Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng với đại chúng Tỳ-kheo du hóa nước Ương-già,2 rồi đến thị trấn A-hòa-na,3 ngụ tại tinh xá Kiền-nhã.4
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Thế Tôn đắp y ôm bát vào thị trấn A-hòa-na khất thực. Sau khi thọ thực xong, vào khoảng xế trưa, Ngài thu dọn y bát, rửa sạch tay chân rồi vắt tọa cụ lên vai vào rừng nghỉ ngơi. Tôn giả Ô-đà-di5 cũng vậy, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Tôn giả đắp y ôm bát vào thị trấn A-hòa-na khất thực. Sau khi thọ thực xong, vào khoảng xế trưa, Tôn giả thu dọn y bát, rửa sạch tay chân, vắt tọa cụ lên vai đi theo sau Phật và suy nghĩ: “Nay Thế Tôn nghỉ ngơi ở đâu thì mình cũng đến nghỉ ở đó.”
Lúc ấy, đức Thế Tôn vào rừng, đến bên một gốc cây, trải tọa cụ rồi ngồi kiết-già. Tôn giả Ô-đà-di cũng đi theo vào khu rừng ấy, đến bên một gốc cây cách Phật không xa, trải tọa cụ và ngồi kiết-già. Bấy giờ, Tôn giả Ô-đà-di một mình ở nơi thanh vắng, tĩnh tọa tư duy, trong tâm suy nghĩ: “Đức Thế Tôn giúp chúng ta được nhiều lợi ích. Đấng Thiện Thệ giúp chúng ta được nhiều an ổn. Đức Thế Tôn giúp chúng ta trừ các pháp khổ, tăng thêm pháp vui. Đức Thế Tôn giúp chúng ta trừ vô lượng pháp ác bất thiện, tăng thêm vô lượng pháp thiện vi diệu.”
[0741a03] Vào lúc xế chiều, Tôn giả Ô-đà-di rời nơi tĩnh tọa, đi đến chỗ đức Phật, lạy sát chân Ngài rồi ngồi sang một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn hỏi:
– Này Ô-đà-di! Thầy có thiếu thốn gì không? Sống có được an ổn, hân hoan không? Sức khỏe có được điều hòa không?
Tôn giả Ô-đà-di thưa:
– Kính bạch Thế Tôn! Con không thiếu thốn gì, sống an ổn, hân hoan và sức khỏe điều hòa.
Thế Tôn lại hỏi:
– Này Ô-đà-di! Vì sao thầy không thiếu thốn gì, sống an ổn, hân hoan và sức khỏe điều hòa như vậy?
Tôn giả Ô-đà-di đáp:
– Kính bạch Thế Tôn! Con một mình ở nơi thanh vắng, tĩnh tọa tư duy, trong tâm suy nghĩ: “Đức Thế Tôn giúp chúng con được nhiều lợi ích. Đấng Thiện Thệ giúp chúng con được nhiều an ổn. Đức Thế Tôn giúp chúng con trừ các pháp khổ, tăng thêm pháp vui. Đức Thế Tôn giúp chúng con trừ vô lượng pháp ác bất thiện, tăng thêm vô lượng pháp thiện vi diệu.” Trước đây, đức Thế Tôn dạy chúng Tỳ-kheo rằng: “Các thầy hãy từ bỏ việc ăn quá ngọ.” Bạch Thế Tôn! Chúng con nghe rồi nhưng vẫn không kham, không nhẫn, không thích, không vui. Nếu có Phạm chí, cư sĩ tín tâm nào mang thức ăn đến tinh xá cúng dường tạo phước, lúc trước thì chúng con tự tay thọ nhận, nhưng nay đức Thế Tôn dạy phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ dạy phải dứt trừ, bởi thế chúng con có nói rằng: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc.”6 Thế nhưng, đối với oai thần diệu đức của Thế Tôn, chúng con vô cùng kính trọng, cho nên chúng con chấm dứt việc ăn quá ngọ.
Lại nữa, trước đây Thế Tôn dạy chúng Tỳ-kheo rằng: “Các thầy hãy từ bỏ việc ăn ban đêm.” Bạch Thế Tôn! Chúng con nghe rồi nhưng vẫn không kham, không nhẫn, không thích, không vui. Chúng con nghĩ rằng: “Hai bữa ăn ấy thật là bậc nhất, đứng đầu, tuyệt diệu, tuyệt mỹ mà nay đức Thế Tôn dạy phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ dạy phải dứt trừ”, thế nên chúng con cũng có nói rằng: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc.” Bạch Thế Tôn! Trước đây có vị cư sĩ mang nhiều đồ ăn thức uống thơm ngon về nhà rồi bảo người nhà rằng: “Hãy dọn thức ăn này ra rồi chúng ta cùng ngồi xuống và ăn hết vào tối nay, đừng để đến ngày mai.” Thưa Thế Tôn! Nếu các nhà cư sĩ thường chỉ bày biện thức ăn ngon bổ vào ban đêm, thế nhưng chúng con thì chỉ được ăn ban ngày, bởi đức Thế Tôn đã dạy phải từ bỏ ăn ban đêm, đấng Thiện Thệ đã dạy phải dứt trừ ăn ban đêm nên chúng con cũng có nói rằng: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc.” Thế nhưng, đối với oai thần diệu đức của Thế Tôn, chúng con vô cùng kính trọng, cho nên chúng con chấm dứt việc ăn ban đêm.
[0741b01] Kính bạch Thế Tôn! Con lại nghĩ rằng: “Nếu Tỳ-kheo vào thôn xóm khất thực phi thời thì có thể gặp bọn trộm cướp đang hành sự hoặc chưa hành sự, hoặc gặp cọp, gặp nai hay gặp cả cọp và nai, hoặc gặp beo, gặp gấu hay gặp cả beo và gấu, hoặc đi qua những chỗ như vậy, hoặc gặp voi dữ, ngựa chứng, bò điên, chó dại, hoặc gặp ổ rắn độc, hoặc bị ném đất, hoặc bị đánh gậy, hoặc ngã xuống mương rãnh, hoặc rơi vào hầm xí, hoặc đụng phải bò nằm giữa đường, hoặc lọt xuống hố sâu, hoặc vướng vào bụi gai, hoặc thấy nhà trống nên bước vào trong đó, lỡ gặp phải người nữ rồi cùng rủ rê làm việc xấu ác bất tịnh.”
Kính bạch Thế Tôn! Xưa kia có vị Tỳ-kheo giữa lúc trời tối mưa giông, sấm chớp đầy trời mà vẫn phi thời vào nhà người khất thực.7 Bấy giờ, có người phụ nữ nhà nọ ra ngoài dọn rửa chén bát, từ xa trông thấy Tỳ-kheo qua ánh chớp, tưởng là ma quỷ nên kinh hãi, toàn thân sởn gai ốc, kêu la thất thanh, ngã vật xuống đất, miệng cứ lảm nhảm: “Ông là ma quỷ! Ông là ma quỷ!” Tỳ-kheo liền nói với người ấy rằng: “Này cô! Tôi không phải ma, tôi là Sa-môn, đến đây khất thực.” Bấy giờ, người phụ nữ ấy bỗng nổi cơn thịnh nộ, hung dữ chửi mắng: “Sa-môn hãy chết quách đi! Cha mẹ ông cũng mau chết đi! Dòng họ ông hãy tuyệt diệt hết đi! Sa-môn hãy lòi ruột ra! Sa-môn trọc đầu, bị trói buộc và o nơi đen tối,8 đoạn dứt nòi giống, không có con cái! Thà cầm dao bén mà tự mổ bụng mình, chớ đừng khất thực phi thời ban đêm như thế. Than ôi! Vì hạng Sa-môn này mà tôi bị té ngã đến nỗi sẩy thai!”9 Bạch Thế Tôn! Con nhớ lại câu chuyện ấy liền cảm thấy hân hoan. Thưa Thế Tôn! Con nhờ hân hoan này mà toàn thân sung mãn, chánh niệm tỉnh giác, phát sanh hỷ, khinh an,10 có lạc, có định. Bạch đức Thế Tôn! Con nhờ định này mà toàn thân sung mãn, chánh niệm tỉnh giác. Thế nên, bạch Thế Tôn, con không thiếu thốn gì, sống an ổn, hân hoan và sức khỏe điều hòa.
Thế Tôn khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay! Này Ô-đà-di! Thầy không giống như những kẻ ngu si kia. Những kẻ ngu si kia khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì họ nói rằng: “Đó là việc nhỏ nhặt, đâu đáng để từ bỏ mà nay Thế Tôn lại dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ?” Và họ còn nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc”, rồi không chịu từ bỏ. Không những đối với Ta, họ không vừa ý, không hài lòng mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì họ cũng không vừa ý, không hài lòng. Này Ô-đà-di! Những kẻ ngu si kia bị trói buộc cực kỳ chắc chắn, ngày càng thắt chặt, không thể đoạn trừ, không thể giải thoát.
Này Ô-đà-di! Ví như có con ruồi bị dính vào bãi đờm dãi, nó ở trong đó khổ sở, sắp chết. Thế mà có người nói rằng: “Con ruồi kia tuy sa vào đó nhưng không bị dính mắc, không bị trói chặt thêm nữa, nó có thể đoạn trừ, nó có thể thoát ra.” Nói như vậy có đúng không?
[0741c05] Tôn giả Ô-đà-di thưa:
– Không đúng, bạch Thế Tôn! Vì sao như thế? Vì con ruồi kia đã bị đờm dãi quấn chặt, nó ở trong đó khổ sở, sắp chết. Thế nên, bạch Thế Tôn, nó bị trói buộc cực kỳ chắc chắn, ngày càng thắt chặt, không thể đoạn trừ, không thể thoát ra.
– Này Ô-đà-di! Những kẻ ngu si kia khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì họ nói rằng: “Đó là việc nhỏ nhặt, đâu đáng để từ bỏ mà nay Thế Tôn lại dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ.” Và họ còn nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc” rồi không chịu từ bỏ. Không những đối với Ta, họ không vừa ý, không hài lòng mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì họ cũng không vừa ý, không hài lòng. Này Ô-đà-di! Những kẻ ngu si kia bị trói buộc cực kỳ chắc chắn, ngày càng thắt chặt, không thể đoạn trừ, không thể giải thoát.
Này Ô-đà-di! Như có người thiện nam khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì người ấy không nói như vầy: “Đó là việc nhỏ nhặt, đâu đáng để từ bỏ mà nay Thế Tôn lại dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ.” Và người ấy cũng không nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc” rồi chấp nhận từ bỏ. Không những đối với Ta, người ấy không bất mãn, không chống trái mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì người ấy cũng không bất mãn, không chống trái. Như vậy, người thiện nam kia không bị trói buộc quá chắc chắn, không bị thắt chặt thêm nữa, có thể đoạn dứt, có thể giải thoát.
Này Ô-đà-di! Ví như voi chúa khi tuổi sáu mươi, đã trở thành một đại tượng vương11 đầy kiêu hãnh, đủ ngà đủ vóc, gân sức tráng kiện, dù bị trói chặt, nhưng nó vẫn gắng sức cựa mình để thoát khỏi sự trói chặt và quay về chốn cũ. Này Ô-đà-di! Nếu có người nói như vầy: “Voi chúa kia khi tuổi sáu mươi, đã trở thành một đại tượng vương đầy kiêu hãnh, đủ ngà đủ vóc, gân sức tráng kiện, bị trói buộc vô cùng chắc chắn, ngày càng thắt chặt, không thể đoạn dứt, không thể thoát ra.” Nói như vậy có đúng không?
Tôn giả Ô-đà-di thưa:
– Không đúng, bạch Thế Tôn! Vì sao như thế? Voi chúa kia khi tuổi sáu mươi, đã trở thành một đại tượng vương đầy kiêu hãnh, đủ ngà đủ vóc, gân sức tráng kiện, dù bị trói chặt, nhưng nó vẫn gắng sức cựa mình để thoát khỏi sự trói chặt và quay về chốn cũ. Như vậy, voi chúa to lớn kia khi tuổi sáu mươi, đã trở thành một đại tượng vương đầy kiêu hãnh, gân cốt tráng kiện, không bị trói buộc quá chắc chắn, không bị thắt chặt thêm nữa, có thể đoạn dứt, có thể thoát ra.
[0742a06] Thế Tôn bảo:
– Thật vậy, này Ô-đà-di! Như có người thiện nam kia khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì người ấy không nói như vầy: “Đó là việc nhỏ nhặt, đâu đáng phải từ bỏ? Vậy mà đức Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ.” Và người ấy cũng không nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc” rồi chấp nhận từ bỏ. Không những đối với Ta, người ấy không bất mãn, không chống trái mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì người ấy cũng không bất mãn, không chống trái. Như vậy, người thiện nam kia không bị trói buộc quá chắc chắn, không bị thắt chặt thêm nữa, có thể đoạn dứt, có thể giải thoát.
Này Ô-đà-di! Như có kẻ ngu si khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì họ nói rằng: “Đó là việc nhỏ nhặt, không đáng để từ bỏ. Vậy mà đức Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ.” Và họ còn nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá chấp chặt” rồi không chịu từ bỏ. Không những đối với Ta, họ không vừa ý, không hài lòng mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì họ cũng không vừa ý, không hài lòng. Như vậy, những kẻ ngu si kia bị trói buộc cực kỳ chắc chắn, ngày càng thắt chặt, không thể đoạn dứt, không thể giải thoát.
Này Ô-đà-di! Ví như có người nghèo khổ, không tiền tài, cũng không thế lực, người ấy chỉ có bà vợ mặt mày xấu xí, đôi mắt mù lòa, có cái nhà vách hỏng mái dột, là chỗ chim quạ đến đậu, con người chẳng thể ở nổi, có một cái giường xập xệ, hư hỏng chẳng thể nằm ngủ, có cái lu thủng đáy, không thể dùng được. Người ấy thấy vị Tỳ-kheo sau khi ăn trưa xong, rửa sạch tay chân, trải tọa cụ ngồi bên gốc cây, mát mẻ an lành, tu tăng thượng tâm. Người ấy thấy vậy rồi trong tâm suy nghĩ: “Sa-môn thật an ổn. Sa-môn quá tịnh lạc. Ta thật vô phước, vô đức. Vì sao như vậy? Vì ta có bà vợ mặt mày xấu xí, đôi mắt mù lòa, nhưng không thể bỏ; có cái nhà vách hỏng mái dột, chỉ là chỗ chim quạ đến đậu, người chẳng thể ở nổi, nhưng cũng không thể bỏ; có một cái giường xập xệ, hư hỏng chẳng thể nằm ngủ, một cái lu thủng đáy, không thể dùng được, nhưng cũng chẳng thể bỏ. Ta ngưỡng mộ vị Tỳ-kheo cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo kia quá.” Này Ô-đà-di! Nếu có người nói như vầy: “Người nghèo khổ kia không tiền tài cũng không thế lực nên không bị trói buộc quá chắc chắn, không bị thắt chặt thêm nữa, có thể đoạn dứt, có thể giải thoát.” Nói như vậy có đúng chăng?
[0742b06] Tôn giả Ô-đà-di thưa:
– Không đúng, bạch Thế Tôn! Vì sao như vậy? Người nghèo khổ kia dù không tiền tài, không thế lực, có bà vợ mặt mày xấu xí, đôi mắt mù lòa, nhưng không thể từ bỏ; có cái nhà vách hỏng mái dột, là chỗ chim quạ đến đậu, con người chẳng thể ở nổi, nhưng cũng không thể từ bỏ; có một cái giường xập xệ, hư hỏng chẳng thể nằm ngủ, một cái lu thủng đáy, không thể dùng được, nhưng cũng không thể từ bỏ. Mặc dù người ấy rất ngưỡng mộ vị Tỳ-kheo cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Kính bạch Thế Tôn! Thế nên người nghèo khổ kia, dù không tiền của, không thế lực, nhưng vẫn bị trói buộc cực kỳ chắc chắn, ngày càng thắt chặt, không thể đoạn dứt, không thể giải thoát.
– Đúng vậy, này Ô-đà-di! Như có kẻ ngu si khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì họ nói rằng: “Đó là việc nhỏ nhặt, không đáng để từ bỏ. Vậy mà đức Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ.” Và họ còn nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc” rồi không chịu từ bỏ. Không những đối với Ta, họ không vừa ý, không hài lòng mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì họ cũng không vừa ý, không hài lòng. Này Ô-đà-di! Những kẻ ngu si kia bị trói buộc cực kỳ chắc chắn, ngày càng thắt chặt, không thể đoạn dứt, không thể giải thoát.
Này Ô-đà-di! Như có người thiện nam khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì người ấy không nói như vầy: “Đó là việc nhỏ nhặt, không đáng để từ bỏ. Vậy mà đức Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ.” Và người ấy cũng không nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc” rồi chấp nhận từ bỏ. Không những đối với Ta, người ấy không bất mãn, không chống trái mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì người ấy cũng không bất mãn, không chống trái. Như vậy, người thiện nam kia không bị trói buộc quá chắc chắn, không bị thắt chặt thêm nữa, có thể đoạn dứt, có thể giải thoát.
Này Ô-đà-di! Ví như cư sĩ hoặc con của cư sĩ giàu có vô cùng, tiền của rất nhiều, sản nghiệp vật nuôi không tính kể hết, phong hộ thực ấp, lúa gạo dồi dào vô tận, vật dụng sinh hoạt, tôi tớ, voi ngựa số nhiều vô lượng. Người ấy thấy vị Tỳ-kheo sau khi thọ trai xong, rửa sạch tay chân, trải tọa cụ ngồi bên gốc cây, mát mẻ an lành, tu tăng thượng tâm. Người ấy thấy vậy rồi trong tâm suy nghĩ: “Sa-môn thật an ổn. Sa-môn quá tịnh lạc. Ta nên từ bỏ giàu sang, vàng bạc, tiền tài, voi ngựa, tôi tớ vì quá ngưỡng mộ vị Tỳ-kheo cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.” Này Ô-đà-di, có người nói rằng: “Vị cư sĩ hoặc con của cư sĩ kia bị trói buộc cực kỳ chắc chắn, ngày càng thắt chặt, không thể đoạn dứt, không thể giải thoát.” Nói như vậy có đúng không?
[0742c10] Tôn giả Ô-đà-di thưa:
– Không đúng, bạch đức Thế Tôn! Vì sao như vậy? Vì vị cư sĩ hay con của cư sĩ kia có thể từ bỏ giàu sang, vàng bạc, tiền tài, voi ngựa, tôi tớ và rất ngưỡng mộ vị Tỳ-kheo cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Kính bạch Thế Tôn! Cho nên, vị cư sĩ hay con của cư sĩ kia không bị trói buộc quá chắc chắn, không bị thắt chặt thêm nữa, có thể đoạn dứt, có thể giải thoát.
– Đúng vậy, này Ô-đà-di! Như có người thiện nam khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì người ấy không nói như vầy: “Đó là việc nhỏ nhặt, không đáng để từ bỏ. Vậy mà đức Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ.” Và người ấy cũng không nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc” rồi chấp nhận từ bỏ. Không những đối với Ta, người ấy không bất mãn, không chống trái mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì người ấy cũng không bất mãn, không chống trái. Này Ô-đà-di! Như vậy, người thiện nam kia không bị trói buộc quá chắc chắn, không bị thắt chặt thêm nữa, có thể đoạn dứt, có thể giải thoát.
Này Ô-đà-di! Tỳ-kheo tu tập xả.12 Vị ấy tu tập xả rồi nhưng vẫn khởi niệm tương ưng với dục nên bị sợi dây khát ái13 trói buộc. Vị ấy vui thích trong sự trói buộc đó nên không đoạn trừ, không dừng nghỉ, không nhổ bỏ. Này Ô-đà-di, Ta nói đó là trói buộc, không phải giải thoát. Vì sao như vậy? Vì dây trói là bất thiện. Này Ô-đà-di, vì dây trói là bất thiện nên Ta nói đó là trói buộc, không phải giải thoát.
Này Ô-đà-di! Tỳ-kheo tu tập xả. Vị ấy tu tập xả rồi nhưng vẫn khởi niệm tương ưng với dục nên bị sợi dây khát ái trói buộc. Vì vị ấy không ham thích trong sự trói buộc đó nên đoạn trừ, dừng nghỉ, nhổ bỏ. Này Ô-đà-di, Ta nói đó cũng là trói buộc, không phải giải thoát. Vì sao như vậy? Vì dây trói là bất thiện. Này Ô-đà-di, vì dây trói là bất thiện nên Ta nói đó là trói buộc, không phải giải thoát.
Này Ô-đà-di! Tỳ-kheo tu tập xả. Vị ấy tu tập xả rồi, gặp lúc bị mất chánh niệm liền khởi niệm tương ưng với dục nên bị sợi dây khát ái trói buộc. Bởi do quán chiếu trì trệ nên chánh niệm dễ mất đi. Này Ô-đà-di, ví như hòn bi sắt hay lưỡi cày sắt nung suốt ngày trong lò lửa, nếu có người nhỏ lên đó hai hoặc ba giọt nước một cách chậm rãi, ngắt quãng thì giọt nước ấy mau chóng tiêu tan. Này Ô-đà-di! Cũng vậy, Tỳ-kheo tu tập xả. Vị ấy tu tập xả rồi, gặp lúc bị mất chánh niệm liền khởi niệm tương ưng với dục nên bị sợi dây khát ái trói buộc. Bởi do quán chiếu trì trệ nên chánh niệm dễ mất đi. Này Ô-đà-di, Ta nói đó cũng là trói buộc, không phải giải thoát. Vì sao như vậy? Vì dây trói là bất thiện. Này Ô-đà-di, vì dây trói là bất thiện nên Ta nói đó là trói buộc, không phải giải thoát.
[0743a08] Này Ô-đà-di! Khi gốc khổ là sự trói buộc chấm dứt thì được thong dong không còn sanh tử; khi cùng tột của ái bị diệt tận thì tâm chân chánh được giải thoát. Này Ô-đà-di! Ta nói đó là giải thoát, không phải trói buộc. Vì sao như vậy? Vì sợi dây trói buộc đã đứt lìa. Này Ô-đà-di, vì sợi dây ấy đã đứt lìa nên Ta nói đó là giải thoát, không phải trói buộc.
Này Ô-đà-di! Có những niềm vui, không phải là niềm vui bậc Thánh mà là niềm vui phàm phu. Niềm vui đó là gốc của bệnh, gốc của ung nhọt, gốc của thương tích, cần thức ăn,14 còn sanh tử, không nên tu, không nên tập, không nên truyền bá và Ta nói rằng niềm vui đó không nên tu tập. Này Ô-đà-di! Có những niềm vui, là niềm vui bậc Thánh, niềm vui vô dục, niềm vui viễn ly, niềm vui tịch lặng, niềm vui giác ngộ, không cần thức ăn, không còn sanh tử, đáng để tu, đáng để tập, đáng để truyền bá và Ta nói rằng niềm vui đó đáng để tu tập.
Này Ô-đà-di! Thế nào là niềm vui không phải là niềm vui bậc Thánh mà là niềm vui phàm phu, là gốc của bệnh, gốc của ung nhọt, gốc của thương tích, cần thức ăn, còn sanh tử, không nên tu, không nên tập, không nên truyền bá và Ta nói rằng điều ấy không nên tu tập? Nếu nhân nơi năm thứ dục lạc mà sanh ra niềm vui, sanh ra ưa thích thì đó không phải là niềm vui bậc Thánh mà là niềm vui phàm phu, là gốc của bệnh, gốc của ung nhọt, gốc của thương tích, cần thức ăn, còn sanh tử, không nên tu, không nên tập, không nên truyền bá và Ta nói rằng niềm vui đó không nên tu tập.
Này Ô-đà-di! Thế nào là có những niềm vui, là niềm vui bậc Thánh, niềm vui vô dục, niềm vui viễn ly, niềm vui tịch lặng, niềm vui giác ngộ, không cần thức ăn, không còn sanh tử, đáng để tu, đáng để tập, đáng để truyền bá và Ta nói rằng niềm vui đó đáng để tu tập? Này Ô-đà-di! Tỳ-kheo lìa dục, lìa pháp ác bất thiện,... (cho đến) chứng đắc và an trú Thiền thứ tư thì đây chính là niềm vui bậc Thánh, niềm vui vô dục, niềm vui viễn ly, niềm vui tịch lặng, niềm vui giác ngộ, không cần thức ăn, không còn sanh tử, đáng để tu, đáng để tập, đáng để truyền bá và Ta nói rằng niềm vui đó đáng để tu tập.
Này Ô-đà-di! Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, có giác, có quán, an trú hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, nhưng Ta nói thiền này vẫn còn dao động, vì sao Ta nói còn dao động? Vì thiền này vẫn còn giác và quán nên Ta nói còn dao động.
Vì sao Ta nói thiền này vẫn còn dao động? Này Ô-đà-di! Tỳ-kheo tịnh trừ giác và quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, an trú hỷ lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai; nhưng Ta nói thiền này vẫn còn dao động, vì sao Ta nói còn dao động? Vì thiền này vẫn còn hỷ nên Ta nói còn dao động.
Vì sao Ta nói thiền này vẫn còn dao động? Này Ô-đà-di! Tỳ-kheo ly hỷ an trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà bậc Thánh gọi là xả niệm an trú lạc, chứng đắc và an trú Thiền thứ ba; nhưng Ta nói thiền này vẫn còn dao động, vì sao Ta nói còn dao động? Vì thiền này vẫn còn tâm lạc nên Ta nói còn dao động.
Vì sao Ta nói thiền này vẫn còn dao động? Này Ô-đà-di! Tỳ-kheo buông bỏ cả khổ và vui, diệt trừ ưu và hỷ quá khứ, không khổ không lạc, gọi là xả niệm thanh tịnh, chứng đắc và an trú Thiền thứ tư. An trú thiền này rồi thì Ta nói rằng không còn dao động.
[0743b13] Này Ô-đà-di! Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, có giác có quán, an trú hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Này Ô-đà-di, Ta nói thiền này không rốt ráo, không thể đoạn sạch, không thể vượt qua. Đối với thiền này, những gì cần phải vượt qua? Này Ô-đà-di, Tỳ-kheo tịnh trừ giác và quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, an trú hỷ lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Đó là những điều cần phải vượt qua.
Này Ô-đà-di! Ta nói thiền này cũng không rốt ráo, không thể đoạn sạch, không thể vượt qua. Đối với thiền này, những gì cần phải vượt qua? Này Ô-đà-di, Tỳ-kheo ly hỷ an trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà bậc Thánh gọi là xả niệm an trú lạc, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Đó là những điều cần phải vượt qua.
Này Ô-đà-di! Ta nói thiền này cũng không rốt ráo, không thể đoạn sạch, không thể vượt qua. Đối với thiền này, những gì cần phải vượt qua? Này Ô-đà-di, Tỳ-kheo buông bỏ cả khổ và vui, diệt trừ ưu và hỷ quá khứ, không khổ không lạc, gọi là xả niệm thanh tịnh, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Đó là những điều cần phải vượt qua.
Này Ô-đà-di! Ta nói thiền này cũng không rốt ráo, không thể đoạn sạch, không thể vượt qua. Đối với thiền này, những gì cần phải vượt qua? Này Ô-đà-di, Tỳ-kheo vượt thoát mọi sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không niệm nhiều tưởng, nhập định Không vô biên xứ, thành tựu và an trú Không vô biên xứ.15 Đó là những điều cần phải vượt qua.
Này Ô-đà-di! Ta nói thiền này cũng không rốt ráo, không thể đoạn sạch, không thể vượt qua. Đối với thiền này, những gì cần phải vượt qua? Này Ô-đà-di, Tỳ-kheo vượt thoát mọi Không vô biên xứ, nhập định Thức vô lượng xứ, thành tựu và an trú Thức vô biên xứ.16 Đó là những điều cần phải vượt qua.
Này Ô-đà-di! Ta nói thiền này cũng không rốt ráo, không thể đoạn sạch, không thể vượt qua. Đối với thiền này, những gì cần phải vượt qua? Này Ô-đà-di, Tỳ-kheo vượt thoát mọi Thức vô biên xứ, nhập định Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trú Vô sở hữu xứ. Đó là những điều cần phải vượt qua.
Này Ô-đà-di! Ta nói thiền này cũng không rốt ráo, không thể đoạn sạch, không thể vượt qua. Đối với thiền này, những gì cần phải tiếp tục vượt qua? Này Ô-đà-di, Tỳ-kheo vượt thoát mọi Vô sở hữu xứ, nhập định Phi tưởng phi phi tưởng, thành tựu và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.17 Đó là những điều cần phải vượt qua. Này Ô-đà-di! Ta nói thiền này cũng không rốt ráo, không thể đoạn sạch, không thể vượt qua.
Này Ô-đà-di! Nếu có sự ràng buộc nào, dù ít hay nhiều mà còn tồn tại thì Ta nói rằng: “Vẫn không rốt ráo, không thể đoạn sạch, không thể vượt qua.” Có khi nào Ta nói: “Không cần đoạn trừ” chăng?
Tôn giả Ô-đà-di thưa:
– Không có, bạch Thế Tôn!
[0743c15] Thế Tôn khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay! Này Ô-đà-di! Thầy không giống như những kẻ ngu si kia, những kẻ ngu si ấy khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì họ nói rằng: “Đó là việc nhỏ nhặt, không đáng để từ bỏ. Vậy mà đức Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ.” Và họ còn nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc” rồi không chịu từ bỏ. Không những đối với Ta, họ không vừa ý, không hài lòng mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì họ cũng không vừa ý, không hài lòng. Ô-đà-di! Những kẻ ngu si kia bị trói buộc cực kỳ chắc chắn, ngày càng thắt chặt, không thể đoạn dứt, không thể giải thoát.
Này Ô-đà-di! Như có người thiện nam khi được Ta khuyên: “Các ông hãy từ bỏ điều này” thì người ấy không nói như vầy: “Đó là việc nhỏ nhặt, không đáng để từ bỏ. Vậy mà đức Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ, đấng Thiện Thệ bảo ta phải dứt trừ.” Và người ấy cũng không nói như vầy: “Đại Sa-môn ấy thật quá cứng nhắc” rồi chấp nhận từ bỏ. Không những đối với Ta, người ấy không bất mãn, không chống trái mà đối với các Tỳ-kheo khéo hộ trì giới luật thì người ấy cũng không bất mãn, không chống trái. Này Ô-đà-di, thế nên người thiện nam kia không bị trói buộc quá chắc chắn, không bị thắt chặt thêm nữa, có thể đoạn dứt, có thể giải thoát.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả Ô-đà-di nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
1 Nguyên tác: Gia-lâu Ô-đà-di kinh 加樓烏陀夷經 (T.01. 0026.192. 0740c15). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.49.7. 0800b27); M. 66, Laṭukikopama Sutta (Kinh ví dụ con chim cáy).
2 Ương-già (鴦伽, Aṅga), một trong 16 nước lớn ở thời Phật, phía Đông Magadha, gần sông Campā. Theo M. 66, Laṭukikopama Sutta (Kinh ví dụ con chim cáy): Aṅgauttarāpesu.
3 A-hòa-na (阿惒那, Āpana), thị trấn ở trong Aṅguttarāpa, một thị tứ của nước Aṅga.
4 Kiền-nhã (犍若, Keniya). Theo MA. II. 779 và SA. II. 440, Keniya là một vị Bà-la-môn giàu có (mahāsāla brahmin) với nhiều ruộng vườn, đất đai, về sau trở thành một nhà tu khổ hạnh.
5 Gia-lâu Ô-đà-di (加樓烏陀夷, Kālodāyi), cũng viết là Mahāsakuludāyi.
6 Nguyên tác: Bất năng tiêu thực (不能消食): Ăn không tiêu nổi, chỉ cho sự khắt khe, chấp chặt, cứng nhắc.
7 Trong M. 66, Laṭukikopama Sutta (Kinh ví dụ con chim cáy), ngoài việc nêu ra các vị Tỳ-kheo đi khất thực phi thời, Tôn giả Udāyī cũng tự nhận đã từng thực hành khất thực như vậy.
8 Thốc đầu Sa-môn, dĩ hắc tự phược, vô tử đoạn chủng (禿頭沙門以黑自纏,無子斷種). Xem chú thích 11, kinh số 131, tr. 815.
9 Nguyên tác: Thử Sa-môn nhi đọa ngã thần (此沙門而墮我娠). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.47.9. 0800c13): “Trời ơi! Ta gặp con quỷ!” Ngay khi ấy phu nhân bị sẩy thai rồi đứa bé lập tức qua đời. (“咄哉! 見鬼!” 即時傷胎兒, 尋命終).
10 Nguyên tác: Chỉ (止).
11 Nguyên tác: Ma-ha-năng-già (摩訶能伽, Mahānāga). M. 66, Laṭukikopama Sutta (Kinh ví dụ con chim cáy): Rañño nāgo (con voi của vua).
12 Nguyên tác: Tỳ-kheo hành xả (比丘行捨): Tỳ-kheo thực hành sự từ bỏ. Xem M. 66, Laṭukikopama Sutta (Kinh ví dụ con chim cáy): Pahāna (sự từ bỏ, sự đoạn trừ).
13 Nguyên tác: Ái lạc kiết (愛樂結). Pāli: Upadhika hoặc bhavanetti (sợi dây tái sanh). Xem thêm S. 23.3 - III. 190: Katamā nu kho, bhante, bhavanetti, katamo bhavanettinirodho”ti? Rūpe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā – ayaṃ vuccati bhavanetti. Tesaṃ nirodho bhavanettinirodho (Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh? Này Rādha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh), HT. Thích Minh Châu dịch.
14 Tham chiếu: M. 66, Laṭukikopama Sutta (Kinh ví dụ con chim cáy). Āhāra (thức ăn), đồng nghĩa paccāya (duyên).
15 Nguyên tác: Vô lượng không xứ (無量空處, Ākāsānañcāyatana).
16 Nguyên tác: Vô lượng thức xứ (無量識處, Viññāṇañcāyatana).
17 Nguyên tác: Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ (非有想非無想處, Nevasaññānāsaññāyatana).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.