Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng với đại chúng Tỳ-kheo du hóa nước Ương-kỳ rồi đi đến Xóm Ngựa, ngụ trong tinh xá Mã Lâm.
Bấy giờ, Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:
Người ta thấy các thầy Sa-môn là những Sa-môn. Nhưng nếu có ai hỏi các thầy có đúng là Sa-môn không thì các thầy có tự xưng mình là Sa-môn chăng?
Các Tỳ-kheo bạch:
Thưa có, bạch Thế Tôn!
Đức Phật lại nói:
Thế nên, chính vì lẽ đó, chính vì là Sa-môn, các thầy phải tu tập theo con đường thích hợp của bậc Sa-môn,[2] chứ đừng là phi Sa-môn. Sau khi đã tu tập theo con đường thích hợp của bậc Sa-môn, bấy giờ các thầy mới là Sa-môn chân chánh, không phải Sa-môn hư danh. Nếu có thọ nhận y phục, ẩm thực, giường nệm, thuốc thang và các vật dụng sinh hoạt khác thì những người cúng dường cho các thầy mới được phước lớn, được kết quả lớn, được công đức lớn và được quả báo to lớn. Các thầy nên học như vậy.
Thế nào gọi là không phải con đường thích hợp của bậc Sa-môn, không phải bậc Sa-môn? Nếu có tham lam lại không từ bỏ tham lam, có nóng giận lại không từ bỏ nóng giận, có sân hận lại không từ bỏ sân hận,[3] có che giấu lại không từ bỏ che giấu,[4] có oán kết lại không từ bỏ oán kết,[5] có bỏn xẻn lại không từ bỏ bỏn xẻn, có ganh ghét lại không từ bỏ ganh ghét, có dua nịnh lại không từ bỏ dua nịnh, có lường gạt lại không từ bỏ lường gạt, có không biết tự thẹn lại không từ bỏ không biết tự thẹn, có không biết xấu hổ lại không từ bỏ không biết xấu hổ, có ham muốn bất chánh lại không từ bỏ ham muốn bất chánh, có tà kiến lại không từ bỏ tà kiến. Như vậy, những thứ làm cho Sa-môn ô uế, Sa-môn dua nịnh, Sa-môn dối lừa, Sa-môn bất chánh, dẫn họ đến cõi ác vẫn chưa được đoạn tận. Sự tu học đó không phải là con đường thích hợp của bậc Sa-môn, không phải bậc Sa-môn.
[0726a06] Cũng như cái búa[6] mới rèn rất bén, đầu có mũi nhọn, được bọc trong y Tăng-già-lê. Ta nói những kẻ ngu si học theo con đường của hạng Samôn vừa nêu cũng như vậy. Nghĩa là, có tham lam lại không từ bỏ tham lam, có nóng giận lại không từ bỏ nóng giận, có sân hận lại không từ bỏ sân hận, có che giấu lại không từ bỏ sự che giấu, có oán kết lại không từ bỏ oán kết, có bỏn xẻn lại không từ bỏ bỏn xẻn, có ganh ghét lại không từ bỏ ganh ghét, có dua nịnh lại không từ bỏ dua nịnh, có không biết tự thẹn lại không từ bỏ không biết tự thẹn, có không biết xấu hổ lại không từ bỏ không biết xấu hổ, có tham muốn bất chánh lại không từ bỏ tham muốn bất chánh, có tà kiến lại không từ bỏ tà kiến. Thế nên, dù người đó có khoác y Tăng-già-lê nhưng Ta cũng không gọi đó là Sa-môn.
Nếu ai khoác y Tăng-già-lê mà khi có tham lam thì dứt trừ tham lam, khi có giận dữ thì dứt trừ giận dữ, khi có sân hận thì dứt trừ sân hận, khi có che giấu thì dứt trừ che giấu, khi có oán kết thì dứt trừ oán kết, khi có bỏn xẻn thì dứt trừ bỏn xẻn, khi có ganh ghét thì dứt trừ ganh ghét, khi có dua nịnh thì dứt trừ dua nịnh, khi có không biết tự thẹn thì dứt trừ không biết tự thẹn, khi có không biết xấu hổ thì dứt trừ không biết xấu hổ, khi có tham muốn bất chánh thì dứt trừ tham muốn bất chánh, khi có tà kiến thì dứt trừ tà kiến, bà con hay bạn bè của người ấy đến nói với họ rằng: “Này Hiền nhân, ông hãy học cách khoác y Tăng-già-lê. Này Hiền nhân, nếu ông học cách khoác y Tăng-già-lê, khi có tham lam thì sẽ dứt trừ tham lam, khi có giận dữ thì sẽ dứt trừ giận dữ, khi có sân hận thì sẽ dứt trừ sân hận, khi có che giấu thì sẽ dứt trừ che giấu, khi có oán kết thì sẽ dứt trừ oán kết, khi có bỏn xẻn thì sẽ dứt trừ bỏn xẻn, khi có ganh ghét thì sẽ dứt trừ ganh ghét, khi có dua nịnh thì sẽ dứt trừ dua nịnh, khi có không biết tự thẹn thì dứt trừ không biết tự thẹn, khi có không biết xấu hổ thì dứt trừ không biết xấu hổ, khi có tham muốn bất chánh thì sẽ dứt trừ tham muốn bất chánh, khi có tà kiến thì sẽ dứt trừ tà kiến.”
Nhưng Như Lai thấy rằng, có người tuy khoác y Tăng-già-lê nhưng vẫn có tham lam, có giận dữ, có sân hận, có che giấu, có oán kết, có bỏn xẻn, có ganh ghét, có dua nịnh, có lường gạt, có không biết tự thẹn, có không biết xấu hổ, có tham muốn bất chánh và có tà kiến. Thế nên, dù người đó có khoác y Tăng-giàlê nhưng Ta cũng không gọi đó là Sa-môn.
Cũng như vậy, những người lõa hình, bện tóc, không ngồi, ăn một bữa, thường vẩy nước, thọ trì nước, tùy thuộc vào nghi lễ tắm rửa... Ta nói những người ấy không phải là Sa-môn. Bởi nếu người nào thọ trì nước mà khi có tham thì dứt trừ tham, khi có giận dữ thì dứt trừ giận dữ, khi có sân hận thì dứt trừ sân hận, khi có che giấu thì dứt trừ che giấu, khi có oán kết thì dứt trừ oán kết, khi có bỏn xẻn thì dứt trừ bỏn xẻn, khi có ganh ghét thì dứt trừ ganh ghét, khi có dua nịnh thì dứt trừ dua nịnh, khi có không biết tự thẹn thì dứt trừ không biết tự thẹn, khi có không biết xấu hổ dứt thì trừ không biết xấu hổ, khi có tham muốn bất chánh thì dứt trừ tham muốn bất chánh, khi có tà kiến thì dứt trừ tà kiến, những bà con hay bạn bè của người ấy đến nói với họ rằng: “Này Hiền nhân, ông hãy thọ trì nước. Thọ trì nước rồi, khi có tham sẽ dứt trừ tham, khi có giận dữ sẽ dứt trừ giận dữ, khi có sân hận sẽ dứt trừ sân hận, khi có che giấu sẽ dứt trừ che giấu, khi có oán kết sẽ dứt trừ oán kết, khi có bỏn xẻn sẽ dứt trừ bỏn xẻn, khi có ganh ghét sẽ dứt trừ ganh ghét, khi có dua nịnh sẽ dứt trừ dua nịnh, khi có không biết tự thẹn sẽ dứt trừ không biết tự thẹn, khi có không biết xấu hổ sẽ dứt trừ không biết xấu hổ, khi có tham muốn bất chánh sẽ dứt trừ tham muốn bất chánh, khi có tà kiến sẽ dứt trừ tà kiến.”
Nhưng Ta thấy rằng, những người thọ trì nước vẫn cứ tham lam, giận dữ, sân hận, che giấu, oán kết, bỏn xẻn, ganh ghét, dua nịnh, không biết tự thẹn, không biết xấu hổ, tham muốn bất chánh và tà kiến. Cho nên, những người thọ trì nước như vậy Ta không gọi họ là Sa-môn. Đó không phải là con đường thích hợp của bậc Sa-môn, không phải là bậc Sa-môn.
[0726b12] Thế nào gọi là con đường thích hợp của bậc của Sa-môn, chẳng phải phi Sa-môn? Đó là khi có tham liền dứt trừ tham, khi có giận dữ liền dứt trừ giận dữ, khi có sân hận liền dứt trừ sân hận, khi có che giấu liền dứt trừ che giấu, khi có oán kết liền dứt trừ oán kết, khi có bỏn xẻn liền dứt trừ bỏn xẻn, khi có ganh ghét liền dứt trừ ganh ghét, khi có dua nịnh liền dứt trừ dua nịnh, khi có không biết tự thẹn liền dứt trừ không biết tự thẹn, khi có không biết xấu hổ liền dứt trừ không biết xấu hổ, khi có tham muốn bất chánh liền dứt trừ tham muốn bất chánh, khi có tà kiến liền dứt trừ tà kiến. Như vậy, những thứ làm cho Sa-môn ô uế, Sa-môn dua nịnh, Sa-môn trá ngụy, Sa-môn tà vạy, dẫn họ đến nẻo ác đều được đoạn tận. Sự tu học đó là con đường thích hợp của bậc Sa-môn, chẳng phải phi Sa-môn. Đó gọi là con đường thích hợp của bậc Sa-môn, chẳng phải phi Sa-môn.
Như vậy, vị ấy thành tựu giới, thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh và ý thanh tịnh, không tham lam, trong tâm không sân giận, không hôn trầm, không trạo cử, không kiêu ngạo, đoạn nghi trừ hoặc, chánh niệm tỉnh giác, không ngu si. Tâm vị ấy tương ưng với từ, thành tựu và an trú đầy khắp một phương; cứ như thế cho đến hai phương, ba phương, bốn phương, bốn hướng, phương trên và phương dưới, đầy khắp tất cả, tâm tương ưng với từ, không dính mắc, không thù oán, không tức giận, không hơn thua, rộng lớn vô cùng vô lượng, thành tựu và an trú đầy khắp tất cả thế gian. Cũng vậy với bi và hỷ. Lại nữa, tâm tương ưng với xả, không gây thù kết oán, không sân hận não hại, rộng lớn bao la, khéo tu vô lượng, thành tựu và an trú đầy khắp tất cả thế gian. Vị ấy suy nghĩ như vầy: “Ta biết như thật rằng có thô, có diệu, có tưởng, có giải thoát cao thượng.”[7] Sau khi biết như vậy, thấy như vậy rồi, tâm vị ấy giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Sau khi đã giải thoát rồi, vị ấy biết mình đã giải thoát, biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
[0726c02] Cũng như cách thôn xóm không xa có ao tắm mát lành, nước trong chảy tràn, cỏ xanh phủ bờ, hoa thơm bốn phía. Giả sử có một người từ phương Đông đến, đói khát mệt mỏi, liền cởi áo bỏ trên bờ, xuống ao mặc sức tắm, rửa sạch bụi nhơ, trừ khử nóng khát. Giả sử từ phương Nam, phương Tây, phương Bắc cũng có một người đến, đói khát mệt mỏi, liền cởi áo bỏ trên bờ, xuống ao mặc sức tắm, rửa sạch bụi nhơ, trừ khử nóng khát.
Cũng giống như vậy, một người thiện nam dòng Sát-lợi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, thực hành nội tâm tĩnh chỉ, khiến được nội tâm tĩnh chỉ. Người nào với nội tâm tĩnh chỉ, Ta nói vị ấy là Sa-môn, là Phạm chí, là bậc Thánh, là bậc Tịnh dục.
Cũng vậy, một người thiện nam dòng dõi Phạm chí, Tỳ-xá hay Thủ-đà-la, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, thực hành nội tâm tĩnh chỉ, khiến được nội tâm tĩnh chỉ. Người nào với nội tâm tĩnh chỉ, Ta nói vị ấy là Sa-môn, là Phạm chí, là bậc Thánh, là bậc Tịnh dục.
Thế nào là Sa-môn? Là người dứt trừ các pháp ác bất thiện, các lậu ô uế; chúng chính là gốc rễ của sự hiện hữu ở tương lai, là nguyên nhân của khổ báo phiền nhiệt và của sanh, già, bệnh, chết. Đó gọi là Sa-môn.
Thế nào là Phạm chí? Là người xa lìa các pháp ác bất thiện, các lậu ô uế; chúng chính là gốc rễ của sự hiện hữu ở tương lai, là nguyên nhân của khổ báo phiền nhiệt và của sanh, già, bệnh, chết. Đó gọi là Phạm chí.
Thế nào là bậc Thánh? Là người xa lìa các pháp ác bất thiện, các lậu ô uế; chúng chính là gốc rễ của sự hiện hữu ở tương lai, là nguyên nhân của khổ báo phiền nhiệt và của sinh, già, bệnh, chết. Đó gọi là bậc Thánh.
Thế nào là bậc Tịnh dục? Là người đã tẩy sạch các pháp ác bất thiện, các lậu ô uế; chúng chính là gốc rễ của sự hiện hữu ở tương lai, là nguyên nhân của khổ báo phiền nhiệt và của sinh, già, bệnh, chết. Đó gọi là bậc Tịnh dục.
Như thế gọi là Sa-môn, là Phạm chí, là bậc Thánh, là bậc Tịnh dục.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Nguyên tác: Mã Ấp kinh, hạ 馬邑經,下 (T.01. 0026.183. 0725c16). Tham chiếu: M. 40, Cūlaassapura Sutta (Tiểu kinh Xóm Ngựa).
[2] Nguyên tác: Sa-môn đạo tích (沙門道跡, Samaṇasāmīcippaṭipadā): Đạo lộ thích đáng của bậc Sa-môn.
[3] Khuể (vyāpāda): Tâm ác độc, thù nghịch, có ác ý. Sân (瞋, kodha): Nóng giận, bực tức.
[4] Nguyên tác: Bất ngữ (不語, makkha): Che giấu. Xem chú thích 6, kinh số 89, tr. 603.
[5] Kết (結) viết tắt của “oán kết” (怨結). Tham chiếu: M. 40: Palāsa (não hại, ác ý, sự hiểm độc).
[6] Nguyên tác: Việt phủ (鉞斧). M. 40: Mataja (một loại vũ khí có 2 lưỡi rất sắc bén), HT. Thích Minh Châu dịch.
[7] Nguyên tác: Lai thượng xuất yếu (來上出要). Tham chiếu: M. 49: Ito ca panaññaṃ uttari nissaraṇaṃ natthī (ngoài cái này không có một giải thoát nào khác hơn), HT. Thích Minh Châu dịch.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.