Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại giảng đường Lộc Tử Mẫu ở khu vườn phía Đông.2
[0737a01] Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả A-nan rời nơi tĩnh tọa, đi đến chỗ đức Phật, cúi lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Một thời, Ngài du hành trong dân chúng họ Thích-ca, tại ngôi làng của họ Thích-ca. Lúc ấy, con được nghe Thế Tôn dạy về ý nghĩa như vầy: “Này A-nan, Ta phần nhiều an trú nơi tánh không.”3 Những điều mà Thế Tôn dạy, có phải con nên biết rõ, khéo tiếp nhận để ghi nhớ kỹ chăng?
Lúc đó, đức Thế Tôn bảo:
– Này A-nan! Những điều mà Như Lai dạy thì thầy phải khéo biết rõ, khéo tiếp nhận để ghi nhớ kỹ. Vì sao như vậy? Vì từ xưa đến nay, phần nhiều Ta an trú nơi tánh không. Này A-nan! Ví như giảng đường Lộc Tử Mẫu này là trống không, không có voi, ngựa, bò, dê, tài vật, lúa thóc, tôi tớ nhưng có điều chẳng phải trống không, bởi vì có chúng Tỳ-kheo.
Thế nên, này A-nan! Nếu như trong giảng đường không có gì thì nhân đó Ta thấy là trống không. Nếu như trong giảng đường còn có thứ khác thì Ta thấy là thật có. Này A-nan, đó gọi là an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo.
Này A-nan! Nếu có Tỳ-kheo nào muốn an trú nhiều nơi tánh không thì Tỳ-kheo ấy đừng tác ý nghĩ tưởng về thôn xóm, đừng tác ý nghĩ tưởng về người mà phải thường xuyên và duy nhất tác ý4 nghĩ tưởng về khu rừng. Vị ấy nhận biết như vầy: Nghĩ tưởng về thôn xóm là trống không, nghĩ tưởng về người là trống không, nhưng có một điều chẳng phải trống không, vì có sự nghĩ tưởng duy nhất về khu rừng. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về thôn xóm thì ta không có việc đó. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về người thì ta cũng không có việc đó. Chỉ còn có sự mệt nhọc là do sự nghĩ tưởng duy nhất về khu rừng.
Nếu như trong đó không có gì thì nhân đó vị ấy thấy là trống không. Nếu như trong đó còn có thứ khác thì vị ấy thấy là thật có. Này A-nan, đó gọi là an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo.
Lại nữa, này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào muốn an trú nhiều nơi tánh không thì Tỳ-kheo ấy đừng tác ý nghĩ tưởng về người, đừng tác ý nghĩ tưởng về khu rừng mà phải thường xuyên và duy nhất tác ý nghĩ tưởng về đất. Tỳ-kheo ấy nếu thấy đất này có cao, có thấp, có ổ rắn, bụi gai, cát đá, núi hiểm, sông sâu thì không nên tác ý đến nó. Nếu thấy đất đai bằng phẳng như lòng bàn tay, nhìn xa thấy rõ thì hãy thường xuyên tác ý đến nó. Này A-nan, như một tấm da bò được căng đều trên trăm cọc đinh, sau khi đã được căng đều thì tấm da bò sẽ không bị nhăn, không bị co rút lại. Nếu thấy chỗ đất đai này có cao, thấp, ổ rắn, bụi gai, cát đá, núi hiểm, sông sâu thì không nên tác ý đến nó. Nếu thấy đất này bằng phẳng như lòng bàn tay, nhìn xa thấy rõ thì hãy thường xuyên tác ý đến nó. Vị ấy nhận biết như vầy: Nghĩ tưởng về người là trống không, nghĩ tưởng về khu rừng là trống không, nhưng có một điều chẳng phải trống không, vì có sự nghĩ tưởng duy nhất về đất. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về người thì ta không có việc đó. Nếu như có mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về khu rừng thì ta cũng không có việc đó. Chỉ còn có sự mệt nhọc là do sự nghĩ tưởng duy nhất về đất.
Nếu như trong đó không có gì thì nhân đó vị ấy thấy là trống không. Nếu như trong đó còn có thứ khác thì vị ấy thấy là thật có. Này A-nan, đó gọi là an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo.
[0737b04] Lại nữa, này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào muốn an trú nhiều nơi tánh không thì Tỳ-kheo ấy đừng tác ý nghĩ tưởng về khu rừng, đừng tác ý nghĩ tưởng về đất mà phải thường xuyên và duy nhất tác ý nghĩ tưởng về Không vô biên xứ.5 Vị ấy nhận biết như vầy: Nghĩ tưởng về khu rừng là trống không, nghĩ tưởng về đất là trống không, nhưng có một điều chẳng phải trống không, vì có sự nghĩ tưởng duy nhất về Không vô biên xứ. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về khu rừng thì ta không có việc đó. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về đất thì ta cũng không có việc đó. Chỉ còn có sự mệt nhọc là do sự nghĩ tưởng duy nhất về Không vô biên xứ.
Nếu như trong đó không có gì thì nhân đó vị ấy thấy là trống không. Nếu như trong đó còn có thứ khác thì vị ấy thấy là thật có. Này A-nan, đó gọi là an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo.
Lại nữa, này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào muốn an trú nhiều nơi tánh không thì Tỳ-kheo ấy đừng tác ý nghĩ tưởng về đất, đừng tác ý nghĩ tưởng về Không vô biên xứ mà phải thường xuyên và duy nhất tác ý nghĩ tưởng về Thức vô biên xứ.6 Vị ấy nhận biết như vầy: Nghĩ tưởng về đất là trống không, nghĩ tưởng về Không vô biên xứ là trống không, nhưng có một điều chẳng phải trống không,vì có sự nghĩ tưởng duy nhất về Thức vô biên xứ. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về đất thì ta không có việc đó. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về Không vô biên xứ thì ta cũng không có việc đó. Chỉ còn có sự mệt nhọc là do sự nghĩ tưởng duy nhất về Thức vô biên xứ.
Nếu như trong đó không có gì thì nhân đó vị ấy thấy là trống không. Nếu như trong đó còn có thứ khác thì vị ấy thấy là thật có. Này A-nan, đó gọi là an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo.
Lại nữa, này A-nan, nếu Tỳ-kheo nào muốn an trú nhiều nơi tánh không thì Tỳ-kheo ấy đừng tác ý nghĩ tưởng về Không vô biên xứ, đừng tác ý nghĩ tưởng về Thức vô biên xứ mà phải thường xuyên và duy nhất tác ý nghĩ tưởng về Vô sở hữu xứ. Vị ấy nhận biết như vầy: Nghĩ tưởng về Không vô biên xứ là trống không, nghĩ tưởng về Thức vô biên xứ là trống không, nhưng có một điều chẳng phải trống không, vì có sự nghĩ tưởng duy nhất về Vô sở hữu xứ. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về Không vô biên xứ thì ta không có việc đó. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về Thức vô biên xứ thì ta cũng không có việc đó. Chỉ còn có sự mệt nhọc là do sự nghĩ tưởng duy nhất về Vô sở hữu xứ.
Nếu như trong đó không có gì thì nhân đó vị ấy thấy là trống không. Nếu như trong đó còn có thứ khác thì vị ấy thấy là thật có. Này A-nan, đó gọi là an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo.
[0737c01] Lại nữa, này A-nan! Nếu Tỳ-kheo muốn an trú nhiều nơi tánh không thì Tỳ-kheo ấy đừng tác ý nghĩ tưởng về Thức vô biên xứ, đừng tác ý nghĩ tưởng về Vô sở hữu xứ mà phải thường xuyên và duy nhất tác ý nghĩ tưởng về Vô tưởng tâm định.7 Vị ấy nhận biết như vầy: Nghĩ tưởng về Thức vô biên xứ là trống không, nghĩ tưởng về Vô sở hữu xứ là trống không, nhưng có một điều chẳng phải trống không, vì có sự nghĩ tưởng duy nhất về Vô tưởng tâm định. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về Thức vô biên xứ thì ta không có việc đó. Nếu như có sự mệt nhọc nào do nghĩ tưởng về Vô sở hữu xứ thì ta cũng không có việc đó. Chỉ còn có sự mệt nhọc là do sự nghĩ tưởng duy nhất về Vô tưởng tâm định.
Nếu như trong đó không có gì thì nhân đó vị ấy thấy là trống không. Nếu như trong đó còn có thứ khác thì vị ấy thấy là thật có. Này A-nan, đó gọi là an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo.
Rồi vị ấy lại suy nghĩ như vầy: Vô tưởng tâm định mà ta có được ở đây vốn thuộc tạo tác, từ tưởng mà sanh ra.8 Nếu nó vốn thuộc tạo tác, từ tưởng mà sanh ra thì ta không nên yêu thích nó, không nên mong cầu nó, không nên an trú vào nó.9 Vị ấy biết như vậy, thấy như vậy nên tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Giải thoát rồi thì biết mình đã giải thoát và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Vị ấy nhận biết như vầy: Dục lậu thì trống không, hữu lậu thì trống không và vô minh lậu thì trống không, nhưng có một điều chẳng phải là trống không, vì còn có thân này của ta cùng với sáu căn10 để cho mạng tồn tại. Nếu như có sự mệt nhọc nào do dục lậu thì ta không có việc đó. Nếu như có sự mệt nhọc do hữu lậu và vô minh lậu thì ta cũng không có việc đó. Chỉ còn có sự mệt nhọc là do thân này của ta cùng với sáu căn để cho mạng tồn tại.
Nếu như trong đó không có gì thì nhân đó vị ấy thấy là trống không. Nếu như trong đó còn có thứ khác thì vị ấy thấy là thật có. Này A-nan, đó gọi là an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo. Nghĩa là dứt sạch lậu hoặc, không còn lậu hoặc, thành tựu Niết-bàn,11 được tâm giải thoát.
Này A-nan! Trong thời quá khứ, các đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, tất cả Chư vị ấy đều an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo này. Nghĩa là đã dứt sạch lậu hoặc, không còn lậu hoặc, thành tựu Niết-bàn, được tâm giải thoát.
Này A-nan! Trong thời vị lai, các đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, tất cả Chư vị ấy đều an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo này. Nghĩa là đã dứt sạch lậu hoặc, không còn lậu hoặc, thành tựu Niết-bàn, được tâm giải thoát.
Này A-nan! Trong thời hiện tại, Ta là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Ta cũng an trú trong sự thật, an trú trong tánh không, không điên đảo này. Nghĩa là đã dứt sạch lậu hoặc, không còn lậu hoặc, thành tựu Niết-bàn, được tâm giải thoát. Thế nên, A-nan! Cần phải học tập như vậy.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích :
1 Nguyên tác: Tiểu không kinh 小空經 (T.01. 0026.190. 0736c27). Tham chiếu: M. 121, Cūḷasuññata Sutta (Kinh tiểu không).
2 Đông Viên Lộc Tử Mẫu đường (東園鹿子母堂, Pubbārāma Migāramāta pāsāda): Giảng đường được xây dựng bởi bà Visakhā, mẹ của Migāra.
3 Hành không (行空, suññatāvihāra): Không trụ, sự an trụ nơi tánh không.
4 Niệm nhất (念一). Tham chiếu: M. 121: Manasikaroti ekattaṁ (tác ý duy nhất trên một đối tượng).
5 Nguyên tác: Vô lượng không xứ tưởng (無量空處想, Ākāsānañcāyatanasaññā).
6 Nguyên tác: Vô lượng thức xứ tưởng (無量識處想, Viññāṇañcanāyatanasaññā).
7 Nguyên tác: Vô tưởng tâm định (無想心定, Animitta cetosamādhi). Bản Hán bỏ qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ (Nevasaññāsaññāyātanasaññā) và chúng được ghi nhận trong M. 121.
8 Nguyên tác: Bổn sở hành, bổn sở tư (本所行, 本所思). Tham chiếu: M. 121: Ayampi kho animitto cetosamādhi abhisaṅkhato abhisañcetayito (Vô tướng tâm định này thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên). Thuật ngữ Abhisañcetayita được Minh Pháp Tôn giả (明法尊者) trong Pāli-Hán từ điển (巴漢詞典) định nghĩa: Được sanh ra từ tưởng (想出).
9 Tham chiếu: M. 121: Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti (Phàm cái gì thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy), HT. Thích Minh Châu dịch.
10 Lục xứ (六處) chỉ cho 6 xứ bên trong, tức là 6 căn (六根).
11 Nguyên tác: Vô vi (無為), cũng gọi Niết-bàn (涅槃, Nibbāna).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.