Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Câu-lâu, ngụ tại thị trấn Kiếm-ma-sắt-đàm, thuộc nước Câu-lâu.2
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Duyên theo3 tâm của kẻ khác mà không biết như thật về tâm của họ thì người đó không thể hiểu đức Thế Tôn có phải là bậc Giác Ngộ viên mãn4 hay không. Vậy làm sao để hiểu được Như Lai?
Lúc ấy, các Tỳ-kheo bạch đức Thế Tôn:
– Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý!
Đức Phật liền bảo:
– Này các Tỳ-kheo! Hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Ta sẽ phân biệt đầy đủ cho các thầy.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Thế Tôn dạy:
– Duyên theo tâm của kẻ khác mà không biết như thật về tâm của họ thì cần phải dựa vào hai pháp để tìm hiểu về Như Lai. Một là sắc được biết bởi mắt và hai là âm thanh được nghe bởi tai.
Những pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai có hay không có ở nơi Tôn giả ấy? Sau khi tìm hiểu thì biết rằng những pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai không có nơi Tôn giả ấy. Nếu ở đó không có, lại phải tìm hiểu thêm nữa.
Những pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai có hay không có ở nơi Tôn giả ấy? Sau khi tìm hiểu thì biết rằng những pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai không có nơi Tôn giả ấy. Nếu ở đó không có, phải tìm hiểu thêm nữa.
Những pháp hoàn toàn thanh tịnh được biết bởi mắt và tai có hay không có ở nơi Tôn giả ấy? Sau khi tìm hiểu thì biết rằng những pháp hoàn toàn thanh tịnh được biết bởi mắt và tai có nơi Tôn giả ấy. Nếu ở đó có, lại phải tìm hiểu thêm nữa.
Tôn giả ấy đã thực hành pháp ấy lâu dài hay chỉ thực hành tạm thời? Sau khi tìm hiểu thì biết rằng Tôn giả ấy thực hành pháp ấy lâu dài chứ không phải tạm thời. Nếu Tôn giả ấy thường thực hành, lại phải tìm hiểu thêm nữa.
Tôn giả ấy thể nhập vào thiền này là vì danh dự, vì lợi lộc hay không phải vì danh dự và lợi lộc? Sau khi tìm hiểu thì biết rằng Tôn giả ấy thể nhập vào thiền này không phải là tai hại.
Nếu có người nói như vầy: “Tôn giả ấy ưa thích tu hành chứ không phải vì sợ hãi, lìa dục chứ không phải đắm nhiễm dục, vì dục đã diệt sạch” thì nên hỏi người ấy rằng: “Này Hiền giả, với hành vi nào, với năng lực nào, với trí tuệ nào để Hiền giả có thể tự mình quán sát đúng như thật rằng: ‘Tôn giả ấy ưa thích tu hành chứ không phải vì sợ hãi, lìa dục chứ không phải đắm nhiễm dục, vì dục đã diệt sạch?’” Nếu người ấy trả lời như vầy: “Này Hiền giả! Tôi không biết được tâm trí của vị ấy, cũng không phải do sự kiện nào khác mà biết. Thế nhưng, vị Tôn giả ấy trong khi sống một mình, hoặc ở trong chúng, hoặc ở nơi hội họp, nơi có đức Thiện Thệ, hoặc nơi có bậc Tông chủ được giáo hóa bởi đức Thiện Thệ, hoặc trong lúc vị Hiền giả đó đi khất thực thì đích thân tôi được nghe từ chính Tôn giả ấy, không phải do tôi tự suy đoán, đã trực tiếp ghi nhận như vầy: ‘Tôi ưa thích tu hành chứ không phải vì sợ hãi, lìa dục chứ không phải đắm nhiễm dục, vì dục đã diệt sạch.’ Này Hiền giả, với hành vi như vậy, với năng lực như vậy, với trí tuệ như vậy khiến tự thân tôi quán sát đúng như thật rằng: ‘Tôn giả ấy ưa thích tu hành chứ không phải vì sợ hãi, lìa dục chứ không phải đắm nhiễm dục, vì dục đã diệt sạch.’”
[0731c06] Trong trường hợp này, lại cần phải hỏi vị ấy thêm nữa về pháp của Như Lai: “Nếu có pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai, có trường hợp nào mà pháp ấy bị diệt sạch không còn sót gì chăng? Nếu có pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, có trường hợp nào mà pháp ấy bị diệt sạch không còn sót gì chăng? Nếu có pháp hoàn toàn thanh tịnh, có trường hợp nào mà pháp ấy bị diệt sạch không còn gì chăng?”
Như Lai liền trả lời người ấy: “Nếu có pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp này bị diệt sạch hoàn toàn. Nếu có pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp này bị diệt sạch hoàn toàn. Nếu có pháp ô nhiễm được nhận biết bởi mắt và tai, Như Lai đã diệt sạch, đã đoạn trừ, đã nhổ tận gốc rễ, không bao giờ sanh khởi trở lại nữa. Nếu có pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, Như Lai đã diệt sạch, đã đoạn trừ, đã nhổ tận gốc rễ, không bao giờ sanh trở lại nữa. Nếu có pháp hoàn toàn thanh tịnh thì với pháp hoàn toàn thanh tịnh như vậy, cảnh giới như vậy, đạo Sa-môn như vậy, Như Lai như vậy mà thành tựu nơi giáo pháp này.”
Có vị đệ tử tịnh tín đến chiêm bái Như Lai, phụng trì Như Lai, nghe pháp từ Như Lai và được Như Lai giảng nói pháp cho, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo tịnh trừ pháp đen, pháp trắng.5 Như Lai nói pháp cho nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo tịnh trừ pháp đen, pháp trắng; sau khi nghe như vậy, như vậy rồi, vị ấy biết tường tận từng pháp một, chứng đắc rốt ráo đối với các pháp rồi khởi niềm tin tuyệt đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Giác Ngộ viên mãn.”
Ở đây, lại cần hỏi thêm vị ấy rằng: “Này Hiền giả! Do hành vi nào, do năng lực nào, do trí tuệ nào để Hiền giả có thể biết tường tận từng pháp một, chứng đắc rốt ráo đối với các pháp rồi khởi niềm tin tuyệt đối với Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Giác Ngộ viên mãn?’” Vị ấy sẽ trả lời như vầy: “Này Hiền giả, tôi không biết tâm trí của Thế Tôn, cũng không do sự kiện nào khác mà biết, nhưng từ nơi Thế Tôn mà tôi có niềm tin tuyệt đối như vậy. Thế Tôn nói pháp cho tôi nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo tịnh trừ pháp đen, pháp trắng. Này Hiền giả! Đúng như những điều mà Thế Tôn nói pháp cho tôi nghe và tôi đã nghe như vậy, như vậy. Như Lai nói pháp cho tôi nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo tịnh trừ pháp đen, pháp trắng; sau khi đã nghe như vậy, như vậy rồi, tôi biết tường tận từng pháp một, chứng đắc rốt ráo đối với các pháp rồi khởi niềm tin tuyệt đối với Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Giác Ngộ viên mãn.’ Này Hiền giả! Do hành vi như vậy, năng lực như vậy, trí tuệ như vậy, khiến tôi biết tường tận từng pháp một, chứng đắc rốt ráo đối với các pháp rồi khởi niềm tin tuyệt đối với Thế Tôn: ‘Thế Tôn là bậc Giác Ngộ viên mãn vậy.’”
Nếu ai có hành vi này, cùng năng lực này, tin sâu nơi Như Lai, khi gốc tin đã vững thì được gọi là niềm tin khế ứng với trí bất hoại vì thấy rõ gốc rễ, thế nên hàng Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên và các hạng loại khác trong thế gian không thể tước đoạt được. Hãy như vậy mà tìm hiểu về Như Lai. Hãy như vậy mà nhận biết đúng như thật về Như Lai.
Đức Phật dạy vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.6
Chú thích:
1 Nguyên tác: Cầu giải kinh 求解經 (T.01. 0026.186. 0731a29). Tham chiếu: M. 47, Vīmaṁsaka Sutta (Kinh tư sát).
2 Câu-lâu đô ấp (拘樓都邑). Xem chú thích 3, kinh số 10, tr. 55.
3 Nguyên tác: Duyên ư (緣於). M. 47: Paṭicca (nhân vì).
4 Nguyên tác: Chánh tận giác (正盡覺): Bậc giác ngộ hoàn toàn (Sammāsambuddhassa).
5 Nguyên tác: Thiện trừ hắc bạch (善除黑白). Tham chiếu: Tự hoan hỷ kinh 自歡喜經 (T.01. 0001.18. 0076c19): Như Lai đã dạy cho con các pháp cao xa, vi diệu, các pháp đen, pháp trắng, hữu duyên, vô duyên, minh và vô minh (如來為我說法, 轉高轉妙, 說黑, 白法, 緣, 無緣法, 照, 無照法…); D. 28, Sampasādanīya Sutta (Kinh tự hoan hỷ): “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu” (HT. Thích Minh Châu dịch).
6 Bản Hán, hết quyển 48.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.