Viện Nghiên Cứu Phật Học

187. KINH THUYẾT TRÍ1

   Tôi nghe như vầy:
   Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
   Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
   – Nếu có Tỳ-kheo nào đến trước các thầy trình bày về trí đã chứng đắc và biế t đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa”, khi các thầy nghe nói vậy thì nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.2 Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, các thầy hãy hỏi lại Tỳ-kheo ấy như vầy: “Thưa Hiền giả! Đức Thế Tôn đã nói năm thủ uẩn3 là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Hiền giả biết như thế nào và thấy như thế nào về năm thủ uẩn để được biết là không còn chấp thủ, đã dứt sạch hết các lậu, tâm đã giải thoát?”
   Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạm hạnh đã thành tựu ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vầy: “Thưa chư Hiền! Sắc thủ uẩn vốn không thật, rỗng không, không đáng ham muốn, không thường hằng, không đáng nương tựa, là pháp biến đổi. Tôi biết rõ như vậy. Nếu đối với sắc thủ uẩn mà có tham dục, có ô nhiễm, có đắm trước, có trói buộc và bị trói buộc sai khiến thì những thứ ấy đã được đoạn trừ tất cả, không còn tham dục, tịch tịnh, vắng lặng; từ đó biết được mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch hết các lậu, tâm đã giải thoát. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành và thức thủ uẩn cũng không thật, rỗng không, không đáng ham muốn, là pháp không thường hằng, không đáng nương tựa, là pháp biến đổi. Tôi biết rõ như vậy. Nếu đối với thức thủ uẩn mà có tham dục, có ô nhiễm, có đắm trước, có trói buộc và bị sự trói buộc sai khiến thì những thứ ấy đã được đoạn trừ tất cả, không còn tham dục, tịch tịnh, vắng lặng; từ đó biết được mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch hết các lậu, tâm đã giải thoát. Thưa chư Hiền! Đối với năm thủ uẩn này, tôi biết như vậy và thấy như vậy nên tự biết được rằng mình không còn chấp thủ, các lậu hoặc đã dứt sạch, tâm được giải thoát.”
   Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạm hạnh đã thành tựu ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vậy.

   [0732b11] Các thầy nghe như vậ y rồ i nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành. Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, các thầy nên hỏi lại Tỳ-kheo ấy như vầy: “Thưa Hiền giả! Đức Thế Tôn đã nói có bốn loại thức ăn, chúng sanh nhờ đó mà được nuôi dưỡng sinh tồn. Là bốn loại nào? Một là đoàn thực có thô và tế. Hai là xúc thực. Ba là ý niệm thực. Bốn là thức thực. Hiền giả biết như thế nào và thấy như thế nào về bốn loại thức ăn này, để biết được rằng mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch các lậu hoặc, tâm được giải thoát?”
   Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạm hạnh đã thành tựu ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vầy: “Này chư Hiền! Đối với đoàn thực, tâm tôi không coi trọng, không khinh rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo, biết đúng như thật: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’ Cũng như vậy, đối với xúc thực, ý niệm thực và thức thực, tâm tôi không coi trọng, không khinh rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo, biết đúng như thật: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’ Này chư Hiền, tôi biết như vậy và thấy như vậy đối với bốn loại thức ăn này nên biết được rằng mình không còn chấp thủ, các lậu hoặc đã dứt sạch, tâm được giải thoát.” Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạ m hạ nh đã thà nh tự u ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vậy.
   Các thầy nghe như vậy rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành. Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành xong, các thầy nên hỏi lại Tỳ-kheo ấy như vầy: “Thưa Hiền giả, đức Thế Tôn đã nói về bốn cách nói. Là bốn cách nào? Một là, thấy thì nói thấy. Hai là, nghe thì nói nghe. Ba là, hiểu thì nói hiểu. Bốn là, biết thì nói biết. Hiền giả biết như thế nào và thấy như thế nào về bốn cá ch nó i để biết được rằng mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch các lậu hoặc, tâm được giải thoát?”
   [0732c02] Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạm hạnh đã thành tựu ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vầy: “Thưa chư Hiền! Đối với cái được thấy thì nói thấy, tôi không coi trọng, không khinh rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo, biết đúng như thật: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’ Cũng vậy, đối với cái được nghe thì nói được nghe, hiểu thì nói hiểu, biết thì nói biết, tôi không coi trọng, không khinh rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo, biết đúng như thật: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’ Này chư Hiền! Tôi biết như vậy, thấy như vậy đối với bốn cách nói này nên biết được rằng, mình không còn chấp thủ, các lậu hoặc đã dứt sạch, tâm được giải thoát.” Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạm hạnh đã thành tựu ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vậy.
   Các thầy nghe như vậy rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành. Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, các thầy nên hỏi lại Tỳ-kheo ấy như vầy: “Thưa Hiền giả, đức Thế Tôn đã nói sáu xứ bên trong, gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ. Hiền giả biết như thế nào và thấy như thế nào về sáu xứ bên trong này, để biết được rằng mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch các phiền não lậu hoặc, tâm được giải thoát?”
   Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạm hạnh đã thành tựu ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vầy: “Thưa chư Hiền! Đối với mắt và sự nhận biết của mắt, đối với pháp được biết bởi sự nhận biết của mắt, tôi đều biết rõ. Sau khi biết hai pháp rồi, thưa chư Hiền, nếu con mắt và sự nhận biết của mắt, pháp được biết bởi sự nhận biết của mắt mà phát sanh ưa thích thì sự ưa thích đó đã trừ sạch. Do đã trừ sạch, không còn tham dục, tịch tịnh, vắng lặng, từ đó biết được mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch hết các lậu, tâm đã giải thoát. Cũng vậy, đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý và ý thức, pháp được nhận biết bởi ý thức, tôi đều biết rõ. Sau khi đã biết hai pháp, này chư Hiền, nếu ý và ý thức, pháp được biết bởi ý thức mà phát sanh ưa thích thì sự ưa thích đó đã được trừ sạch. Do đã trừ sạch, không còn tham dục, tịch tịnh, vắng lặng; từ đó biết được mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch hết các lậu, tâm được giải thoát. Chư Hiền! Tôi biết như vậy, thấy như vậy đối với sáu xứ bên trong này nên biết được mình không còn chấp thủ, các lậu hoặc đã dứt sạch, tâm được giải thoát.” Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạm hạnh đã thành tựu ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vậy.
   Các thầy nghe như vậy rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành. Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, các thầy nên hỏi lại Tỳ-kheo ấy như vầy: “Thưa Hiền giả! Đức Thế Tôn nói về sáu giới, gồm địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới và thức giới. Hiền giả biết như thế nào và thấy như thế nào về sáu giới này để biết được rằng mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch các phiền não lậu hoặc, tâm được giải thoát?”
   [0733a01] Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạ m hạ nh đã thà nh tự u ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vầy: “Thưa chư Hiền! Tôi không thấy địa giới là của tôi, tôi không thuộc về địa giới, địa giới chẳng phải là tôi. Nhưng vì ba thứ chấp thủ đó4 đều nương vào địa giới mà tồn tại cùng với sự trói buộc của những kiết sử,5 đối với những pháp ấy tôi đều đã được dứt sạch, vô dục, tịch diệt, tịch tĩnh và ngưng nghỉ, từ đó biết được rằng mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch hết các lậu, tâm được giải thoát. Cũng vậy, đối với thủy, hỏa, phong, không và thức giới chẳng phải là của tôi, tôi không thuộc về thức giới, thức giới chẳng phải là tôi. Nhưng vì ba thứ chấp thủ đó đều nương vào thức giới6 mà tồn tại cùng với sự trói buộc của những kiết sử, đối với những pháp ấy tôi đều đã được dứt sạch, vô dục, tịch diệt, tịch tĩnh và ngưng nghỉ, từ đó biết được rằng mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch hết các lậu, tâm được giải thoát. Thưa chư Hiền, tôi biết như vậy và thấy như vậy về sáu giới này nên biết được rằng mình không còn chấp thủ, các lậu hoặc đã dứt sạch, tâm được giải thoát.” Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạm hạnh đã thành tựu ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vậy.
   Các thầy nghe như vậy rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành. Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành, các thầy nên hỏi lại Tỳ-kheo ấy như vầy: “Hiền giả biết như thế nào và thấy như thế nào về tự thân cùng với thức7 này và các tướng bên ngoài,8 để biết rằng tất cả ngã, sự tạo tác của ngã và mạn sử9 đã bị đoạn trừ vĩnh viễn,10 đã nhổ sạch gốc rễ, về sau không còn sanh khởi nữa?”
   Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạm hạnh đã thành tựu ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vầy: “Thưa chư Hiền! Thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia học đạo đã chán ghét các nỗi khổ sanh, già, bệnh, chết, khóc than, khốn khổ, buồn lo, sầu muộn nên tôi muốn đoạn trừ khối khổ đau to lớn này. Thưa chư Hiền! Sau khi đã chán ghét, nhàm tởm, tôi suy nghĩ như vầy: ‘Đời sống gia đình quả là chật hẹp, là chốn ưu phiền. Đời sống người xuất gia học đạo thật rộng lớn bao la. Nay ta sống đời tại gia bị xiềng xích quấn chặt, không thể trọn đời tịnh tu Phạm hạnh. Vậy ta hãy xả bỏ các tài sản nhỏ và tài vật lớn, từ giã bà con thân tộc ít và thân tộc nhiều, rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.’
   Này chư Hiền! Sau đó, tôi xả bỏ tài sản nhỏ và tài vật lớn, từ giã thân tộc ít và thân tộc nhiều, rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình làm người học đạo. Này chư Hiền! Sau khi xuất gia học đạo, từ bỏ của cải họ hàng rồi, tôi thọ lãnh giới cấm mà Tỳ-kheo phải tu tập, giữ gìn Biệt giải thoát, lại cẩn thận thu nhiếp các oai nghi lễ tiết, thấy lỗi nhỏ nhặt cũng thường ôm lòng lo sợ, nhớ kỹ điều cốt yếu đã học.
   Thưa chư Hiền! Tôi từ bỏ sát sanh, đoạn dứt sát sanh, buông bỏ dao gậy, có tâm hổ thẹn, có tâm từ bi làm lợi ích khắp tất cả chúng sanh, cho đến loài côn trùng. Đối với việc sát sanh, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Tôi từ bỏ trộm cướp, đoạn dứt trộm cướp, chỉ lấy vật được cho, vui nhận những gì được cho, thường ưa bố thí, hoan hỷ không lẫn tiếc, không mong báo đáp. Đối với việc trộm cướp, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa phi Phạm hạnh, đoạn dứt phi Phạm hạnh, siêng tu Phạm hạnh, tinh cần tu diệu hạnh, thanh tịnh không uế, lìa dục, đoạn dâm. Đối với việc phi Phạm hạnh, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Thưa chư Hiền! Tôi xa lìa nói dối, đoạn dứt nói dối, chỉ nói lời chân thật, ưa thích chân thật, an trú trên sự thật không lay chuyển, nói lời hoàn toàn đáng tin cậy, không lừa gạt thế gian. Đối với việc nói dối, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Thưa chư Hiền! Tôi xa lìa nói hai chiều, đoạn dứt nói hai chiều, tu hạnh không nói lời hai chiều, không phá hoại người khác, không nghe chuyện từ người này đến nói lại với người kia để muốn phá hoại người này, không nghe chuyện người kia rồi nói lại với người này để muốn phá hoại người kia; người chia lìa thì khiến họ được hòa hợp, khi họ đã hòa hợp thì mong họ hoan hỷ, không kết bè đảng, không ưa bè đảng, không ca ngợi bè đảng. Đối với việc nói hai chiều, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   [0733b12] Chư Hiền! Tôi xa lìa nói lời thô ác, đoạn dứt nói lời thô ác, đoạn trừ tất cả những lời nói với giọng điệu thô bỉ, lớn tiếng, nghịch tai, người nghe không ưa mến, khiến họ khổ não không định tâm. Tôi chỉ nói những lời nói êm dịu, nhẹ nhàng, thuận tai, đi vào lòng người, làm cho người nghe vui vẻ, mến yêu, an vui, giọng nói rõ ràng, không làm người khác sợ hãi mà còn khiến họ được định tâm. Đối với việc nói lời thô ác, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa nói thêu dệt, đoạn dứt lời nói thêu dệt, nói đúng lúc, nói chân thật, nói về pháp, nói về nghĩa, nói về tịch tĩnh, ưa thích nói sự tịch tĩnh, hợp thời, hợp lý, khéo dạy, khéo khiển trách. Đối với việc nói lời thêu dệt, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc buôn bán, đoạn dứt việc buôn bán, từ bỏ việc cân đo và đong đếm cùng gom chứa hàng hóa, không chèn ép người, không mong cân đo gian dối, không vì lợi nhỏ mà lấn lướt, gian dối người. Đối với việc buôn bán, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc nhận góa phụ, thiếu nữ, đoạn dứt việc nhận góa phụ, thiếu nữ. Đối với việc nhận góa phụ, thiếu nữ, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc nhận tôi tớ, đoạn dứt việc nhận tôi tớ. Đối với việc nhận tôi tớ, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc nuôi voi, ngựa, bò, dê, đoạn dứt việc nuôi voi, ngựa, bò, dê. Đối với việc nuôi voi, ngựa, bò, dê, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc nuôi gà, heo, đoạn dứt việc nuôi gà, heo. Đối với việc nuôi gà, heo, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc nhận ruộng vườn, quán xá, đoạn trừ việc nhận ruộng vườn, quán xá. Đối với việc nhận ruộng vườn, quán xá, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc nhận lúa, mì, đậu sống, đoạn dứt việc nhận lúa, mì, đậu sống. Đối với việc nhận lúa, mì, đậu sống, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi từ bỏ uống rượu, đoạn dứt uống rượu. Đối với việc uống rượu, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa nằm giường cao rộng lớn, đoạn dứt nằm giường cao rộng lớn. Đối với việc nằm giường cao rộng lớn, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc đeo tràng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, tô son điểm phấn, đoạn dứt việc đeo tràng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, tô son điểm phấn. Đối với việc đeo tràng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, tô son điểm phấn, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc ca, múa, xướng, hát và đến xem nghe, đoạn dứt việc ca, múa, xướng, hát và đến xem nghe. Đối với việc ca, múa, xướng, hát và đến xem nghe, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa nhận vàng bạc, châu báu, đoạn dứt việc nhận vàng bạc, châu báu. Đối với việc nhận vàng bạc châu báu, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Chư Hiền! Tôi xa lìa việc ăn quá ngọ, đoạn dứt việc ăn quá ngọ, chỉ ăn một lần, không ăn đêm, học ăn đúng thời. Đối với việc ăn quá ngọ, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   [0733c13] Chư Hiền! Sau khi thành tựu các Thánh giới này rồi, tôi lại sống với hạnh biết đủ, áo vừa đủ che thân, ăn vừa nuôi mạng sống, đi đến đâu đều mang theo y bát, lúc từ biệt không luyến tiếc, giống như chim nhạn với đôi cánh bay liệng giữa bầu trời. Tôi cũng như vậy.
    Chư Hiền! Sau khi thành tựu các Thánh giới này và sống hết sức biết đủ rồi, tôi lại tu tập giữ gìn các căn, thường nghĩ đến việc đóng chặt các căn, lòng mong tỏ ngộ nên phải giữ gìn cá c căn và giữ tâm trong chánh niệm thì mới mong thành tựu. Thường xuyên tỉnh giác, mắt thấy sắc nhưng không vướng mắc vào tướng của sắc, không đắm vào vị của sắc, đó là vì tránh sự oán giận, tranh cãi. Giữ gìn nhãn căn là để trong tâm không sanh ra tham muốn, ưu não và các pháp ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn nhãn căn. Đối với tai, mũi, lưỡi và thân cũng như vậy. Ý nhận biết các pháp nhưng không vướng mắc vào tướng các pháp, cũng không bị đắm nhiễm vào vị của các pháp, đó là vì tránh sự oán giận, tranh cãi. Giữ gìn ý căn là để trong tâm không sanh tham muốn, ưu não và các pháp ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn ý căn.
   Chư Hiền! Sau khi đã thành tựu các Thánh giới, hết sức biết đủ và gìn giữ các căn, tôi lại tỉnh giác khi ra, lúc vào, khéo léo quán sát, phân biệt, co duỗi, cúi ngước, dung mạo khoan thai; khi khoác y Tăng-già-lê, khi đắp y ôm bát; khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói năng, im lặng, tôi đều tỉnh giác.
   Chư Hiền! Sau khi đã thành tựu các Thánh giới, hết sức biết đủ, gìn giữ các căn và thành tựu tỉnh giác khi ra lúc vào rồi, tôi lại sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi thanh vắng, hoặc bên gốc cây, hoặc nơi yên tĩnh, hoặc nơi hang núi, vách đá, đồng trống, lùm cây, hoặc đến trong rừng, hoặc ở bãi tha ma. Chư Hiền, sau khi ở chốn vắng vẻ, hoặc đến bên gốc cây, nơi yên tĩnh, tôi trải tọa cụ ngồi kiết-già, thân ngồi ngay thẳng, ý không loạn động, nhiếp niệm nội tâm, đoạn trừ tham lam, tâm không tranh đoạt, thấy tiền tài và các vật dụng sinh hoạt của người khác cũng không khởi tâm tham lam mong chúng thuộc về mình. Đối với việc tham lam, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Tôi cũng tu tập như vậy đối với sân hận, hôn trầm, loạn động, đoạn trừ nghi ngờ, dứt trừ mê hoặc, không còn do dự với các pháp thiện. Đối với nghi ngờ, mê hoặc, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Này chư Hiền! Tôi đã đoạn trừ sạch năm loại ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém. Tôi lìa bỏ dục, lìa bỏ các pháp ác, bất thiện,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú.
   Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu tâm định như vậy, thanh tịnh không nhơ uế, không phiền não, nhu hoà, khéo an trụ, được tâm không lay chuyển, rồi hướng đến chứng đắc Trí lậu tận thông.
   [0734a12] Này chư Hiền! Tôi biết đúng như thật: Đây là khổ, đây là nguyên nhân sanh khổ, đây là khổ diệt và đây là con đường đưa đến khổ diệt. Tôi biết đúng như thật đây là lậu, đây là nguyên nhân sanh ra lậu, đây là lậu đã đoạn diệt, đây là con đường đưa đến diệt lậu. Tôi biết như vậy, thấy như vậy nên tâm thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Khi đã giải thoát liền biết mình đã giải thoát và biết đúng như thật: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’
   Này chư Hiền! Tôi biết như vậy và thấy như vậy đối với bên trong thân cùng với thức này và các tướng bên ngoài, đồng thời biết rằng tất cả ngã, sự tạo tác của ngã và mạn sử đã bị đoạn trừ vĩnh viễn, đã nhổ sạch gốc rễ, về sau không còn sanh khởi nữa.” Tỳ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc và biết được Phạ m hạ nh đã thà nh tự u ấy nên đúng như pháp mà trả lời như vậy.
   Các thầy nghe những điều trên rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành. Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành xong, các thầy nên nói với Tỳ-kheo ấy như vầy: “Thưa Hiền giả! Khi Hiền giả vừa trả lời, chúng tôi rất hài lòng và hoan hỷ, nhưng chúng tôi mong muốn Hiền giả đã tăng tiến càng tăng tiến thêm, thành tựu trí tuệ và đối đáp một cách siêu xuất. Vì vậy, chúng tôi mới hỏi Hiền giả nhiều lần.”
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe đức Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
 

   Chú thích:

1 Hậu tụng (thứ năm). Quyển 49. Nguyên tác: Thuyết trí kinh 說智經 (T.01. 0026.187. 0732a21). Tham chiếu: M. 112, Chabbisodhana Sutta (Kinh sáu thanh tịnh).
2 Tham chiếu: M. 112: N’eva abhinanditabbaṃ nappatikkositabbaṃ (không hoan hỷ cũng không phản đối).
3 Nguyên tác: Ngũ thạnh ấm (五盛陰). Xem chú thích 8, kinh số 13, tr. 75.

4 Nguyên tác: Tam thọ (三受), chỉ cho 3 thái độ chấp thủ: Địa giới là của tôi, tôi thuộc về địa giới, địa giới chính là tôi.
5 Bản Tống, Nguyên, Minh và Thánh: Chư sử sở trước (諸使所著).

6 Bản Hán tỉnh lược “thủy giới, hỏa giới, phong giới và không giới” mà chỉ đề cập yếu tố cuối là “thức giới.”
7 Nguyên tác: Thân cộng hữu thức (身共有識, saviññāṇaka kāya): Thân tồn tại cùng với thức, thân là sở y cho thức hoạt động.
8 Tham chiếu: S. II. 252 và A. 3.32: Kathaṃ nu kho, bhante, jānato kathaṃ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na hontī’’ti? (Bạch Thế Tôn, do biết thế nào, do thấy thế nào, trong thân có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên?) HT. Thích Minh Châu dịch.
9 Mạn sử (慢使). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.142. 0043a20): Ngã mạn hệ trước sử (我慢繫著使). M. 112 gọi là “mạn tùy miên” (慢隨眠, mānānusayā).
10 Nguyên tác: Đoạn tri (斷知).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.