Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Bạt-kỳ, ngụ trong rừng Ngưu Giác Sa-la2 cùng với số đông các đệ tử lớn, là những Tỳ-kheo Thượng tôn tri thức như Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Ly-việt-đa và Tôn giả A-nan.[2] Các đệ tử lớn là những Tỳ-kheo Thượng tôn tri thức như vậy đã cùng du hóa tại Bạt-kỳ, ngụ trong rừng Ngưu Giác Sa-la, ở gần bên ngôi tịnh thất lợp bằng lá của Phật.
[0727a04] Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Tôn giả Đại Mụckiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên và Tôn giả A-naluật-đà đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất. Tôn giả A-nan từ xa trông thấy các bậc Thượng tôn đi qua, liền bạch:
Hiền giả Ly-việt-đa nên biết, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, các Tôn giả như Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên và Tôn giả A-na-luật-đà đi đến chỗ Xá-lợi-phất. Hiền giả Ly-việt-đa, bây giờ chúng ta có thể cùng với các bậc Thượng tôn đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, hoặc giả có thể nhân cơ hội này mà được nghe pháp ít nhiều từ Tôn giả Xá-lợi-phất.
Nhân đó, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Ly-việt-đa và Tôn giả A-nan cùng đi đến chỗ Xá-lợi-phất. Tôn giả Xá-lợi-phất từ xa thấy các bậc Thượng tôn đi đến, Tôn giả Xá-lợi-phất nhân thấy các bậc Thượng tôn ấy nên nói:
Kính chào Hiền giả A-nan, kính chào Hiền giả A-nan, kính chào Hiền giả A-nan! Thầy là thị giả của Thế Tôn, hiểu được ý Thế Tôn, thường được đức Thế Tôn và các bậc trí tuệ Phạm hạnh khen ngợi. Nay tôi có lời hỏi Hiền giả A-nan:
Thật đáng yêu thay, rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả A-nan, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?
Tôn giả A-nan đáp:
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu có Tỳ-kheo nào học rộng, nghe nhiều, nhớ mãi không quên, tích lũy sự nghe nhiều, với những pháp phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần cuối cũng vi diệu, có nghĩa có văn, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện Phạm hạnh, những pháp như vậy được vị ấy học rộng, nghe nhiều, tụng tập đến ngàn lần, chuyên tâm tư duy, quán sát, thấy rõ, hiểu sâu; vị ấy thuyết pháp cô đọng, lưu loát, hoàn toàn tương ưng với mục đích đoạn trừ các kiết sử. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la này.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi:
Hiền giả Ly-việt-đa! Hiền giả A-nan đã nói theo hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi xin hỏi Hiền giả Ly-việt-đa: Thật đáng yêu thay, rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả Ly-việt-đa, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?
[0727b03] Tôn giả Ly-việt-đa đáp:
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, nếu có Tỳ-kheo nào ưa tọa thiền, nội tâm dừng lắng,[3] không bỏ tọa thiền, thành tựu quán tưởng, thường thích thanh vắng, ưa chỗ yên tĩnh, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi:
Hiền giả A-na-luật-đà! Hiền giả Ly-việt-đa đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi xin hỏi Hiền giả A-na-luật-đà: Thật đáng yêu thay, rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả A-na-luật-đà, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?
Tôn giả A-na-luật-đà đáp:
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, nếu có Tỳ-kheo đạt được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn; ở trong một ngàn thế giới, chỉ với một ít nỗ lực,5 nhưng vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lợi-phất, ví như người có mắt ở trên lầu cao nhìn xuống khu đất trống có một ngàn gò nổng, chỉ với một ít nỗ lực, nhưng vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lợi-phất, cũng vậy, nếu Tỳkheo có được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn; ở trong một ngàn thế giới, chỉ với một ít nỗ lực, nhưng vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi:
Hiền giả Ca-chiên-diên! Hiền giả A-na-luật-đà đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi xin hỏi Hiền giả Ca-chiên-diên: Thật đáng yêu thay, rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả Ca-chiên-diên, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?
Tôn giả Ca-chiên-diên đáp:
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, ví như hai Tỳ-kheo pháp sư cùng bàn luận về nghĩa lý sâu xa của A-tỳ-đàm,[4] những điều được hỏi đều được thấu hiểu tường tận, những lời giải đáp thì thông suốt, sự thuyết pháp thì lưu loát. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi:
Tôn giả Đại Ca-diếp! Hiền giả Ca-chiên-diên đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi xin hỏi Tôn giả Đại Ca-diếp: Thật đáng yêu thay, rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?
[0727c01] Tôn giả Đại Ca-diếp đáp:
Thưa Hiền giả Xá-lợi-phất, nếu có Tỳ-kheo tự mình ở nơi thanh vắng7 và khen ngợi hạnh ở nơi thanh vắng, tự mình ít ham muốn và khen ngợi hạnh ít ham muốn, tự mình biết đủ và khen ngợi hạnh biết đủ, thích sống một mình với hạnh xa lìa và khen ngợi việc thích sống một mình với hạnh xa lìa, tự mình tu hành tinh tấn và khen ngợi sự tu hành tinh tấn, tự mình thiết lập chánh niệm tỉnh giác và khen ngợi sự thiết lập chánh niệm tỉnh giác, tự mình đắc định và khen ngợi sự đắc định, tự mình có trí tuệ và khen ngợi sự có trí tuệ, tự mình các lậu đã sạch và khen ngợi các lậu đã sạch, tự mình mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ[5][6] và khen ngợi hạnh mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ. Thưa Hiền giả Xá-lợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi:
Hiền giả Mục-kiền-liên! Tôn giả Đại Ca-diếp đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi xin hỏi Hiền giả Mục-kiền-liên: Thật đáng yêu thay, rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả Mục-kiền-liên, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đáp:
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, như có Tỳ-kheo nào có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn, có oai thần lớn, được tự tại vô lượng như ý túc. Vị ấy hiển bày vô lượng như ý túc, từ một thân biến thành nhiều thân, từ nhiều thân biến thành một thân, muốn một thân thì trụ một thân, có thể biết, có thể thấy,[7] xuyên qua vách đá như hư không, không bị ngăn ngại, ra vào trong đất dễ như trong nước, đi trên nước như đi trên đất mà không bị chìm, bay lên không trung, ngồi kiết-già như loài chim; với mặt trăng và mặt trời này vốn có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn, có oai thần lớn mà vị ấy có thể đưa tay nắm bắt, thân cao đến trời Phạm Thiên. Tôn giả Xá-lợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên hỏi:
Tôn giả Xá-lợi-phất, tôi và các bậc Thượng tôn mỗi người đã tự nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất: Thật đáng yêu thay, rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả Xá-lợi-phất, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:
Hiền giả Mục-kiền-liên, nếu có Tỳ-kheo tùy ý vận tâm tự tại chứ không bị lệ thuộc tâm, vị ấy nếu muốn an trú chánh định vào lúc nào thì đều được tùy ý, muốn thành tựu[8] vào buổi sáng thì vị ấy liền an trú chánh định và thành tựu vào buổi sáng, vị ấy nếu muốn an trú chánh định vào buổi trưa hay buổi chiều thì vị ấy liền an trú chánh định và thành tựu vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Mục-kiền-liên, ví như vua quan có nhiều y phục màu sắc rực rỡ, nếu họ muốn mặc loại nào vào buổi sáng, liền lấy mặc vào. Nếu họ muốn mặc loại nào vào buổi trưa hay buổi chiều, họ liền lấy mặc vào. Hiền giả Mục-kiền-liên, cũng vậy, nếu có Tỳ-kheo tùy ý vận tâm tự tại chứ không bị lệ thuộc tâm, vị ấy nếu muốn an trú chánh định vào lúc nào thì đều được tùy ý, muốn thành tựu vào buổi sáng thì vị ấy liền an trú chánh định và thành tựu vào buổi sáng; vị ấy nếu muốn an trú chánh định vào buổi trưa hay buổi chiều thì vị ấy liền an trú chánh định và thành tựu vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Mục-kiền-liên, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.
[0728a11] Tôn giả Xá-lợi-phất bảo:
Hiền giả Mục-kiền-liên, tôi và chư Hiền mỗi người đã nói theo sự hiểu biết của mình. Hiền giả Mục-kiền-liên, chúng ta hãy cùng với chư Hiền đi đến chỗ Phật để biết rằng, trong những điều vừa thảo luận ấy, vị nào đã nói đúng.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Cadiếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Ly-việt-đa và Tôn giả A-nan, tất cả cùng đi đến chỗ Phật. Các Tôn giả đều cúi đầu lễ sát chân Phật rồi ngồi sang một bên. Tôn giả A-nan cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật rồi đứng sang một bên. Tôn giả Xá-lợi-phất bạch:
Bạch Thế Tôn, hôm nay vào buổi sáng sớm, có Hiền giả Mục-kiền-liên, Hiền giả Đại Ca-diếp, Hiền giả Đại Ca-chiên-diên, Hiền giả A-na-luật-đà, Hiền giả Ly-việt-đa và Hiền giả A-nan, tất cả đều đi đến chỗ con. Con thấy chư Hiền đến, nhân đó mới nói rằng: “Kính chào Hiền giả A-nan,[9] Thầy là thị giả của Thế Tôn, hiểu được ý Thế Tôn, thường được đức Thế Tôn và các bậc trí tuệ Phạm hạnh khen ngợi.” Lúc ấy, con hỏi Hiền giả A-nan rằng: “Thật đáng yêu thay, rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả A-nan, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu giác Sa-la?” Hiền giả A-nan liền trả lời con rằng: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu có Tỳ-kheo nào học rộng, nghe nhiều, nhớ mãi không quên, tích lũy sự nghe nhiều, với những pháp phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần cuối cũng vi diệu, có nghĩa có văn, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện Phạm hạnh, những pháp như vậy được vị ấy học rộng, nghe nhiều, tụng tập đến ngàn lần, chuyên ý tư duy, quán sát, thấy rõ, hiểu sâu; vị ấy thuyết pháp gọn gàng, lưu loát, hoàn toàn tương ưng với mục đích đoạn trừ các kiết sử. Tôn giả Xá-lợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la này.” [0728b04] Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Xá-lợi-phất, đúng như lời Tỳ-kheo A-nan đã nói. Vì sao? Vì Tỳ-kheo A-nan đã thành tựu đa văn.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch:
Bạch Thế tôn, Hiền giả A-nan nói như vậy rồi, con lại hỏi Hiền giả Ly-việt-đa: “Hiền giả A-nan đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi hỏi Hiền giả Ly-việt-đa: Thật đáng yêu thay, rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả Ly-việt-đa, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sala?” Hiền giả Ly-việt-đa liền trả lời con rằng: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, nếu có Tỳ-kheo nào ưa tọa thiền, nội tâm dừng lắng, không bỏ tọa thiền, thành tựu quán tưởng, thường thích thanh vắng, ưa chỗ yên tĩnh; thưa Tôn giả Xá-lợiphất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.” Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Xá-lợi-phất, đúng như lời Tỳ-kheo Ly-việt-đa đã nói. Vì sao như vậy? Vì Tỳ-kheo Ly-việt-đa thích tọa thiền.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch:
Bạch Thế Tôn, Hiền giả Ly-việt-đa nói như vậy rồi, con lại hỏi Hiền giả A-na-luật-đà: “Hiền giả Ly-việt-đa đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi hỏi Hiền giả A-na-luật-đà: Thật đáng yêu thay khu rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát ví như hoa trời. Hiền giả A-na-luật-đà, những Tỳ-kheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.” Hiền giả A-na-luật-đà liền trả lời con rằng: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, nếu có Tỳ-kheo đạt được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn, ở trong một ngàn thế giới, chỉ với một ít nỗ lực, nhưng trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lợi-phất, ví như người có mắt ở trên lầu cao nhìn xuống khu đất trống, có một ngàn gò nổng, chỉ với một ít nỗ lực, nhưng chốc lát cũng có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lợi-phất, cũng vậy, nếu Tỳ-kheo có được thiên nhãn, thành tựu thiên nhãn, ở trong ngàn thế giới, chỉ với một ít nỗ lực, nhưng chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.”
[0728c01] Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Xá-lợi-phất, đúng như lời Tỳ-kheo A-na-luật-đà đã nói. Vì sao như vậy? Vì Tỳ-kheo A-na-luật-đà đã thành tựu thiên nhãn.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch:
Bạch Thế Tôn, Hiền giả A-na-luật-đà nói như vậy rồi, con lại hỏi Hiền giả Đại Ca-chiên-diên: “Hiền giả A-na-luật-đà đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi hỏi Hiền giả Đại Ca-chiên-diên: Thật đáng yêu thay khu rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời. Hiền giả Đại Ca-chiên-diên, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?” Hiền giả Đại Ca-chiên-diên liền trả lời con rằng: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, ví như hai Tỳ-kheo pháp sư cùng bàn luận về nghĩa lý sâu xa của A-tỳ-đàm, những điều được hỏi đều được thấu hiểu tường tận, những lời giải đáp thì thông suốt, sự thuyết pháp thì lưu loát. Tôn giả Xálợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.” Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Xá-lợi-phất, đúng như lời Tỳ-kheo Đại Ca-chiên-diên đã nói. Vì sao như vậy? Vì Tỳ-kheo Đại Ca-chiên-diên là phân biệt Pháp sư.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch:
Bạch Thế Tôn, Hiền giả Đại Ca-chiên-diên nói như vậy rồi, con lại hỏi Tôn giả Đại Ca-diếp: “Hiền giả Đại Ca-chiên-diên đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi hỏi Tôn giả Đại Ca-diếp: Thật đáng yêu thay khu rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời. Tôn giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?” Tôn giả Đại Ca-diếp trả lời con rằng: “Hiền giả Xá-lợiphất, nếu có Tỳ-kheo tự mình ở nơi thanh vắng và khen ngợi hạnh ở nơi thanh vắng, tự mình ít ham muốn và khen ngợi hạnh ít ham muốn, tự mình biết đủ và khen ngợi hạnh biết đủ, thích sống một mình với hạnh xa lìa và khen ngợi việc thích sống một mình với hạnh xa lìa, tự mình tu hành tinh tấn và khen ngợi sự tu hành tinh tấn, tự mình thiết lập chánh niệm tỉnh giác và khen ngợi sự thiết lập chánh niệm tỉnh giác, tự mình đắc định và khen ngợi sự đắc định, tự mình có trí tuệ và khen ngợi sự có trí tuệ, tự mình các lậu đã sạch và khen ngợi các lậu đã sạch, tự mình mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ và khen ngợi hạnh mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ. Hiền giả Xá-lợi-phất, vị
Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.” Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Xá-lợi-phất, đúng như lời Tỳ-kheo Ca-diếp đã nói. Vì sao như vậy? Vì Tỳ-kheo Đại Ca-diếp thường tu hạnh vô sự.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch:
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Đại Ca-diếp nói như vậy rồi, con lại hỏi: “Hiền giả Tôn giả Đại Ca-diếp đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi hỏi Hiền giả Đại Mục-kiền-liên: Thật đáng yêu thay khu rừng Ngưu Giác Sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời. Hiền giả Đại Mục-kiền-liên, những hạng Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?” Hiền giả Đại Mục-kiền-liên liền trả lời con rằng: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, nếu Tỳ-kheo có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn, có oai thần lớn, được tự tại vô lượng như ý túc. Vị ấy thực hiện vô lượng như ý túc, từ một thân biến thành nhiều thân, từ nhiều thân hợp thành một thân, muốn một thì trụ một, có thể biết, có thể thấy, có thể xuyên qua vách đá như hư không, không ngăn ngại, ra vào trong đất dễ như trong nước, đi trên nước như đi trên đất mà không bị chìm, bay lên không trung, ngồi kiết-già như loài chim; với mặt trời và mặt trăng này vốn có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn, vốn có oai thần lớn mà vị ấy có thể đưa tay nắm bắt vì thân cao đến cõi trời Phạm Thiên. Tôn giả Xá-lợi-phất, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng
Ngưu Giác Sa-la.”
Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Xá-lợi-phất, đúng như lời Tỳ-kheo Đại Mục-kiền-liên đã nói. Vì sao như vậy? Vì Tỳ-kheo Đại Mục-kiền-liên có như ý túc lớn.
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai, chắp tay bạch Phật:
Bạch Thế Tôn, con và các Tôn giả nói như vậy rồi, liền thưa Tôn giả Xálợi-phất rằng: “Tôn giả Xá-lợi-phất, tôi và các Tôn giả, mỗi người đã tự trình bày theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ, tôi xin hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất: Thật đáng yêu thay khu rừng Ngưu Giác Sa-la, ban đêm có trăng sáng, các cây Sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời. Tôn giả Xá-lợi-phất, những hạng Tỳkheo nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la?” Tôn giả Xá-lợi-phất liền trả lời con rằng: “Hiền giả Đại Mục-kiền-liên, nếu có Tỳ-kheo vận tâm tự tại chứ không phải lệ thuộc tâm. Nếu muốn an trú định nào thì vị ấy vào buổi sáng an trú định ấy. Nếu muốn an trú định nào vào buổi trưa hay buổi chiều, tức thì vị ấy an trụ định ấy vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Đại Mục-kiềnliên, ví như y phục của vua quan rất nhiều màu sắc rực rỡ, nếu họ muốn mặc loại nào vào buổi sáng, liền lấy mặc vào. Nếu họ muốn mặc loại nào vào buổi trưa hay buổi chiều thì liền lấy mặc. Hiền giả Đại Mục-kiền-liên, cũng vậy, Tỳkheo vận tâm tự tại, chứ không phải lệ thuộc tâm. Nếu muốn an trú định nào, vị ấy vào buổi sáng an trú định ấy. Nếu muốn an trú định vào buổi trưa hay buổi chiều, tức thì vị ấy an trụ định ấy vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Đại
Mục-kiền-liên, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.” Thế Tôn khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Đại Mục-kiền-liên, đúng như lời Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã nói. Vì sao như vậy? Vì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất vận tâm tự tại.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai, chắp tay bạch Phật:
Bạch Thế Tôn, con và chư Hiền nói như vậy rồi, con bảo rằng: “Hiền giả Đại Mục-kiền-liên, tôi và chư Hiền mỗi người đã tự trình bày theo sự hiểu biết của mình. Hiền giả Đại Mục-kiền-liên, chúng ta hãy cùng với chư Hiền đi đến chỗ đức Phật, để biết trong những điều vừa tranh luận ấy, vị nào nói đúng.” Bạch Thế Tôn, trong chúng con ai nói đúng?
Thế Tôn đáp:
Này Xá-lợi-phất, tất cả đều nói đúng. Vì sao như vậy? Vì các pháp đó chính là những điều Ta đã nói. Xá-lợi-phất, hãy nghe Như Lai nói. Vị Tỳ-kheo như vầy sẽ làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la. Này Xá-lợi-phất! Nếu có Tỳ-kheo tùy theo chỗ ở hoặc thành quách, thôn ấp, khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, vị ấy đắp y ôm bát vào thôn khất thực, khéo giữ gìn thân, khéo phòng hộ các căn, khéo giữ tâm niệm. Sau khi khất thực xong, vào lúc xế trưa, vị ấy thu xếp y bát, rửa chân tay, vắt tọa cụ lên vai, đến nơi vắng vẻ, hoặc bên gốc cây hay chỗ thanh vắng, trải tọa cụ ngồi kiết-già, ngồi cho đến khi chứng lậu tận mới xả kiết-già. Vị ấy không xả kiết-già cho đến khi nào chứng được lậu tận. Này Xá-lợi-phất, Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu Giác Sa-la.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Nguyên tác: Ngưu Giác Sa-la lâm kinh, thượng 牛角娑羅林經, 上 (T.01. 0026.184. 0726c25). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.37.3. 0710c05); M. 32, Mahāgosinga Sutta (Ðại kinh rừng Sừng Bò). 2 Nguyên tác: Ngưu Giác Sa-la lâm (牛角娑羅林, Gosiṅgasālavanadāya), khu rừng ở gần Nādika, xứ
Vajjī.
[2] Các vị đệ tử lớn như: Tôn giả Xá-lê tử (舍梨子, Sāriputta), Tôn giả Đại Mục-kiền-liên (大目揵連, Mahāmoggalāna), Tôn giả Đại Ca-diếp (大迦葉, Mahākassapa), Tôn giả Đại Ca-chiên-diên (大迦旃延, Mahākaccayāna), Tôn giả A-na-luật-đà (阿那律陀, Anuruddha), Tôn giả Ly-việt-đa (離越哆, Revata), Tôn giả A-nan (阿難, Ānanda).
[3] Nguyên tác: Nội hành chỉ (內行止). M. 32: Ajjhattaṃ cetosamathānuyutto (nội tâm thực hành tịnh chỉ). 5 Nguyên tác: Thiểu phương tiện (少方便): Một sự cố gắng ít ỏi.
[4] A-tỳ-đàm (阿毗曇, Abhidhamma) còn gọi là A-tỳ-đạt-ma (阿毗達磨), dịch nghĩa là Luận tạng, Thắng pháp (勝法) hoặc Vô tỷ pháp (無比法), tên của tạng thứ 3 trong Tam tạng. 7 Vô sự (事處, araññaka) chỉ cho vị Tỳ-kheo tu theo hạnh sống trong rừng.
[5] Nguyên tác: Khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ (勸發, 渴仰, 成就歡喜). Xem chú thích
[6] , kinh số 9, tr. 48.
[7] Nguyên tác: Nhất tắc trụ nhất, hữu tri hữu kiến (一則住一, 有知有見). Tham chiếu: M. 32: Āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ (hoặc ẩn hoặc hiện).
[8] Nguyên tác: Trung tiền du hành (中前遊行). Theo Hán dịch A-hàm kinh từ điển (漢譯阿含經辭典), nghĩa là thành tựu vào buổi sáng (中午前達成).
[9] Trong nguyên tác, “Kính chào Hiền giả A-nan” 3 lần.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.