tạo nghiệp thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến, tạo nghiệp tà kiến thì do nhân duyên này mà khi qua đời, người ấy nhất định rơi vào đường ác, đọa vào địa ngục. Nếu chúng sanh này thành tựu thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, không phỉ báng Thánh nhân, chánh kiến, thành tựu nhân chánh kiến thì nhờ nhân duyên này mà sau khi qua đời, người ấy nhất định sanh vào đường lành, sanh lên cõi trời. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Nghĩa là vị ấy lúc bấy giờ đã chứng đắc minh đạt thứ hai này, nhờ từ trước không buông lung, vui trú trong hạnh viễn ly, tinh tấn tu hành nên vô trí diệt để trí sanh, bóng tối bị tan hoại để ánh sáng sanh, vô minh diệt để minh sanh, đó gọi là thành tựu minh đạt, chứng Sanh tử trí.

   [0748b12] Vị ấy đạt được định tâm thanh tịnh như thế, không cấu uế, không não phiền, tự tại nhu nhuyến, được tâm bất động, thành tựu Lậu tận trí. Vị ấy biết đúng như thật rằng: “Đây là khổ, đây là nguyên nhân gây ra khổ, đây là khổ diệt và đây là con đường đưa đến khổ diệt”; cũng biết đúng như thật rằng: “Đây là lậu hoặc, đây là nguyên nhân sanh khởi lậu hoặc, đây là lậu diệt và đây là con đường đưa đến lậu diệt.” Vị ấy biết như vậy, thấy như vậy nên tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu; giải thoát rồi thì biết mình đã giải thoát và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Bạt-đà-hòa-lợi! Nghĩa là vị ấy lúc bấy giờ đã chứng đắc minh đạt thứ ba, nhờ từ trước không buông lung, vui trú trong hạnh viễn ly, tu hành tinh tấn nên vô trí bị diệt để trí sanh, bóng tối tan hoại để ánh sáng sanh, vô minh bị diệt để minh sanh, nghĩa là thành tựu minh đạt, chứng Lậu tận trí.

   Lúc ấy, Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai, chắp tay hướng Phật thưa rằng:

  • Kính bạch Thế Tôn! Do nhân gì, duyên gì mà khi các Tỳ-kheo cùng phạm giới đó, nhưng có trường hợp bị xử trị nặng, có trường hợp bị xử trị nhẹ?

Thế Tôn nói:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Hoặc có Tỳ-kheo nhiều lần phạm giới, do thường xuyên phạm giới nên bị các vị Phạm hạnh khiển trách vì những lỗi lầm được thấy, được nghe hoặc do người khác nghi ngờ. Khi bị các vị Phạm hạnh khiển trách về những lỗi lầm được thấy, được nghe hoặc do người khác nghi ngờ rồi, vị ấy liền nói lảng sang chuyện khác, hoặc giận dữ thù ghét, nổi giận đả kích, xúc phạm chúng Tăng, khinh thường chúng Tăng, rồi nói ra như vầy: “Nay tôi phải làm gì để mọi người vui lòng, vừa ý đây!” Này Bạt-đà-hòa-lợi! Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Hiền giả này nhiều lần phạm giới, do thường xuyên phạm giới nên bị các vị Phạm hạnh khiển trách về những lỗi lầm được thấy, được nghe hoặc do người khác nghi ngờ. Khi bị các vị Phạm hạnh khiển trách về những những lỗi lầm được thấy, được nghe hoặc do người khác nghi ngờ, vị ấy liền nói lảng sang chuyện khác, giận dữ thù ghét, nổi giận đả kích, xúc phạm chúng Tăng, khinh thường chúng Tăng, rồi nói như vầy: ‘Bây giờ tôi phải làm gì để các người hài lòng, vừa ý đây!’” Các Tỳ-kheo thấy và nghĩ như vậy rồi liền nói rằng: “Thưa chư Tôn đức! Hãy xem xét để kéo dài thời gian.”[9] Này Bạt-đà-hòa-lợi! Các Tỳ-kheo xem xét như vậy để kéo dài thời gian.

   [0748c09] Hoặc có Tỳ-kheo nhiều lần phạm giới, do thường xuyên phạm giới nên bị các vị Phạm hạnh khiển trách về những lỗi lầm được thấy, được nghe hoặc do người khác nghi ngờ. Khi bị các vị Phạm hạnh khiển trách về những lỗi lầm được thấy, được nghe hoặc do người khác nghi ngờ rồi, vị ấy không nói lảng sang chuyện khác, không giận dữ thù ghét, không nổi giận đả kích, không xúc phạm chúng Tăng, không khinh thường chúng Tăng, cũng không nói ra như vầy: “Bây giờ tôi phải làm gì để các người vui lòng, vừa ý đây!” Này Bạt-đà-hòa-lợi! Các Tỳ-kheo nghĩ như vầy: “Hiền giả này nhiều lần phạm giới, do thường xuyên phạm giới nên bị các vị Phạm hạnh khiển trách về những lỗi lầm được thấy, được nghe hoặc do người khác nghi ngờ. Khi bị các vị Phạm hạnh khiển trách về những lỗi lầm được thấy, được nghe hoặc do người khác nghi ngờ rồi, vị ấy không nói lảng sang chuyện khác, không giận dữ thù ghét, không nổi giận đả kích, không xúc phạm chúng Tăng, không khinh thường chúng tăng, cũng không nói ra như vầy: ‘Bây giờ tôi phải làm gì để các người hài lòng, vừa ý đây!’” Các Tỳ-kheo thấy vậy rồi liền nói rằng: “Thưa chư Tôn đức! Hãy xem xét để vị này sớm giải tội.” Này Bạt-đà-hòa-lợi! Các Tỳkheo xem xét như vậy để vị ấy sớm giải tội. Đối với trường hợp phạm các giới nhẹ cũng thực hiện như vậy.

   Này Bạt-đà-hòa-lợi! Hoặc có Tỳ-kheo vẫn còn niềm tin, sự quý mến và lòng kính trọng [đối với học pháp];[10] đối với vị Tỳ-kheo vẫn còn niềm tin, sự quý mến và lòng kính trọng [đối với học pháp], các Tỳ-kheo khác sẽ nghĩ rằng: “Nếu chúng ta phạt nặng đối với Hiền giả này thì niềm tin, sự quý mến và lòng kính trọng [đối với học pháp] của Hiền giả này sẽ do đây mà không còn. Thôi thì chúng ta hãy cùng hỗ trợ Hiền giả này.” Rồi các Tỳ-kheo cùng nhau hỗ trợ vị ấy. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Ví như có người chỉ còn một con mắt, bà con quyến thuộc của người này vì thương tưởng yêu mến, nên mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn và hân hoan cho người ấy mà cùng nhau giúp đỡ, không để cho người này bị lạnh nóng, đói khát, bệnh đau, buồn rầu, hoặc vừa buồn vừa bệnh, cũng không để cho bị nhiễm bụi, nhiễm khói hay nhiễm cả bụi lẫn khói. Vì sao như vậy? Vì sợ người này mất luôn con mắt còn lại cho nên bà con quyến thuộc mới cùng nhau hỗ trợ như thế. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Cũng vậy, đối với trường hợp vị Tỳ-kheo vẫn còn niềm tin, sự quý mến và lòng kính trọng [đối với học pháp], các Tỳ-kheo khác sẽ nghĩ rằng: “Nếu chúng ta phạt nặng thì niềm tin, sự quý mến và lòng kính trọng của Hiền giả ấy [đối với học pháp] sẽ do đây mà không còn. Thôi thì chúng ta hãy cùng hỗ trợ Hiền giả ấy.” Do vậy, các Tỳ-kheo liền cùng nhau hỗ trợ vị ấy, cũng giống như bà con quyến thuộc giúp đỡ người chỉ còn một mắt vậy.

   [0749a08] Bấy giờ, Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai, chắp tay hướng Phật rồi thưa:

  • Kính bạch Thế Tôn! Do nhân gì, duyên gì mà trước đây Thế Tôn chế ít giới nhưng có nhiều Tỳ-kheo vâng lãnh thực hành? Do nhân gì, duyên gì mà hiện nay Thế Tôn chế nhiều giới nhưng có ít Tỳ-kheo vâng lãnh thực hành?

Thế Tôn đáp:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Khi chúng Tỳ-kheo không có lợi dưỡng thì trong chúng không phát sanh pháp hữu lậu,[11] nhưng khi chúng Tỳ-kheo được nhiều lợi dưỡng thì trong chúng phát sanh nhiều pháp hữu lậu. Khi pháp hữu lậu đã phát sanh và Thế Tôn muốn đoạn trừ pháp hữu lậu đó cho nên mới chế giới cho chúng đệ tử. Đối với những trường hợp như là chúng Tỳ-kheo có danh tiếng lớn, được giới quyền quý vương giả biết đến, được phước báu lớn và được học cao hiểu rộng cũng giống như vậy. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Khi chúng Tỳ-kheo chưa học cao hiểu rộng thì trong chúng không phát sanh pháp hữu lậu, nhưng khi chúng Tỳ-kheo đã học cao hiểu rộng thì trong chúng phát sanh nhiều pháp hữu lậu. Khi pháp hữu lậu đã phát sanh và đức Thế Tôn muốn đoạn trừ pháp hữu lậu đó, cho nên mới chế giới cho chúng đệ tử.

   Này Bạt-đà-hòa-lợi! Ta chế giới cho chúng đệ tử không chỉ vì đoạn trừ hữu lậu trong đời này mà còn để đoạn trừ hữu lậu ở đời sau. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Vì muốn giúp đệ tử đoạn trừ hữu lậu nên Ta mới chế giới. Thế nên, các thầy hãy vâng lãnh lời dạy của Ta.

   Này Bạt-đà-hòa-lợi! Trước kia Ta đã từng vì các Tỳ-kheo mà nói pháp ví dụ về con ngựa thuần thục, do nhân duyên gì, thầy còn nhớ không?

Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi thưa:

  • Kính bạch Thế Tôn! Việc này thật có nhân duyên. Vì sao như vậy? Thế Tôn bấy giờ vì chúng Tỳ-kheo mà chế giới Một lần ngồi ăn, tất cả chúng Tỳkheo đều vâng giữ học giới và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ, chỉ riêng con là tuyên bố không thể kham nổi và rồi từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi, vì con không chịu vâng giữ học giới và các pháp vi diệu mà Thế Tôn đã chứng ngộ. Kính bạch Thế Tôn! Nghĩa là trong đó có nhân duyên này.

[0749b01] Đức Thế Tôn bảo:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Trong đó không chỉ có nhân duyên như vậy. Bạt-đà-hòa-lợi! Ta vì các Tỳ-kheo mà nói pháp ví dụ con ngựa thuần thục, bởi khi ấy thầy không chú tâm, không cung kính, không tập trung lắng nghe. Này Bạt-đàhòa-lợi! Nghĩa là trong đó còn có nhân duyên khác.

   Bấy giờ, Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai, chắp tay hướng Phật rồi thưa:

  • Kính bạch Thế Tôn, nay thật đúng thời! Kính bạch Thiện Thệ, nay thật đúng lúc! Nếu Thế Tôn nói pháp ví dụ con ngựa thuần thục thì các Tỳ-kheo sau khi nghe Thế Tôn dạy sẽ khéo thọ trì.

Thế Tôn liền dạy:

  • Này Bạt-đà-hòa-lợi! Giống như một người biết cách huấn luyện ngựa thì sẽ có được một con ngựa thuần thục. Người giỏi huấn luyện ấy trước tiên phải khống chế cái hàm của ngựa. Khi bị khống chế cái hàm, ngựa sẽ kháng cự bằng cách nhảy chồm lên dù thích hay không thích. Vì sao như vậy? Vì ngựa chưa từng được huấn luyện. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Nếu con ngựa thuần thục ấy tuân theo người huấn luyện thì cách huấn luyện thứ nhất được thành tựu. Kế tiếp, người huấn luyện ấy lại phải buộc dàm và cùm chân con ngựa; cùm chân bịt miệng mà khiến nó lao đi thì phải ra lệnh cho nó dừng, huấn luyện để nó trở thành một con ngựa hay nhất cho vua cưỡi, trở thành một con ngựa chạy nhanh nhất, dừng khéo nhất, từng chi tiết thảy đều thuần thục. Khi huấn luyện như vậy, cũng có lúc nó không thích với việc chuyển động, hoặc muốn hoặc không muốn. Vì sao như vậy? Vì nó thường được huấn luyện. Này Bạt-đà-hòa-lợi! Nếu con ngựa thuần thục ấy được người huấn luyện kia nhiều lần huấn luyện cho đến khi thành tựu, bấy giờ nó đã trở thành con tuấn mã thuần thục, đã thuần thục tốt, đã thuần thục giỏi nhất, đã thuần thục bậc nhất không gì hơn, chạy nhanh không gì hơn, chạy nhanh bậc nhất, được chọn để vua cưỡi, được ăn lương thực trong cung vua, được gọi là tuấn mã của vua.

   Này Bạt-đà-hòa-lợi! Cũng vậy, nếu có người trí tuệ, hiền lương, thành tựu mười pháp vô học, từ vô học chánh kiến cho đến vô học chánh trí thì bấy giờ, người ấy được gọi là một bậc đã thuần thục, đã thuần thục giỏi, được thuần thục vô thượng, được thuần thục vô thượng bậc nhất, vô thượng tịch lặng, được tịch lặng bậc nhất, dứt tất cả tà vạy, dứt tất cả cấu uế, dứt tất cả sợ hãi, dứt tất cả si ám, dứt tất cả dua nịnh, lắng đọng mọi trần lao, tẩy sạch mọi cấu uế và không còn có chỗ chấp trước, đáng kính trọng, đáng phụng thờ, là ruộng phước lành cho hết thảy chư thiên và loài người.

   Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

 
Chú thích:

[1] Quyển 51. Nguyên tác: Bạt-đà-hòa-lợi kinh 跋陀和利經 (T.01. 0026.194. 0746b18). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.49.7. 0800b27); M. 65, Bhaddāli Sutta (Kinh Bhaddāli).

[2] Nhất tọa thực (一坐食, Ekāsanika), một trong 13 hạnh Đầu-đà. Mỗi ngày ăn một bữa đúng ngọ, ngồi xuống ăn xong rồi mới đứng dậy. Nếu ăn chưa xong mà có việc cần phải rời đi thì sau đó cũng không được ngồi xuống ăn tiếp, gọi là Nhất tọa thực. 3 Bạt-đà-hòa-lợi (跋陀和利, Bhaddālī).

[3] Tham chiếu: M. 65, Bhaddāli Sutta  (Kinh Bhaddāli): Ăn một phần tại chỗ và một phần mang đi.

[4] Nguyên tác: Xứ (處), viết tắt của “học xứ” (學處), tức “học giới” (sikkhāpada).

[5] Nguyên tác: Ngã (我): Ta. Trường hợp này chỉ cho Bạt-đà-hòa-lợi. Văn giả thiết, trực tiếp dẫn lời của Bạt-đà-hòa-lợi.

[6] Nguyên tác : Câu giải thoát (俱解脫, Ubhatobhāgavimuttā). Xem chú thích trong Kinh ruộng phước (số 127), tr. 795. “Các bậc Thánh Tỳ-kheo” tiếp theo trong kinh này cũng được chú thích đầy đủ trong Kinh ruộng phước (số 127), tr. 795.

[7] Nguyên tác: Nhữ lai nhập nê (汝來入泥). M. 65, Bhaddāli Sutta (Kinh Bhaddāli): Ehi me tvaṃ, bhikkhu, paṅke sāṅkamo hohi (Tỳ-kheo, lại đây, làm cầu trên bùn cho Như Lai!).

[8] Nguyên tác: 彼眾生名某, 彼昔更歷 (Chúng sanh kia tên đó, xưa kia từng trải qua như thế).

[9] Nguyên tác: Đương quán linh cửu trụ (當觀令久住). Xem xét kéo dài thời gian giải tội hay cứu tội, chừng nào đương sự nhận lỗi sám hối. Tức khi Tỳ-kheo bị Tăng xử trị bằng các yết-ma trị phạt, cho đến khi nào Tỳ-kheo ấy thuận tùng mới giải trị phạt. M. 65, Bhaddāli Sutta (Kinh Bhaddāli): … upaparikkhatha yathāssidaṃ adhikaraṇaṃ na khippameva vūpasameyyāti (hãy tham cứu, chớ chấm dứt nhanh chóng việc tranh chấp này).

[10] Tỳ-kheo hữu tín, hữu ái, hữu tĩnh (比丘有信,有愛,有靖). Tham chiếu: M. 66: Ekacco bhikkhu saddhāmattakena vahati pemamattakena (Có Tỷ-kheo còn sống [trong Tăng chúng] với một ít lòng tin, với một ít lòng thương), HT. Thích Minh Châu dịch.

[11] Nguyên tác: Hỷ hảo pháp (憙好法). M. 65, Bhaddāli Sutta (Kinh Bhaddāli): Āsavaṭṭhāniyā dhammā (pháp được xác lập trên hữu lậu).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.