Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Câu-lâu, ngụ tại thị trấn Kiếm-ma-sắt-đàm, thuộc nước Câu-lâu.2
[0735c01] Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Có một con đường khiến chúng sanh thanh tịnh, thoát khỏi ưu sầu, than khóc, dứt hết buồn lo, ảo não, chứng được pháp chân thật, đó là chánh định của bậc Thánh với các duyên hỗ trợ3 làm tư lương, bao gồm bảy chi.
Thế nào là chánh định của bậc Thánh được nói đến, với các duyên hỗ trợ làm tư lương bao gồm bảy chi? Đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn và chánh niệm. Do có bảy chi này làm duyên hỗ trợ và làm tư lương nên khéo hướng tâm đến chuyên nhất,4 đó gọi là chánh định của bậc Thánh với các duyên hỗ trợ làm tư lương. Vì sao như vậy? Vì nhờ chánh kiến sanh chánh tư duy, chánh tư duy sanh chánh ngữ, chánh ngữ sanh chánh nghiệp, chánh nghiệp sanh chánh mạng, chánh mạng sanh chánh tinh tấn, chánh tinh tấn sanh chánh niệm, chánh niệm sanh chánh định. Vị Hiền thánh đệ tử với tâm được chánh định như vậy thì lập tức dứt sạch tham, sân và si. Vị Hiền thánh đệ tử với tâm chân chánh giải thoát như vậy, liền biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Trong các chi ấy thì chánh kiến là yếu tố dẫn đầu.
Nếu thấy tà kiến là tà kiến thì đó gọi là chánh kiến. Nếu thấy chánh kiến là chánh kiến thì đó cũng gọi là chánh kiến.
Thế nào là tà kiến? Là cho rằng không có bố thí, không có tế tự, không có chú nguyện,5 không có nghiệp thiện, nghiệp ác, không có quả báo của nghiệp thiệp, nghiệp ác, không có đời này đời sau, không có cha, không có mẹ, không có bậc chân nhân xuất hiện ở đời, đi đến chỗ lành, khéo ra khỏi cõi này, khéo hướng đến cõi kia, trong đời này hay đời sau, tự biết tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tưu và an trú , đó gọi là tà kiến.
Thế nào gọi là chánh kiến? Là thấy rằng có bố thí, có tế tự, có chú nguyện, có nghiệp thiện, nghiệp ác, có quả báo của nghiệp thiện, nghiệp ác, có đời này đời sau, có cha có mẹ, có bậc chân nhân xuất hiện ở đời, đi đến cõi lành, khéo ra khỏi cõi này, khéo hướng đến cõi kia, trong đời này hay đời sau, tự biết tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trú , đó gọi là chánh kiến.
Như vậy, thấy tà kiến là tà kiến thì đó gọi là chánh kiến. Thấy chánh kiến là chánh kiến thì đó cũng là chánh kiến. Khi biết rõ như vậy, vị ấy liền cầu học để mong đoạn dứt tà kiến, thành tựu chánh kiến, đó gọi là chánh tinh tấn. Tỳ-kheo dùng ý niệm đoạn dứt tà kiến, thành tựu chánh kiến, đó gọi là chánh niệm. Cả ba chi này xoay quanh chánh kiến, vận hành theo chánh kiến, thế nên chánh kiến là yếu tố đứng đầu.
Nếu thấy tà tư duy là tà tư duy thì đó gọi là chánh tư duy. Nếu thấy chánh tư duy là chánh tư duy thì đó cũng là chánh tư duy.
Thế nào là tà tư duy? Là nghĩ về dục, nghĩ về sân và nghĩ về hại, đó gọi là tà tư duy. Thế nào là chánh tư duy? Là không nghĩ về dục, không nghĩ về sân và không nghĩ về hại, đó gọi là chánh tư duy.
Như vậy, thấy tà tư duy là tà tư duy thì đó gọi là chánh tư duy. Thấy chánh tư duy là chánh tư duy thì đó cũng là chánh tư duy. Khi biết như thế rồi, vị ấy liền cầu học để mong đoạn dứt tà tư duy, thành tựu chánh tư duy, đó gọi là chánh tinh tấn. Tỳ-kheo dùng chánh niệm đoạn dứt tà tư duy, thành tựu chánh tư duy, đó gọi là chánh niệm. Cả ba chi này xoay quanh chánh tư duy, vận hành theo chánh kiến, thế nên chánh kiến là yếu tố đứng đầu.
[0736a07] Nếu thấy tà ngữ là tà ngữ thì đó gọi là chánh ngữ. Thấy chánh ngữ là chánh ngữ thì đó cũng gọi là chánh ngữ.
Thế nào là tà ngữ? Là nói dối, nói hai chiều, nói lời thô ác và nói thêu dệt, đó gọi là tà ngữ.
Thế nào là chánh ngữ? Là lìa bỏ nói dối, lìa bỏ nói hai chiều, lìa bỏ nói lời thô ác và lìa bỏ nói thêu dệt, đó gọi là chánh ngữ.
Như vậy, thấy tà ngữ là tà ngữ thì đó gọi là chánh ngữ. Thấy chánh ngữ là chánh ngữ thì đó cũng gọi là chánh ngữ. Khi nhận biết như vậy rồi, vị ấy liền cầu học để mong đoạn dứt tà ngữ, thành tựu chánh ngữ, đó là chánh tinh tấn. Tỳ-kheo dùng chánh niệm đoạn dứt tà ngữ, thành tựu chánh ngữ, gọi đó là chánh niệm. Cả ba chi này này xoay quanh chánh ngữ, vận hành theo chánh kiến, thế nên chánh kiến là yếu tố đứng đầu.
Nếu thấy tà nghiệp là tà nghiệp thì đó gọi là chánh nghiệp. Thấy chánh nghiệp là chánh nghiệp thì đó cũng gọi là chánh nghiệp.
Thế nào gọi là tà nghiệp? Là sát sanh, trộm cướp và tà dâm, đó là tà nghiệp. Thế nào gọi là chánh nghiệp? Là lìa bỏ sát sanh, lìa bỏ trộm cướp và lìa bỏ tà dâm, đó là chánh nghiệp.
Như vậy, thấy tà nghiệp là tà nghiệp thì đó gọi là chánh nghiệp. Thấy chánh nghiệp là chánh nghiệp thì đó cũng gọi là chánh nghiệp. Khi nhận biết như thế rồi, vị ấy liền cầu học để mong đoạn dứt tà nghiệp, thành tựu chánh nghiệp, đó gọi là chánh tinh tấn. Tỳ-kheo dùng chánh niệm đoạn dứt tà nghiệp, thành tựu chánh nghiệp, gọi là chánh niệm. Cả ba chi này xoay quanh chánh nghiệp, vận hành theo chánh kiến, thế nên chánh kiến là yếu tố đứng đầu.
Nếu thấy tà mạng là tà mạng thì đó là chánh mạng. Thấy rõ chánh mạng là chánh mạng thì đó cũng là chánh mạng. Thế nào là tà mạng? Là nếu có sự mong cầu mà không được toại ý, vị ấy dùng các loại chú thuật và nghề tà mạng thấp kém6 để nuôi sống. Họ tìm kiếm y phục không như pháp mà lại bằng phi pháp; tìm cầu món ăn thức uống, giường nệm, thuốc thang và các vật dụng sinh sống không đúng pháp mà bằng phi pháp, đó là tà mạng.
Thế nào là chánh mạng? Là không có sự mong cầu không toại ý. Họ không dùng các loại chú thuật và nghề tà mạng thấp kém để nuôi sống. Họ tìm kiếm áo chăn đúng như pháp, là sống theo pháp. Họ tìm cầu món ăn thức uống, giường nệm, thuốc thang và các thứ vật dụng sinh sống đúng như pháp, là sử dụng đúng pháp. Đó là chánh mạng.
Như vậy, thấy tà mạng là tà mạng thì đó gọi là chánh mạng. Thấy chánh mạng là chánh mạng thì đó cũng gọi là chánh mạng. Khi nhận biết như thế rồi, vị ấy liền cầu học để mong đoạn dứt tà mạng, thành tựu chánh mạng, đó gọi là chánh tinh tấn. Tỳ-kheo dùng chánh niệm đoạn dứt tà mạng, thành tựu chánh mạng, gọi là chánh niệm. Cả ba chi này xoay quanh chánh mạng, vận hành theo chánh kiến, thế nên chánh kiến là yếu tố đứng đầu.
[0736b08] Thế nào là chánh tinh tấn? Là vị Tỳ-kheo đối với pháp ác, bất thiện đã sanh, nên phát khởi ước muốn tìm cầu phương tiện, dõng mãnh tinh tấn, dốc lòng nỗ lực,7 khiến chúng bị đoạn trừ.
Đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh nên phát khởi ước muốn tìm cầu phương tiện, dõng mãnh tinh tấn, dốc lòng nỗ lực khiến chúng không phát sanh.
Đối với pháp thiện chưa sanh nên phát khởi ước muốn tìm cầu phương tiện, dõng mãnh tinh tấn, dốc lòng nỗ lực khiến chúng phát sanh.
Đối với pháp thiện đã sanh nên phát khởi ước muốn tìm cầu phương tiện, dõng mãnh tinh tấn, dốc lòng nỗ lực khiến chúng được tồn tại, không mất đi, không sút giảm, tăng trưởng thêm, phát triển rộng rãi, tu tập viên mãn, đó gọi là chánh tinh tấn.
Thế nào là chánh niệm? Là Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán thọ đúng như thọ, quán tâm đúng như tâm, quán pháp đúng như pháp,8 đó gọi là chánh niệm.
Thế nào là chánh định? Là Tỳ-kheo lìa dục, lìa pháp ác, bất thiện,... (cho đến) chứng đắc và an trú Thiền thứ tư, đó gọi là chánh định.
Thế nào là chánh giải thoát? Là Tỳ-kheo tâm giải thoát khỏi dục, tâm giải thoát khỏi sân, si, đó gọi là chánh giải thoát.
Thế nào là chánh trí? Là Tỳ-kheo biết tâm giải thoát khỏi dục, biết tâm giải thoát khỏi sân và biết tâm giải thoát khỏi si, đó gọi là chánh trí.
Đó là bậc Hữu học thành tựu tám chi,9 bậc A-la-hán sạch hết phiền não thành tựu mười chi.10
Thế nào là bậc Hữu học thành tựu tám chi? Là vị Hữu học từ chánh kiến cho đến chánh định.
Thế nào là bậc A-la-hán sạch hết phiền não thành tựu mười chi? Đó là từ Vô học chánh kiến cho đến Vô học chánh trí. Vì sao như vậy? Vì chánh kiến là để đoạn trừ tà kiến. Nếu nhân tà kiến sanh ra vô lượng pháp ác, bất thiện thì vị ấy cũng đoạn trừ sạch. Nếu nhân chánh kiến sanh ra vô lượng pháp thiện thì vị ấy tu tập mong được viên mãn. Cho đến chánh trí là đoạn trừ tà trí. Nếu nhân tà trí sanh khởi vô lượng pháp ác, bất thiện thì vị ấy cũng đoạn trừ nó. Nếu nhân chánh trí sanh vô lượng pháp thiện thì vị ấy tu tập khiến thành tựu viên mãn.
[0736c01] Đó là hai mươi phẩm thiện và hai mươi phẩm bất thiện. Tức là tuyên thuyết bốn mươi phẩm đại pháp được chuyển vận nơi Phạm luân thì không một ai có thể chế ngự hoặc phỉ báng, dù đó là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên và các hạng loại khác trong thế gian.
Đối với bốn mươi phẩm đại pháp mà Ta tuyên thuyết, được chuyển vận nơi Phạm luân11 thì không một ai có thể chế ngự, dù đó là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên và các hạng loại khác trong thế gian. Nếu như có Sa-môn hay Phạm chí nào phỉ báng thì kẻ ấy bị mười điều chỉ trích đúng pháp.
Mười điều ấy là gì? Hoặc có kẻ chê bai chánh kiến, khen ngợi tà kiến. Nếu như có Sa-môn hay Phạm chí nào theo tà kiến, nhưng vẫn cúng dường và khen ngợi họ thì đối với bốn mươi phẩm đại pháp mà Ta tuyên thuyết được chuyển vận nơi Phạm luân, không một ai có thể chế ngự, dù đó là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên và các hạng loại khác trong thế gian. Nếu như có Sa-môn hay Phạm chí nào phỉ báng thì những kẻ đó là hạng thứ nhất bị chỉ trích đúng pháp.
Hoặc có kẻ chê bai,... (cho đến) chánh trí, khen ngợi tà trí. Nếu như có Sa-môn hay Phạm chí nào theo tà kiến, nhưng vẫn cúng dường và khen ngợi họ thì đối với bốn mươi phẩm đại pháp mà Ta tuyên thuyết được chuyển vận nơi Phạm luân, không một ai có thể chế ngự, dù đó là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên và các hạng loại khác trong thế gian. Nếu như có Sa-môn hay Phạm chí nào phỉ báng thì những kẻ đó là hạng thứ mười bị chỉ trích đúng pháp.
Đối với bốn mươi phẩm đại pháp mà Ta tuyên thuyết, được chuyển vận nơi Phạm luân thì không một ai có thể chế ngự, dù đó là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên và các hạng loại khác trong thế gian. Nếu như có Sa-môn hay Phạm chí nào phỉ báng thì kẻ ấy bị mười điều chỉ trích đúng pháp.
Nếu như có Sa-môn hay Phạm chí nào chủ trương khổ hạnh và thuyết giảng khổ hạnh,12 chủ trương không sở hữu và thuyết giảng không sở hữu, thuyết không có nguyên nhân, thuyết không có tạo tác, thuyết không có nghiệp báo; nghĩa là đối với nghiệp thiện ác được tạo tác bởi người này hay người kia mà chủ trương phá hoại đoạn tuyệt, ở kia hay ở đây thì những người ấy cũng bị chỉ trích, lo lắng và sợ hãi đối với bốn mươi phẩm đại pháp mà Ta tuyên thuyết được chuyển vận nơi Phạm luân, không một ai có thể chế ngự hoặc phỉ báng, dù đó là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên và các hạng loại khác trong thế gian.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
1 Nguyên tác: Thánh đạo kinh 聖道經 (T.01. 0026.189. 0735b27). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.785. 0203a19); M. 117, Mahācattārīsaka Sutta (Ðại kinh bốn mươi).
2 Câu-lâu đô ấp (拘樓都邑). Xem chú thích 3, kinh số 10, tr. 55.
3 Hữu tập hữu trợ (有習有助) M. 117: Sa upanisa (cùng với sự thân cận, hay phương tiện), sa parikkhāra (cùng với tư lương).
4 Tâm đắc nhất (心得一): Trạng thái tập trung vào một điểm. M. 117: Cittassa ekaggatā (tâm nhất cảnh tánh).
5 Nguyên tác: Vô hữu chú thuyết (無有咒說). Chú thuyết (咒說) là lời chúc phúc, chú nguyện sau khi thọ nhận vật thực.
6 Nguyên tác: Súc sinh chi chú tà mạng (畜生之咒邪命). Tham chiếu: S. 28.10 - III. 238: Ye hi keci, bhagini, samaṇabrāhmaṇā nakkhattavijjātiracchānavijjāya micchājīvena jīvikaṃ kappenti, ime vuccanti, bhagini, samaṇabrāhmaṇā ‘ubbhamukhā bhuñjantī’ti. (Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này chị, nuôi sống bằng những tà mạng như địa lý (nakkhattavijjā) và súc sinh minh (nghề hèn hạ); này chị, các vị ấy được gọi là các Sa-môn, Bà-la-môn ăn cúi mặt xuống), HT. Thích Minh Châu dịch.
7 Nguyên tác: Tinh cần cử tâm diệt (精勤舉心滅). Theo Pāli-Hán từ điển (巴漢詞典) do Minh Pháp Tôn giả (明法尊者) hiệu đính, sau khi tham chiếu 2 bản kinh Trung A-hàm (T.01. 0026.86. 0563a12) và (T.01. 0026.222. 0806a02) cho rằng nguyên tác của cú ngữ này chính là “tinh cần cử tâm đoạn” (精勤舉心斷). Sự nhầm lẫn này có thể xảy ra trong khi khẩu truyền Phạn ngữ, vì “đoạn” (斷) mang nghĩa nỗ lực, với tiếng Pāli là padahati. Trong khi đó, chữ “diệt” (滅) mang nghĩa diệt mất, như M. 117 ghi là pajahati. Xem thêm Tạp. 雜 (T.02. 0099.876. 0221a13), “đoạn đoạn” (斷斷) tương đương M. 117: Pahānappadhāna (tinh cần đoạn tận).
8 Nguyên tác: Quán nội thân như thân,… nãi chí… quán giác,… tâm,… pháp như pháp (觀內身如身乃至觀覺心法如法). Xem chú thích 3, kinh số 41, tr. 272 và chú thích 5, kinh số 98, tr. 653.
9 Học giả thành tựu bát chi (學者成就八支, Aṭṭhaṅgasamannāgato Sekho): Bậc Hữu học thành tựu 8 chi.
10 Lậu tận A-la-hán thành tựu thập chi (漏盡阿羅訶成就十支, Dasaṅgasamannāgato Arahā): Bậc Vô học thành tựu 10 chi.
11 Chuyển ư Phạm luân (轉於梵輪): Phạm luân (梵輪) vốn là dụng ngữ của Bà-la-môn, được Phật giáo thừa tiếp sử dụng, về sau thuật ngữ này được hoàn chỉnh thành Chuyển Pháp luân (轉法輪).
12 Nguyên tác: Tồn cứ thuyết tồn cứ (蹲踞說蹲踞). Tồn cứ (蹲踞) là cách ngồi chồm hổm, chỉ cho cách tu khổ hạnh của các giáo phái ngoài Phật giáo.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.