Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

191. KINH ĐẠI KHÔNG1

 

   Tôi nghe như vầy:
   Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng họ Thích, ngụ trong rừng Ni-câu-loại, thành Ca-tỳ-la-vệ.2
   Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y, ôm bát vào thành Ca-tỳ-la-vệ khất thực. Sau khi thọ thực xong, vào khoảng xế trưa, Ngài đi đến tinh xá Gia-la-sai-ma của họ Thích.3 Lúc đó, tại tinh xá Gia-la-sai-ma của họ Thích đã trải sẵn rất nhiều giường nệm và có rất nhiều Tỳ-kheo trú nghỉ ở đó.
   Rồi từ tinh xá Gia-la-sai-ma của họ Thích, đức Thế Tôn lại đi đến tinh xá Gia-la của họ Thích.4 Bấy giờ, Tôn giả A-nan và rất nhiều Tỳ-kheo đang ở trong tinh xá này để may y. Từ xa trông thấy đức Phật đi đến, Tôn giả A-nan liền ra nghinh đón, đỡ lấy y bát của Ngài, rồi trở vào trải chỗ nghỉ và múc nước để Phật rửa chân. Sau khi rửa chân xong, đức Phật ngồi vào chỗ mà Tôn giả A-nan đã soạn sẵn trong tinh xá Gia-la của họ Thích rồi hỏi:
   – Này A-nan! Trong tinh xá Gia-la-sai-ma của họ Thích có soạn sẵn rất nhiều giường nệm, có phải rất đông chúng Tỳ-kheo trú nghỉ ở đó?
   Tôn giả A-nan bạch:
   – Đúng vậy, thưa Thế Tôn! Trong tinh xá Gia-la-sai-ma của họ Thích có bày sẵn rất nhiều giường nệm và có rất đông Tỳ-kheo trú nghỉ ở đó. Bởi vì hôm nay chúng con may y.
   Bấy giờ, Thế Tôn bảo A-nan:
   – Tỳ-kheo không nên ham muốn nói chuyện ồn ào, ưa thích nói chuyện ồn ào, tụ tập nói chuyện ồn ào, ham muốn sự đông đúc, ưa thích sự đông đúc, tụ tập nơi đông đúc, không muốn tránh xa sự đông đúc, không thích sống một mình ở nơi thanh vắng. Nếu Tỳ-kheo nào ham muốn nói chuyện ồn ào, ưa thích nói chuyện ồn ào, tụ tập nói chuyện ồn ào, ham muốn sự đông đúc, ưa thích sự đông đúc, tụ tập nơi đông đúc, không muốn tránh xa sự đông đúc, không thích sống một mình ở nơi thanh vắng mà đối với sự an lạc, sự an lạc của bậc Thánh như: Sự an lạc từ vô dục, sự an lạc từ viễn ly, sự an lạc từ tịch tịnh, sự an lạc từ chân chánh giác ngộ, sự an lạc từ xa lìa của cải, sự an lạc từ không còn sanh tử, nếu vị đó dễ dàng đạt được những thứ an lạc như thế không quá khó thì điều này không thể xảy ra.
   Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào không ham muốn nói chuyện ồn ào, không ưa thích nói chuyện ồn ào, không tụ tập nói chuyện ồn ào, không muốn sự đông đúc, không ưa thích sự đông đúc, không tụ tập nơi đông đúc, muốn tránh xa sự đông đúc, thường thích sống một mình ở nơi thanh vắng mà đối với sự an lạc, sự an lạc của bậc Thánh như: Sự an lạc từ vô dục, sự an lạc từ viễn ly, sự an lạc từ tịch tịnh, sự an lạc từ chân chánh giác ngộ, sự an lạc từ xa lìa của cải, sự an lạc từ không còn sanh tử, nếu vị đó dễ dàng đạt được những thứ an lạc như thế không quá khó thì điều này chắc chắn xảy ra.
   [0738b02] Này A-nan! Tỳ-kheo không nên ham muốn nói chuyện ồn ào, ưa thích nói chuyện ồn ào, tụ tập nói chuyện ồn ào, ham muốn sự đông đúc, ưa thích sự sự đông đúc, tụ tập nơi đông đúc, không muốn tránh xa sự đông đúc, không thích sống một mình ở nơi thanh vắng. Nếu Tỳ-kheo nào ham muốn nói chuyện ồn ào, ưa thích nói chuyện ồn ào, tụ tập nói chuyện ồn ào, ham muốn sự đông đúc, ưa thích sự sự đông đúc, tụ tập nơi đông đúc, không muốn tránh xa sự đông đúc, không thích sống một mình ở nơi thanh vắng mà chứng đắc tâm giải thoát hân hoan5 có hạn kỳ hay tâm giải thoát bất động6 không có hạn kỳ thì điều này không thể xảy ra.
Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào không ham muốn nói chuyện ồn ào, không ưa thích nói chuyện ồn ào, không tụ tập nói chuyện ồn ào, không ham muốn sự đông đúc, không ưa thích sự sự đông đúc, không tụ tập nơi đông đúc, muốn tránh xa sự đông đúc, thường thích sống một mình ở nơi thanh vắng thì nhất định sẽ chứng đắc tâm giải thoát hân hoan có hạn kỳ hay tâm giải thoát bất động không có hạn kỳ thì điều này chắc chắn xảy ra.
Vì sao như vậy? Vì Ta không thấy có một sắc nào khiến Ta ham muốn, ưa thích, bởi vì sắc ấy rồi sẽ hư hoại biến đổi, khi sắc đổi khác thì dẫn đến buồn đau, khóc than, ưu sầu, khổ não. Do vậy, Ta an trú ở một nơi khác mà thành tựu Chánh đẳng Chánh giác, nghĩa là vượt qua tất cả sắc tưởng rồi an trụ nơi ngoại không.7
   Này A-nan! Khi Ta an trú nơi trú xứ này rồi thì tâm sanh hoan hỷ. Với tâm hoan hỷ này, Ta cảm thọ toàn thân bằng chánh niệm tỉnh giác, rồi sanh hỷ, sanh khinh an, sanh lạc và sanh định. Với tâm định này, Ta cảm thọ toàn thân bằng chánh niệm tỉnh giác.
   Này A-nan, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc hay ưu-bà-di nào cùng đi đến chỗ Ta thì Ta sẽ dạy bảo họ hành trì tâm như vậy như vậy, viễn ly, thích sự vô dục. Ta cũng vì họ mà thuyết pháp, khuyến khích và hỗ trợ. Này A-nan, nếu Tỳ-kheo nào luôn muốn hành trì nơi tánh không thì Tỳ-kheo ấy phải giữ vững nội tâm, an trú, tĩnh chỉ rồi vào Thiền thứ nhất.8 Sau khi giữ vững nội tâm, an trú, tĩnh chỉ vào Thiền thứ nhất rồi thì vị ấy nên suy niệm về nội không.9
   Này A-nan, nếu Tỳ-kheo nào nói như vầy: “Tôi không giữ vững nội tâm, an trú, tĩnh chỉ, không thể vào Thiền thứ nhất và suy niệm về nội không” thì nên biết Tỳ-kheo ấy tự chuốc lấy nhiều phiền lụy.
   Này A-nan, thế nào là Tỳ-kheo giữ vững nội tâm, an trú, tĩnh chỉ rồi vào Thiền thứ nhất? Là vị Tỳ-kheo ở nơi thân này có được hỷ lạc do ly dục sanh, thấm nhuần toàn thân, cùng khắp tràn đầy sự hỷ lạ c được sanh ra do lìa dục, không chỗ nào là không tràn đầy. Này A-nan, ví như người tắm gội, lấy bột tắm bỏ vào bồn tắm, rồi cho nước vào bồn để hòa tan và khuấy cho nổi bọt lên, sau đó ngâm gội, toàn thân được thấm ướt, tràn đầy cùng khắp, trong ngoài đều thấm ướt, không còn sót chỗ nào. Cũng vậy, này A-nan, đối với thân này, Tỳ-kheo có được hỷ lạc do ly dục sanh, thấm nhuần toàn thân, cùng khắp tràn đầy sự hỷ lạ c đượ c sanh ra do lìa dục, không chỗ nào là không tràn đầy. Này A-nan, Tỳ-kheo giữ vững nội tâm, an trú, tĩnh chỉ rồi vào Thiền thứ nhất, sau khi đã giữ vững nội tâm, an trú, tĩnh chỉ vào Thiền thứ nhất rồi thì vị ấy nên suy niệm về nội không. Khi vị ấy suy niệm về nội không rồi nhưng tâm vị ấy vẫn còn dao động, không phấn chấn, không được lắng trong, không an trú, chưa hiểu rõ đối với nội không.10
   Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào khi quán sát mà biết rõ mình có suy niệm về nội không nhưng tâm vẫn còn dao động, không phấn chấn, không được lắng trong, không an trú, chưa hiểu rõ với nội không thì Tỳ-kheo ấy nên suy niệm về ngoại không. Vị ấy suy niệm về ngoại không rồi nhưng tâm vị ấy vẫn còn dao động, không phấn chấn, không được lắng trong, không an trú, chưa hiểu rõ với ngoại không.
   [0738c09] Này A-nan, nếu Tỳ-kheo nào trong lúc quán sát mà biết rõ mình đã suy niệm về ngoại không nhưng tâm mình vẫn còn dao động, không phấn chấn, không được lắng trong, không an trú, chưa hiểu rõ với ngoại không thì Tỳ-kheo ấy nên suy niệm về cả nội không và ngoại không.11 Vị ấy suy niệm về nội không và ngoại không rồi nhưng tâm vị ấy vẫn còn dao động, không phấn chấn, không được lắng trong, không an trú, chưa hiểu rõ với nội không và ngoại không.
   Này A-nan, nếu Tỳ-kheo nào trong lúc quán sát mà biết rõ mình đang suy niệm về nội không và ngoại không nhưng tâm vẫn còn dao động, không phấn chấn, không được lắng trong, không an trú, chưa hiểu rõ với nội không và ngoại không thì Tỳ-kheo ấy nên suy niệm sự không dao động. Vị ấy suy niệm về sự không dao động rồi nhưng tâm vị ấy vẫn còn dao động, không phấn chấn, không được lắng trong, không an trú, chưa hiểu rõ với sự không dao động.
   Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào khi quán sát mà nhận biết rõ mình suy niệm về sự không dao động nhưng tâm vẫn còn dao động, không phấn chấn, không được lắng trong, không an trú, chưa hiểu rõ đối với sự không dao động thì Tỳ-kheo ấy hãy dụng tâm như vậ y như vậy, đối với định như vậy như vậy để điều phục rồi lại điều phục, tu tập rồi lại tu tập, giữ tâm thư thái rồi lại giữ tâm thư thái, hân hoan trong nhu hòa, tịnh lạc với viễn ly.
   Nếu vị ấy với tâm như vậy, như vậy, đối với định như vậy như vậy để điều phục rồi lại điều phục, tu tập rồi lại tu tập, giữ tâm thư thái rồi lại giữ tâm thư thái, hân hoan trong nhu hòa, tịnh lạc với viễn ly rồi thì hã y thành tựu và an trú với nội không.
   Sau khi vị ấy thành tựu và an trú với nội không rồi thì tâm không còn dao động, đượ c phấn chấn, được lắng trong, được an trụ , được hiểu rõ nơi nội không. Này A-nan, trong khi quán sát như vậy, Tỳ-kheo liền biết rõ đã thành tựu và an trú với nội không nên tâm không còn dao động, được phấn chấn, được lắng trong, được an trú, được giải thoát với nội không, đó gọi là chánh tri.12
   [0738c27] Này A-nan, Tỳ-kheo nên thành tựu và an trú với ngoại không. Sau khi vị ấy thành tựu và an trú với ngoại không rồi, tâm không còn dao động, được phấ n chấ n, được lắng trong, được an trú, được giải thoát với ngoại không. Này A-nan, trong khi quán sát như vậy, vị Tỳ-kheo ấy liền biết rõ đã thành tựu và an trú với ngoại không nên tâm không còn dao động, được phấn chấn, được lắng trong, được an trụ, được giải thoát với ngoại không, đó gọi là chánh tri.
   Này A-nan, Tỳ-kheo nên thành tựu và an trú với nội không và ngoại không. Vị ấy sau khi thành tựu và an trú với nội không và ngoại không rồi, tâm sẽ không còn dao động, được phấn chấn, được lắng trong, được an trụ, được giải thoát với nội không và ngoại không. Này A-nan, trong khi quán sát như vậy, vị Tỳ-kheo ấy liền biết đã thành tựu và an trú với nội không và ngoại không, nên tâm không còn dao động, được phấn chấn, được lắng trong, được an trụ, được giải thoát với nội không và ngoại không, đó gọi là chánh tri.
   Này A-nan, nên thành tựu và an trú với sự không dao động. Vị ấy sau khi thành tựu và an trú với sự không dao động thì tâm không còn dao động, được phấ n chấn, được lắng trong, được an trụ, được giải thoát với sự không lay động. Này A-nan, trong khi quán sát như vậy, vị Tỳ-kheo ấy liền biết mình thành tựu và an trú với sự không lay động, nên tâm không còn dao động, được phấ n chấ n, được lắng trong, được an trụ, được giải thoát với sự không dao động, đó gọi là chánh tri.
   [0739a12] Này A-nan! Tỳ-kheo ấy với tâm an trú trên trú xứ này, nếu muốn đi kinh hành thì Tỳ-kheo ấy rời khỏi thiền thất và đi kinh hành nơi khoảng đất trống dưới bóng mát của mái hiên thiền thất, thu nhiếp các căn vào trong tâm, không hướng ra ngoài, khởi tưởng trước mặt và cả sau lưng.13 Kinh hành như vậy rồi, trong tâm không sanh khởi tham lam, ưu sầu và các pháp ác, bất thiện, đó gọi là chánh tri.
   Này A-nan! Tỳ-kheo với tâm an trú trên trú xứ này, nếu muốn ngồi thiền thì Tỳ-kheo ấy rời khỏi nơi kinh hành, rồi đi đến cuối con đường kinh hành, trải tọa cụ và ngồi kiết-già. Sau khi ngồi như vậy vững vàng rồi, trong tâm không sanh khởi tham lam, ưu sầu và các pháp ác, bất thiện, đó gọi là chánh tri.
   Này A-nan! Tỳ-kheo với tâm an trú trên trú xứ này, nếu muốn suy niệm14 thì đối với ba loại suy niệm ác bất thiện, là niệm dục, niệm sân và niệm hại, Tỳ-kheo ấy chớ nên suy niệm ba loại suy niệm ác bất thiện này. Còn đối với ba loại suy niệm thiện, là niệm vô dục, niệm vô sân, niệm vô hại thì Tỳ-kheo ấy nên suy niệm ba loại niệm thiện này. Sau khi suy niệm như vậy rồi, trong tâm không sanh khởi tham lam, ưu sầu và các pháp ác bất thiện, đó gọi là chánh tri.
   Này A-nan! Tỳ-kheo ấy để tâm an trú trên trú xứ này, nếu muốn luận bàn thì đối với những luận bàn trái với Thánh luận, không tương ưng với lợi ích, tức là luận bàn về những việc liên quan đến vua chúa, giặc giã, đấu tranh, ăn uống, y phục, mền nệm, phụ nữ, đồng nữ, dâm nữ, thế gian, tà đạo, biển cả, vị Tỳ-kheo ấy không nên bàn luận những đề tài vô nghĩa, hạ liệt15 như vậy. Tỳ-kheo chỉ nên luận bàn những việc đúng với Thánh luận, tương ưng với lợi ích, khiến tâm nhu hòa, không bị che lấp, nghĩa là luận bàn về việc bố thí, giữ giới, thiền định, giải thoát, giải thoát tri kiến, giảm dần, không tụ hội, ít muốn, biết đủ, vô dục, đoạn dứt, tịch diệt, tọa thiền, duyên khởi, những điều mà Sa-môn nên luận bàn. Sau khi luận bàn xong, trong tâm không sanh khởi tham lam, ưu sầu và các pháp ác bất thiện, đó gọi là chánh tri.
   [0739b05] Lại nữa, này A-nan! Có năm loại dục16 đáng ưa, tâm thường nhớ nghĩ và có sự khát khao, tương ưng với sắc dục, đó là sắc được mắt nhận biết, âm thanh từ tai nhận biết, hương từ mũi nhận biết, vị từ lưỡi nhận biết, xúc từ thân nhận biết. Vị Tỳ-kheo dùng năng lực17 của tâm để quán sát năm loại dục này, tùy theo từng loại dục mà trong tâm có phát khởi tâm hành gì hay không. Vì sao như vậy? Vì năm loại dục này không trước không sau, tùy theo từng loại dục mà trong tâm phát khởi tâm hành. Này A-nan, trong lúc quán sát, vị Tỳ-kheo ấy liền nhận biết tùy theo từng loại dục mà trong tâm phát khởi tâm hành đối với năm loại dục này. Vị Tỳ-kheo ấy quán tưởng vô thường, quán sự suy hao, quán tưởng vô dục, quán sự đoạn dứt, quán sự diệt tận, quán sự xa lìa đối với mỗi mỗi loại dục này. Nếu trong năm loại dục này mà có dục nào bị nhiễm ô thì vị Tỳ-kheo ấy lập tức diệt tận. Này A-nan, trong khi quán sát như vậy, vị Tỳ-kheo ấy liền biết rõ năm loại dục này có dục, có nhiễm ô và đã được diệt tận, đó gọi là chánh tri.
   Lại nữa, này A-nan, có năm thủ uẩn,18 đó là sắc thủ uẩn, thọ, tưởng, hành và thức thủ uẩn. Nghĩa là Tỳ-kheo quán sát sự thịnh suy của chúng như vầy: Đây là sắc, đây là sự tập khởi của sắc, đây là sự diệt tận của sắc; đối với thọ, tưởng, hành và thức cũng tương tự như vậy; đây là thức, đây là sự tập khởi của thức, đây là sự diệt tận của thức. Nếu trong năm thủ uẩn này có ngã mạn nào khởi lên thì nó liền bị diệt trừ.19 Này A-nan, trong khi quán sát như vậy, vị Tỳ-kheo ấy liền biết rõ ngã mạn trong năm thủ uẩn đã bị diệt trừ, đó gọi là chánh tri.
   Này A-nan, pháp này thật đáng ưa, thật đáng thích, thật đáng ghi nhớ, không còn lậu hoặc, không chấp thủ, vượt tầm Ác ma, xấu ác không thể đến gần; các pháp ác bất thiện, các lậu ô uế, gốc rễ của sự hiện hữu trong tương lai, cho đến các nhân của sự bức bách, của khổ báo, của sanh, già, bệnh, chết cũng không thể đến gần được, nghĩa là thành tựu sự không buông lung. Vì sao như vậy? Bởi vì nhờ không buông lung mà đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đạt được giác ngộ, nhờ gốc rễ không buông lung mà phát sanh vô lượng thiện pháp, cho đến các phẩm trợ đạo. Này A-nan, thế nên các thầy phải học như vầy: “Ta cũng thành tựu sự không buông lung”, nên học tập như vậy.
Này A-nan, vì mục đích gì mà các chánh tín đệ tử thuận theo Thế Tôn để tu hành và phụng sự cho đến trọn đời?
   Tôn giả A-nan bạch đức Thế Tôn:
   – Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý!
   [0739c02] Đức Phật bảo:
   – Này A-nan, hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Như Lai sẽ phân biệt giảng nói cho thầy nghe!
   Lúc đó, Tôn giả A-nan vâng lời lắng nghe. Đức Phật bảo:
   – Này A-nan! Không phải chỉ vì Chánh kinh, Ca vịnh, Ký thuyết mà một chánh tín đệ tử thuận theo Thế Tôn để tu hành và phụng sự cho đến trọn đời. Chỉ là, này A-nan, hoặc từ lâu vị ấy đã từng nghe pháp này, đọc tụng, thực hành đến cả ngàn lần, dụng tâm tư duy quán sát, hiểu rõ nghĩa lý sâu xa; hoặc những luận này là Thánh luận, tương ưng với mục đích cứu cánh, giúp tâm nhu hòa, không bị che lấp, nghĩa là luận về bố thí, giữ giới, thiền định, giải thoát, giải thoát tri kiến, giảm dần, không tụ hội, ít muốn, biết đủ, không tham dục, đoạn dứt, tịch diệt, tọa thiền và duyên khởi. Như vậy, những điều mà Sa-môn luận bàn, được dễ dàng chứ không khó, vì nghĩa này cho nên chánh tín đệ tử thuận theo Như Lai tu hành và phụng sự cho đến trọn đời. Này A-nan, như vậy là phiền lụy cho Tôn sư, phiền lụy cho đệ tử, phiền lụy cho các vị đồng Phạm hạnh.
   Này A-nan, thế nào là phiền lụy cho Tôn sư? Nghĩa là một vị Tôn sư xuất thế có phương cách suy ngẫm tư duy, bằng phương cách suy ngẫm tư duy ấy mà quán sát các loại phàm nhân, có biện tài. Vị ấy sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa; hoặc sống nơi đó mà tinh cần học hạnh viễn ly, chứng đắc tâm tăng thượng, sống an lạc ngay trong hiện tại. Vị ấy sau khi học hạnh viễn ly, tinh cần, sống an ổn hân hoan, rồi theo các đệ tử trở về với các Phạm chí, cư sĩ, thôn xóm, dân chúng. Sau khi theo đệ tử trở về với các Phạm chí, cư sĩ, thôn xóm, dân chúng rồi, vị ấy liền tự cao mà trở về nhà. Như vậy là phiền lụy cho Tôn sư, đây cũng là pháp ác bất thiện, ô uế, là gốc rễ cho sự hiện hữu trong tương lai, là bức bách, khổ báo, là nhân của sanh, già, bệnh, chết. Đó gọi là phiền lụy cho Tôn sư.
   Này A-nan, thế nào là sự phiền lụy cho đệ tử? Nghĩa là đệ tử của Tôn sư ấy theo học hạnh viễn ly của Tôn sư, vị ấy sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Hoặc vị ấy sống nơi đó mà tinh cần học hạnh viễn ly, chứng đắc tâm tăng thượng, sống an lạc ngay trong hiện tại. Vị ấy sau khi học hạnh viễn ly, tinh cần, sống an ổn hân hoan, rồi theo các đệ tử trở về với các Phạm chí, cư sĩ, thôn xóm, dân chúng. Sau khi theo đệ tử trở về với các Phạm chí, cư sĩ, thôn xóm, dân chúng rồi, vị ấy liền tự cao mà trở về nhà. Như vậy là phiền lụy cho đệ tử, đây cũng là pháp ác bất thiện, ô uế, là gốc rễ cho sự hiện hữu trong tương lai, là bức bách, khổ báo, là nhân của sanh, già, bệnh, chết. Đó gọi là phiền lụy cho đệ tử.
   [0740a03] Này A-nan, thế nào là phiền lụy cho các vị đồng Phạm hạnh? Nghĩa là Như Lai xuất thế, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, Ngài sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa.
   Này A-nan, Như Lai vì mục đích gì mà sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa?
   Tôn giả A-nan bạch đức Thế Tôn:
   – Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý!
   Đức Phật lại bảo:
   – Này A-nan, hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Ta sẽ phân biệt giảng nói cho thầy!
   Lúc đó, Tôn giả A-nan vâng lời lắng nghe. Đức Phật bảo:
   – Này A-nan, Như Lai chẳng phải vì muốn đạt được những gì chưa đạt được, thành tựu những gì chưa thành tựu được, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ mà sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-nan, chỉ vì hai mục đích sau đây mà Như Lai sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Một là sống an lạc ngay trong hiện tại cho chính mình. Hai là vì thương xót chúng sanh ở đời sau. Vì đời sau sẽ có người học theo hạnh Như Lai mà sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-nan, Như Lai vì điều này cho nên mới sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Hoặc sống ở nơi đó mà tinh cần học hạnh viễn ly, chứng đắc tâm tăng thượng, được an lạc ngay trong hiện tại.
   Vị ấy sau khi học hạnh viễn ly, tinh cần, sống an ổn hân hoan, rồi theo các vị đồng Phạm hạnh mà trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Vị ấy sau khi theo các vị đồng Phạm hạnh trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di rồi, không tự cao và không trở về nhà.
   Này A-nan, nếu vị ấy đã chứng ngộ tâm giải thoát bất động thì Như Lai không nói vị ấy có sự chướng ngại. Nhưng nếu như vị ấy chứng đắc bốn tâm tăng thượng, được an lạc ngay trong hiện tại, nhờ trước đây tinh cần, sống không buông lung, vậy nên ở đây nếu như có sự thoái thất thì chỉ do sự hội tụ đông đảo đệ tử.
   [0740b03] Lại nữa, này A-nan, đệ tử của Tôn sư ấy noi theo Tôn sư mà sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Hoặc sống ở nơi đó mà tinh cần học hạnh viễn ly, chứng đắc tâm tăng thượng, được an lạc ngay trong hiện tại. Vị ấy sau khi học hạnh viễn ly, tinh cần, sống an ổn hân hoan, rồi theo các vị đồng Phạm hạnh trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Sau khi theo các vị đồng Phạm hạnh trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di rồi, liền tự cao mà trở về nhà. Như vậy là phiền lụy cho các vị đồng Phạm hạnh và đây cũng là pháp ác bất thiện, ô uế, là gốc rễ cho sự hiện hữu trong tương lai, là bức bách, khổ báo, là nhân của sanh, già, bệnh, chết, đó gọi là phiền lụy cho các vị đồng Phạm hạnh.
   Này A-nan, so với sự phiền lụy cho Tôn sư và phiền lụy cho đệ tử thì sự phiền lụy cho các vị đồng Phạm hạnh này là vô cùng sai trái, không đáng vui, không đáng thích, thật không đáng nhớ nghĩ. Do đó, này A-nan, các thầy nên thực hành từ hòa đối với Như Lai, chớ nên gây oán hận.
   Này A-nan, thế nào là đệ tử đối xử với Tôn sư bằng sự oán hận, không thực hành từ hòa? Nếu vị Tôn sư thuyết pháp cho đệ tử do vì lòng thương yêu, vì sự lân mẫn, vì mong cầu ý nghĩa và lợi ích, vì mong cầu an ổn hân hoan cho chúng đệ tử, nên mới phát khởi tâm từ bi mà nói rằng: “Đây là vì lợi ích, đây là vì hân hoan, đây là vì lợi ích an vui.” Nếu người đệ tử ấy không cung kính, cũng không tùy thuận theo, không an trụ nơi chánh trí, tâm không hướng đến pháp và tùy pháp, không thọ lãnh Chánh pháp, trái phạm những điều Tôn sư dạy, không thành tựu thiền định; người đệ tử như vậy chính là đã đối xử với Tôn sư bằng sự oán hận, không thực hành từ hòa.
   Này A-nan, thế nào là đệ tử biết thực hành từ hòa, không gây oán hận đối với Tôn sư? Nghĩa là nếu Tôn sư thuyết pháp cho đệ tử do vì lòng thương yêu, vì sự lân mẫn, vì mong cầu ý nghĩa và lợi ích, vì mong cầu an ổn hân hoan cho chúng đệ tử mà phát khởi tâm từ bi, rồi nói rằng: “Đây là vì lợi ích, đây là vì hân hoan, đây là vì lợi ích và hân hoan.” Nếu đệ tử thuận hành theo, an trụ nơi chánh trí, tâm quy hướng đến pháp và tùy pháp, thọ lãnh Chánh pháp, không trái phạm lời giáo huấn của Tôn sư, khéo thành tựu thiền định; vị đệ tử như vậy là đã thực hành từ hòa và không gây oán hận đối với Tôn sư.
   Này A-nan, thế nên các thầy hãy thực hành từ hòa, không nên gây oán hận đối với Như Lai. Vì sao như vậy? Vì Ta không giảng nói như vầy: Như người thợ gốm sẽ làm đồ gốm.20 Nhưng này A-nan! Ta chủ trương nghiêm khắc và nhẫn nại.21 Những gì chân thật thì tồn tại vững bền.22
   Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.23

Chú thích:

1 Nguyên tác: Đại không kinh 大空經 (T.01. 0026.191. 0738a03). Tham chiếu: M. 122, Mahāsuññata Sutta (Kinh đại không).
2 Nguyên tác: Ca-duy-la-vệ (迦維羅衛, Kapilavatthu), còn gọi Ca-tỳ-la-vệ (迦毘羅衛).
3 Gia-la-sai-ma Thích tinh xá (加羅差摩釋精舍, Kāḷakhemakassa Sakkassa vihāra): Tinh xá của Kāḷakhema, người họ Thích.
4 Gia-la Thí ch (加羅釋, Ghaṭāya Sakkassa).

5 Nguyên tác: Ái lạc tâm giải thoát (愛樂心解脫, kantaṃ cetovimuttiṃ). Du-già sư địa luận 瑜伽師地論 (T.30. 1579.90. 0813a11) gọi là “nhất thời ái tâm giải thoát” ( 一時愛心解脫).
6 Nguyên tác: Bất di động tâm giải thoát (不移動心解脫, Akuppanti cetovimuttiṃ). Thập thượng kinh 十上經 (T.01. 0001.10. 0052c17) gọi là “vô ngại tâm giải thoát” (無礙心解脫); Du-già sư địa luận 瑜伽師地論 (T.30. 1579.90. 0813a11) gọi là “bất động tâm giải thoát” (不動心解脫).
7 Nguyên tác: Ngoại không (外空): Các pháp bên ngoài đều không, chỉ cho 6 xứ bên ngoài (六塵) là sắc (色), thanh (聲), hương (香), vị (味), xúc (觸) cùng với tất cả pháp trần (法塵) đều vô thường (無常), vô ngã (無我), bất tịnh (不淨), hư giả (虛假)… nên gọi là “ngoại không.”

8 Nguyên tác: Nhất định (一定). Theo Trường A-hàm thập báo pháp kinh 長阿含十報法經 (T.01. 0013.2. 0240a05), “nhất định” (一定) là cách gọi khác của “Sơ thiền” (初禪): Tâm an trụ ở Thiền thứ nhất gọi là “nhất định” (意止初禪,為一定).
9 Nguyên tác: Nội không (內空): Các pháp bên trong đều không, chỉ cho 6 xứ bên trong là mắt (眼), tai (耳), mũi (鼻), lưỡi (舌), thân (身), ý (意), cùng với những pháp không phải mắt… đều vô thường, vô ngã, bất tịnh, hư giả… nên gọi là “nội không.”
10 Nguyên tác: Kỳ tâm di động, bất thú hướng cận, bất đắc thanh trừng, bất trụ bất giải ư nội không giả (其心移動,不趣向近,不得清澄,不住,不解於內空者). Tham chiếu: M. 122: Tassa ajjhattaṃ suññataṃ manasikaroto suññatāya cittaṃ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati (Trong khi vị ấy tác ý nội không, tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến nội không), HT. Thích Minh Châu dịch. Cú ngữ này cũng xuất hiện trong A. 4.178 - II. 165. Ở đây, cụm từ “bất thú hướng cận” (不趣向近) có tương đương với A. 4.178 - II. 165: Na pakkhandati, mang nghĩa không phấn chấn, không thích thú. Do vì pakkhandati có căn động từ là khand mang nghĩa hăm hở nhảy nhót nên đã phát sinh cách dịch “Thú hướng cận” (趣向近).

11 Nguyên tác: Nội ngoại không (內外空), tức là 12 nhập xứ (入處), bao gồm 6 nội xứ (內處) và 6 ngoại xứ (外處) đều vô thường, vô ngã, bất tịnh, hư giả… nên gọi là “nội ngoại không.”
12 Chánh tri (正知): Hiểu biết rõ ràng, tường tận. Tham chiếu: M. 122: Itiha tattha sampajāno hoti (Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy), HT. Thích Minh Châu dịch.

13 Nguyên tác: Hậu tác tiền tưởng (後作前想). Cấu trúc này ở Trưởng lão thượng tôn thụy miên kinh 長老上尊睡眠經 (T.01. 0026.83. 0559c27) được viết là “ư hậu tiền tưởng” (於後前想); Tăng. 增 (T.02. 0125.9.3. 0562c13) ghi rõ hơn: “Tiền tưởng hậu tưởng” (前想後想); M. 122, Mahāsuññata Sutta (Kinh đại không): Pacchāpuresaññī (tưởng trước mặt và cả sau lưng).
14 Niệm (念) tức “tầm”, “suy tầm” hay “toan tính.” Có 3 bất thiện tầm: Dục tầm (欲尋, kāmavitakko), sân tầm (瞋尋, vyāpādavitakko) và hại tầm (害尋, vihiṁsāvitakko).
15 Nguyên tác: Súc sinh luận (畜生論, tiracchānakathaṃ): Đàm luận về những điều phi nghĩa, vô ích.

16 Nguyên tác: Ngũ dục công đức (五欲功德). Xem chú thích 5, kinh số 2, tr. 11.
17 Nguyên tác: Chí đáo (至到), chỉ cho mức độ, trình độ (造詣).
18 Nguyên tác: Ngũ thạnh ấm (五盛陰, pañca upādānakkhandhā). Xem chú thích 8, kinh số 13, tr. 75.
19 Do chấp ngã hoặc ngã sở dựa trên thân 5 uẩn rồi khởi lên sự kiêu mạn. Quán sanh khởi và diệt tận thì ngã mạn bị diệt trừ. Tham chiếu: M. 122, Mahāsuññata Sutta (Kinh đại không): Trong khi vị ấy an trú, tùy quán sự sinh diệt của 5 thủ uẩn này, nếu có ngã mạn nào (asmimāna) [khởi lên] đối với 5 thủ uẩn, ngã mạn ấy được đoạn tận.

20 Nguyên tác: Đào sư tác ngõa (陶師作瓦). Thành cú này nhằm chỉ cho việc người thợ gốm nhào nặn đất rồi tạo mọi vật dụng theo ý mình, nhưng chung cuộc đều bị tan vỡ, còn chân lý mà Như Lai khai mở không như vậy. Tham chiếu: Đại Bát-nê-hoàn kinh 大般涅槃經 (T.12. 0374.5. 0392a13): Ví như thợ gốm, tạo đồ vật nhưng cuối cùng thì cũng vỡ tan; giải thoát giác ngộ thì không phải như vậy! Giải thoát giác ngộ là sự chân thật, không sinh, không diệt (譬如陶師,作已還破;解脫不爾,真解脫者,不生,不滅). Đại bảo tích kinh 大寶積經 (T.11. 0310.42. 0243c08): Ví như thợ gốm nhào nặn đồ dùng, hoặc lớn hoặc nhỏ, nhưng rốt cuộc rồi, thảy đều tan vỡ” (譬如陶師埏埴瓦器,若大若小終歸破壞).
21 Nguyên tác: Nghiêm cấp chí khổ (嚴急至苦). “Nghiêm cấp” (嚴急) mang nghĩa “nghiêm khắc” (嚴刻). “Khổ” (苦) là “sự nhẫn nại” (刻苦).
22 Nguyên tác: Nhược hữu chân thật giả, tất năng vãng dã (若有真實者,必能往也). “Vãng” (往) sử dụng như “vãng vãng” (往往): Mãi mãi, vĩnh viễn, thường xuyên. Tham chiếu: M. 122, Mahāsuññata Sutta (Kinh đại không): Yo sāro so ṭhassatīti (cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ đứng vững tồn tại), HT. Thích Minh Châu dịch.
23 Bản Hán, hết quyển 49.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.