Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Na-ma-đề[2] và ngụ tại tinh xá Kiền-kỳ.[3]
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y, ôm bát vào Na-ma-đề khất thực. Sau khi thọ thực xong, vào khoảng xế trưa, Ngài đi đến khu rừng Ngưu Giác Sa-la.
Lúc ấy, trong rừng Ngưu Giác Sa-la có ba Tỳ-kheo con nhà hào tộc đang ở cùng nhau, đó là Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề và Tôn giả Kim-tỳ-la.[4]
Ba Tôn giả ấy thỏa thuận như vầy: Nếu ai khất thực đi về trước thì trải giường, múc nước, mang chậu rửa chân ra, để sẵn ghế rửa chân, khăn lau chân, bình đựng nước và chậu rửa; nếu có thể dùng hết thức ăn đã khất thực được thì cứ dùng, nếu không dùng hết thì cất giữ cẩn thận thức ăn còn thừa; thọ thực xong, cất bình bát, rửa tay chân, vắt tọa cụ lên vai rồi vào nhà ngồi tĩnh tọa. Nếu ai khất thực về sau, nếu có thể dùng hết thức ăn thì cứ dùng, nếu không đủ thì lấy thức ăn của người trước để lại rồi đem dùng cho đủ, nếu còn thừa nữa thì đem đổ vào chỗ đất sạch hay trong nước không có trùng. Vị ấy lấy đồ đựng thức ăn của người kia rửa lau thật sạch rồi đem treo một bên, dọn dẹp giường chiếu, xếp ghế rửa chân, cất khăn lau chân, cất chậu rửa chân, bình nước và chậu rửa, quét dọn sạch sẽ nhà ăn, cất y bát, rửa tay chân, vắt tọa cụ lên vai rồi vào nhà tĩnh tọa.
Các Tôn giả tĩnh tọa cho đến chiều. Nếu ai đứng dậy trước mà thấy bình nước và chậu rửa chân không có nước thì phải đi lấy, nếu xách nổi thì xách, nếu xách không nổi thì vẫy tay báo hiệu cho một Tỳ-kheo khác, hai người cùng khiêng, mỗi người khiêng một bên, không nói chuyện với nhau, không hỏi gì nhau. Các vị ấy cứ năm ngày họp một lần, hoặc để nói pháp, hoặc yên lặng như bậc Thánh.
Bấy giờ, người giữ rừng thấy Thế Tôn từ xa đi đến thì đón lại và quở trách:
Sa-môn! Sa-môn! Chớ vào khu rừng này. Vì sao như vậy? Vì trong khu rừng này hiện có ba Tỳ-kheo con nhà hào tộc đang ở cùng nhau, đó là Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề và Tôn giả Kim-tỳ-la. Nếu thấy ông, chắc họ sẽ không hài lòng.
Đức Phật bảo:
Này người giữ rừng, nếu họ thấy Ta thì không có gì là không hài lòng.
Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật-đà từ xa trông thấy Thế Tôn đến, liền quở trách người giữ rừng:
Này người giữ rừng, chớ có ngăn cản đức Thế Tôn. Này người giữ rừng, chớ có quở trách đấng Thiện Thệ. Vì sao như vậy? Vì đó là Tôn sư của tôi đang đến, là đấng Thiện Thệ của tôi đang đến.
Rồi Tôn giả A-na-luật-đà ra rước Thế Tôn, đón lấy y bát. Tôn giả Nan-đề trải giường ngồi. Tôn giả Kim-tỳ-la đi lấy nước.
[0730a02] Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi rửa tay xong thì ngồi xuống chỗ đã dọn sẵn. Khi đã ngồi yên thì Ngài hỏi:
Này A-na-luật-đà, thầy có thường an ổn, không thiếu thốn chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà thưa:
Bạch Thế Tôn, con vẫn thường an ổn, không thiếu thốn gì.
Thế Tôn lại hỏi:
Này A-na-luật-đà, vì sao thầy được an ổn, không thiếu thốn gì?
Tôn giả A-na-luật-đà thưa:
Bạch Thế Tôn, con nghĩ rằng, con nhờ có thiện lợi, có công đức lớn, vì con được tu tập cùng với các vị đồng Phạm hạnh như vậy. Bạch Thế Tôn, con thường hướng đến các vị Phạm hạnh này để tu thân nghiệp từ hòa, trước mặt hay sau lưng cũng vậy; tu khẩu nghiệp từ hòa và ý nghiệp từ hòa, trước mặt cũng như sau lưng. Bạch Thế Tôn, con tự nghĩ: “Nay ta hãy tự xả bỏ tâm mình mà tùy theo tâm các Hiền giả này.” Rồi con xả bỏ tâm mình để tùy theo tâm các Hiền giả này. Con chưa từng có một điều gì mà không hài lòng. Bạch Thế Tôn, con nhờ như vậy mà thường được an ổn, không thiếu thốn gì.
Đức Phật hỏi Tôn giả Nan-đề, Tôn giả này cũng đáp như vậy. Đức Phật lại hỏi Tôn giả Kim-tỳ-la:
Thầy có thường an ổn, không thiếu thốn chăng?
Tôn giả Kim-tỳ-la bạch:
Bạch Thế Tôn, con thường an ổn, không thiếu thốn gì.
Đức Phật lại hỏi:
Này Kim-tỳ-la, vì sao thầy thường được an ổn, không thiếu thốn gì?
Tôn giả Kim-tỳ-la bạch:
Bạch Thế Tôn, con tự nghĩ, con nhờ có thiện lợi, có công đức lớn, vì con được tu tập cùng với các vị đồng Phạm hạnh như vậy. Bạch Thế Tôn, con thường hướng đến các vị Phạm hạnh này để tu thân nghiệp từ hòa, trước mặt cũng như sau lưng; tu khẩu nghiệp từ hòa và ý nghiệp từ hòa, trước mặt cũng như sau lưng. Bạch Thế Tôn, con tự nghĩ: “Nay ta hãy bỏ tâm mình mà tùy theo tâm các vị Hiền giả này.” Rồi con xả bỏ tâm mình mà tùy theo tâm các Hiền giả này. Con chưa từng có một điều gì mà không hài lòng. Bạch Thế Tôn, con nhờ như vậy mà thường được an ổn, không thiếu thốn gì.
Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Này A-na-luật-đà, các thầy thường cùng nhau hòa hợp, an ổn, không tranh chấp như vậy, cùng một tâm, cùng một thầy, cùng hòa hợp như nước với sữa. Thế nhưng, các thầy có chứng đắc pháp Thượng nhân để sống an lạc trong thiền định[5] chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà thưa:
Bạch Thế Tôn, quả như vậy, chúng con thường cùng hòa hợp an ổn, không tranh cãi nhau, cùng một tâm, cùng một thầy, cùng hòa hợp như nước với sữa, chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân để sống an lạc trong thiền định. Bạch Thế Tôn, chúng con ly dục, ly pháp ác bất thiện,... (cho đến) chứng đắc, thành tựu và an trú Thiền thứ tư. Bạch Thế Tôn, như vậy, chúng con thường cùng hòa hợp, an ổn, không tranh cãi nhau, cùng một tâm, cùng một thầy, cùng hòa hợp như nước với sữa, chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân để sống an lạc trong thiền định.
[0730b04] Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Này A-na-luật-đà, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân nào khác để sống an lạc trong định ấy không?
Tôn giả A-na-luật-đà bạch Phật:
Bạch Thế Tôn, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân khác nữa để đưa đến sống an lạc trong định ấy. Bạch Thế Tôn, tâm của con tương ưng với từ, thành tựu và an trú đầy khắp một phương; cứ như thế cho đến hai phương, ba phương, bốn phương, bốn hướng, phương trên, phương dưới, đầy khắp tất cả, tâm tương ưng với từ, không dính mắc, không thù oán, không tức giận, không hơn thua, rộng lớn vô cùng vô lượng, thành tựu và an trú đầy khắp tất cả thế gian. Cũng vậy với bi và hỷ. Lại nữa, tâm tương ưng với xả, không gây thù kết oán, không sân hận não hại, rộng lớn bao la, khéo tu vô lượng, thành tựu và an trú đầy khắp tất cả thế gian. Bạch Thế Tôn, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, lại còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân khác nữa để đưa đến sống an lạc trong định ấy.
Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! A-na-luật-đà, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân khác nữa để đưa đến sống an lạc trong định ấy chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà bạch Phật:
Bạch Thế Tôn, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, lại còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân khác nữa để đưa đến sống an lạc trong định ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt tất cả sắc tưởng,... (cho đến) chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu an trú trong đây. Bạch Thế Tôn, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, lại còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân khác nữa để đưa đến sống an lạc trong định ấy.
Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Này A-na-luật-đà, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân khác nữa để đưa đến sống an lạc trong định ấy chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà bạch Phật:
Bạch Thế Tôn, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, lại còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân khác nữa để đưa đến sống an lạc trong định ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con chứng đắc như ý túc, Thiên nhĩ trí, Tha tâm trí, Túc mạng trí, Sanh tử trí, các lậu đã sạch, được vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này tự biết tự ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu an trú và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Bạch Thế Tôn, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, lại còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân khác nữa để đưa đến sống an lạc trong định ấy.
[0730c04] Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Này A-na-luật-đà, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân khác nữa để đưa đến sống an lạc trong định ấy chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà bạch Phật:
Bạch Thế Tôn, bỏ qua sự an trú định này, hơn đây, vượt qua đây, không còn có sự chứng đắc pháp của bậc Thượng nhân nào khác nữa để sống an lạc trong định ấy.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nghĩ như vầy: “Chỗ an trú của những Tỳ-kheo con nhà hào tộc này thật là an ổn và hân hoan. Hôm nay, Ta hãy thuyết pháp cho họ nghe.” Nghĩ như vậy rồi, Thế Tôn liền thuyết pháp cho Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề và Tôn giả Kim-tỳ-la nghe, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ.[6] Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho họ hoan hỷ rồi Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật-đà, Nan-đề và Kim-tỳ-la đi theo đức Thế Tôn được một quãng rồi trở lại trú xứ. Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tỳ-la khen Tôn giả A-na-luật-đà rằng:
Lành thay! Lành thay! Tôn giả A-na-luật-đà, trước đây, chúng tôi chưa nghe Tôn giả A-na-luật-đà nói những nghĩa lý như vậy. Chúng tôi có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn, có oai thần lớn như vậy, nhưng Tôn giả A-na-luật-đà đã hết sức khen ngợi chúng tôi trước đức Thế Tôn.
Tôn giả A-na-luật-đà khen Tôn giả Nan-đề và Kim-tỳ-la rằng:
Lành thay! Lành thay! Này chư Tôn giả, tôi cũng chưa bao giờ nghe Tôn giả có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn, có oai thần lớn như vậy, nhưng một thời gian dài, với tâm tôi, tôi biết tâm của Tôn giả; Tôn giả có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn, có oai thần lớn, vì thế, đứng trước đức Thế Tôn, tôi mới trình bày như vậy.
Bấy giờ, có vị trời Trường Quỷ[7][8] hình dáng cực diệu, sáng chói rực rỡ. Lúc đêm gần tàn, trời vừa rạng sáng thì vị trời ấy đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và bạch Thế Tôn:
Bạch Đại Tiên Nhân, dân chúng nước Bạt-kỳ được lợi ích lớn, vì có Thế Tôn và ba Tỳ-kheo con nhà hào tộc là Tôn giả A-na-luật-đà, Nan-đề và Kimtỳ-la cư trú.
[0731a01] Các địa thần nghe vị trời Trường Quỷ nói, liền làm cho âm thanh ấy vang lớn thêm: “Bạch Đại Tiên Nhân, dân chúng nước Bạt-kỳ được lợi ích lớn, vì có Thế Tôn và ba Tỳ-kheo con nhà hào tộc là Tôn giả A-na-luật-đà, Nanđề và Kim-tỳ-la cư trú.”
Nghe âm thanh vang dội truyền đi bởi địa thần, các cõi trời như: Hư Không, Tứ Thiên Vương, Ba Mươi Ba, Diệm-ma, Đâu-suất-đà, Hóa Lạc và Tha Hóa Lạc, trong khoảnh khắc đều làm cho âm thanh ấy vang thấu đến cõi Phạm thiên: “Bạch Đại Tiên Nhân, dân chúng nước Bạt-kỳ được lợi ích lớn, vì có Thế Tôn và ba Tỳ-kheo con nhà hào tộc là Tôn giả A-na-luật-đà, Nan-đề và Kim-tỳ-la cư trú.”
Thế Tôn bảo:
Đúng vậy! Đúng vậy! Này Trường Quỷ, dân chúng nước Bạt-kỳ được lợi ích lớn, vì có Thế Tôn và ba Tỳ-kheo con nhà hào tộc là Tôn giả A-na-luật-đà, Nan-đề và Kim-tỳ-la cư trú.
Này Trường Quỷ, các địa thần nghe tiếng nói của ông rồi liền làm cho âm thanh ấy vang lớn ra: “Bạch Đại Tiên Nhân, dân chúng nước Bạt-kỳ được lợi ích lớn, vì có Thế Tôn và ba Tỳ-kheo con nhà hào tộc là Tôn giả A-na-luật-đà, Nan-đề và Kim-tỳ-la cư trú.” Nghe theo âm thanh vang dội truyền đi bởi địa thần, các cõi khác như: Hư Không, Tứ Thiên Vương, Ba Mươi Ba, Diệm-ma, Đâu-suất-đà, Hóa Lạc và Tha Hóa Lạc, trong khoảnh khắc cũng đã làm cho âm thanh ấy vang thấu đến Phạm thiên: “Bạch Đại Tiên Nhân, dân chúng nước Bạt-kỳ được lợi ích lớn, vì có Thế Tôn và ba Tỳ-kheo con nhà hào tộc là Tôn giả A-na-luật-đà, Nan-đề và Kim-tỳ-la cư trú.” Này Trường Quỷ, nếu ba gia đình hào tộc kia có ba người con hào tộc này, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo thì ba gia đình hào tộc ấy sẽ nhớ lại nhân duyên và công hạnh của ba người con, họ sẽ được nhiều lợi ích, được an ổn và hân hoan lâu dài. Nếu như thôn ấp nào hoặc chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Sa-môn, Phạm chí, từ người đến trời mà nhớ nghĩ đến nhân duyên và công hạnh của ba người con dòng dõi hào tộc ấy thì họ sẽ được nhiều lợi ích, được an ổn và hân hoan lâu dài. Này Trường Quỷ, vì ba người con dòng dõi hào tộc ấy có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn và có oai thần lớn như vậy.
Đức Phật dạy như vậy, ba người con dòng hào tộc và Trường Quỷ sau khi nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Nguyên tác: Ngưu Giác Sa-la lâm kinh, hạ 牛角娑羅林經,下 (T.01. 0026.185. 0729b27). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.24.8. 0626b11); M. 31, Cūlagosiṅga Sutta (Tiểu kinh rừng Sừng Bò); Mv. 10.48-52.
[2] Na-ma-đề-sấu (那摩提瘦). M. 31: Nadikesu (giữa những người Nadika). Tộc người này được đề cập trong D. 18.
[3] Nguyên tác: Kiền-kỳ tinh xá (犍祁精舍). M. 31: Giñjakāvasatha (một tinh xá bằng gạch).
[4] Tôn giả A-na-luật-đà (阿那律陀, Anuruddha), Tôn giả Nan-đề (難提, Nandiya) và Tôn giả Kimtỳ-la (金毘羅, Kimbila): Ba vị Tôn giả này cùng xuất gia khi Phật về thăm Ca-tỳ-la-vệ (迦毘羅衛, Kapilavatthu).
[5] Nguyên tác: Sai giáng an lạc trụ chỉ (差降安樂住止). M. 31: Phāsuvihāro (sống an lạc và thanh thản).
[6] Nguyên tác: Khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ (勸發,渴仰,成就歡喜). Xem chú thích
[7] , kinh số 9, tr. 48.
[8] Nguyên tác: Trường Quỷ thiên (長鬼天). M. 31: Dīgho parajano yakkho (vị dạ-xoa có thân dài kỳ lạ).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.