Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan một mình ở nơi thanh vắng, tọa thiền tư duy, tâm khởi suy nghĩ: “Nếu có những sợ hãi thì hết thảy chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ. Nếu có những bất hạnh, tai họa, buồn lo thì hết thảy chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.”
Rồi vào lúc xế chiều, Tôn giả A-nan rời nơi tĩnh tọa đi đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn, hôm nay con một mình ở nơi thanh vắng, tọa thiền tư duy, tâm khởi suy nghĩ: “Nếu có những sợ hãi thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ. Nếu có những bất hạnh, tai họa, buồn lo thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.”
Đức Thế Tôn bảo:
– Thật vậy A-nan! Thật vậy A-nan! Nếu có những sợ hãi thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ. Nếu có những bất hạnh, tai họa, buồn lo thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ. Này A-nan, giống như lửa phát sanh từ những đống lau sậy, cỏ rác, đốt cháy cả lầu gác, cung điện, nhà cửa. Này A-nan, cũng vậy, nếu có những sợ hãi thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ. Nếu có những bất hạnh, tai họa, buồn lo thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
Này A-nan, trong quá khứ, nếu có những sợ hãi thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ. Nếu có những bất hạnh, tai họa, buồn lo thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
Này A-nan, trong tương lai, nếu có những sợ hãi thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ. Nếu có những bất hạnh, tai họa, buồn lo thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
Này A-nan, ở hiện tại, nếu có những sợ hãi thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ. Nếu có những bất hạnh, tai họa, buồn lo thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
Này A-Nan, đó gọi là do ngu si nên có sợ hãi, nhờ trí tuệ nên không sợ hãi. Do ngu si nên có bất hạnh, tai họa, buồn lo, nhờ trí tuệ nên không có bất hạnh, tai họa, buồn lo. Này A-nan, nếu có những sợ hãi, bất hạnh, tai họa, buồn lo thì hết thảy đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
[0723b06] Bấy giờ, Tôn giả A-nan buồn rầu, rơi lệ, chắp tay hướng Phật và thưa:
– Bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo ngu si, không trí tuệ?
Đức Thế Tôn đáp:
– Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào không biết giới, không biết xứ, không biết nhân duyên, không biết trường hợp nào đúng, trường hợp nào sai thì này A-nan, Tỳ-kheo như thế là ngu si, không trí tuệ.
Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo như thế là ngu si, không trí tuệ. Thưa Thế Tôn, vậy thế nào là Tỳ-kheo trí tuệ, không ngu si?
Thế Tôn đáp:
– Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào biết giới, biết xứ, biết nhân duyên, biết trường hợp nào đúng, trường hợp nào sai thì này A-nan, Tỳ-kheo như vậy là có trí tuệ, không ngu si.
Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo như vậy là trí tuệ, không ngu si. Thưa Thế Tôn, vậy thế nào là Tỳ-kheo biết giới?
Thế Tôn đáp:
– Này A-nan, đó là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về mười tám giới: Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới. Này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về mười tám giới này.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về sáu giới: Địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới và thức giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về sáu giới: Dục giới, sân giới, hại giới, vô dục giới, vô sân giới và vô hại giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về sáu giới: Lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới và vô minh giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về bốn giới: Thọ giới, tưởng giới, hành giới và thức giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về ba giới: Sắc giới, vô sắc giới và diệt giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về ba giới: Quá khứ giới, vị lai giới và hiện tại giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về ba giới: Diệu giới, bất diệu giới và trung giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về ba giới: Thiện giới, bất thiện giới và vô ký giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về ba giới: Học giới, vô học giới và phi học phi vô học giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về hai giới: Hữu lậu giới và vô lậu giới.
Lại nữa, này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về hai giới: Hữu vi giới và vô vi giới.
Này A-nan, Tỳ-kheo biết giới là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về sáu mươi hai giới như thế.
Tôn giả A-nan bạch:
– Thưa Thế Tôn! Tỳ-kheo biết giới là như thế, còn Tỳ-kheo biết xứ thì như thế nào?
Thế Tôn đáp:
– Nếu Tỳ-kheo nào thấy và biết như thật về mười hai xứ: Nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ và pháp xứ. Này A-nan! Thấy và biết như thật về mười hai xứ như vậy gọi là Tỳ-kheo biết xứ.
Tôn giả A-nan bạch:
– Thưa Thế Tôn! Tỳ-kheo biết xứ là như thế, còn Tỳ-kheo biết nhân duyên thì như thế nào?
Thế Tôn đáp:
– Đó là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về nhân duyên, từ nhân duyên mà phát khởi: Do cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không, cái này sanh nên cái kia sanh, cái này diệt nên cái kia diệt. Tức là duyên vô minh có hành,... (cho đến) duyên sanh mà có già, chết. Nếu vô minh diệt thì hành diệt,... (cho đến) sanh diệt thì già, chết diệt. Này A-nan! Như thế là Tỳ-kheo biết nhân duyên.
Tôn giả A-nan bạch:
– Thưa Thế Tôn! Tỳ-kheo biết nhân duyên là như thế, còn Tỳ-kheo biết trường hợp đúng, trường hợp sai thì như thế nào?
Thế Tôn đáp:
– Tỳ-kheo biết trường hợp đúng, trường hợp sai là Tỳ-kheo thấy và biết như thật về trường hợp đúng là đúng, trường hợp sai là sai.
Này A-nan, trong đời hoàn toàn không thể có hai vị Chuyển Luân Vương cùng cai trị, chỉ có thể có một vị Chuyển Luân Vương cai trị mà thôi. Này A-nan, trên thế gian hoàn toàn không thể có hai đức Như Lai cùng xuất hiện, chỉ có thể có một đức Như Lai xuất hiện mà thôi. Cũng vậy, này A-nan, hoàn toàn không thể có trường hợp một bậc đắc đạo mà cố ý sát hại cha mẹ, giết A-lahán, phá hoại Thánh chúng, hoặc ác tâm với Phật, làm Như Lai chảy máu; chỉ có thể có hạng phàm phu mới cố ý sát hại cha mẹ, giết A-la-hán, phá hoại Thánh chúng, ác tâm với Phật, làm Như Lai chảy máu mà thôi. Này A-nan, hoàn toàn không thể có trường hợp một bậc đắc đạo mà cố tình phạm giới, xả giới, hoặc bỏ đạo; chỉ có thể có hạng phàm phu mới cố ý phạm giới, xả giới, hoặc bỏ đạo mà thôi. Hoàn toàn không thể có trường hợp một bậc đắc đạo mà lìa bỏ đạo của mình, tôn thờ ngoại đạo, mong cầu phước điền ở ngoại đạo; chỉ có thể có hạng phàm phu mới lìa bỏ đạo của mình, tôn thờ ngoại đạo, mong cầu phước điền ở ngoại đạo mà thôi.
[0724a10] Này A-nan, hoàn toàn không thể có trường hợp một bậc đắc đạo mà theo các Sa-môn hay Phạm chí khác để nói như vầy: “Các ngài thấy điều đáng thấy, biết điều đáng biết”; chỉ có thể có hạng phàm phu mới theo các Samôn hay Phạm chí khác để nói như vầy: “Các ngài thấy điều đáng thấy, biết điều đáng biết” mà thôi.
Này A-nan, hoàn toàn không thể có trường hợp một bậc đắc đạo mà còn tin bói toán, hỏi cát hung; chỉ có thể ở hạng phàm phu mới tin bói toán, hỏi cát hung mà thôi.
Này A-nan, hoàn toàn không thể có trường hợp một bậc đắc đạo mà còn theo các Sa-môn hay Phạm chí khác để bói toán, hỏi cát hung, thấy có khổ, có phiền não và thấy những việc đó là thật; chỉ có thể có hàng phàm phu mới theo các Sa-môn hay Phạm chí khác để mà bói toán, hỏi cát hung, thấy có khổ, có phiền não và thấy những việc đó là thật.
Này A-nan, hoàn toàn không thể có trường hợp một bậc đắc đạo mà phát sanh sự cực khổ, hết sức khổ, không thể thương, không thể vui, không thể tư duy, không thể suy niệm, cho đến tự kết liễu đời mình, lìa bỏ đạo của mình, cầu cứu ngoại đạo, được Sa-môn hay Phạm chí trì cho một câu chú, hai câu, ba câu, bốn câu, nhiều câu, trăm ngàn câu chú, để giải trừ sự khổ đau cho mình; đây là đi tìm sự khổ, tập khởi sự khổ, dẫn đến sự khổ mà nói là dứt khổ; chỉ có thể có hàng phàm phu mới lìa bỏ đạo của mình, cầu cứu ngoại đạo, được Sa-môn hay Phạm chí trì cho một câu chú, hai câu, ba câu, bốn câu, nhiều câu, trăm ngàn câu chú, để giải trừ sự khổ đau cho mình; đây là đi tìm sự khổ, tập khởi sự khổ, dẫn đến sự khổ mà nói là dứt khổ.
Này A-nan, hoàn toàn không thể có trường hợp một bậc Kiến đế2 mà tái sanh lần thứ tám; chỉ có thể có hạng phàm phu mới tái sanh lần thứ tám.
Này A-nan, hoàn toàn không thể có trường hợp một người thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, do nhân duyên này sau khi qua đời, đi đến đường lành, sanh lên cõi trời; chỉ có thể có hạng người thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, do nhân duyên này sau khi qua đời, đi đến đường ác, đọa vào địa ngục.
Này A-nan, hoàn toàn không thể có trường hợp một người thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện, do nhân duyên này sau khi qua đời, đi đến đường ác, đọa vào địa ngục; chỉ có thể có trường hợp một người thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện, do nhân duyên này sau khi qua đời, đi đến đường lành, sanh lên cõi trời.
Này A-nan, hoàn toàn không thể có một người thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác mà được hưởng phước báu an vui; chỉ có thể có hạng người thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, ắt phải chịu quả báo đau khổ mà thôi.
Này A-nan, hoàn toàn không thể có một người thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện lại phải chịu quả báo đau khổ; chỉ có thể có trường hợp một người thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện, ắt được hưởng phước báu an vui.
[0724b12] Này A-nan, hoàn toàn không thể có một người không đoạn trừ năm thứ ngăn che,3 những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém mà có thể an trú tâm vững vàng trên bốn niệm xứ; chỉ có thể có người đoạn trừ năm thứ ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém thì tâm mới an trú vững vàng trên bốn niệm xứ. Này A-nan, hoàn toàn không thể có một người không đoạn trừ năm thứ ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, tâm không an trú vững vàng trên bốn niệm xứ mà muốn tu bảy giác chi; chỉ có người đoạn trừ năm thứ ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, tâm an trú vững vàng trên bốn niệm xứ thì mới tu bảy giác chi. Này A-nan, hoàn toàn không thể có một người không đoạn trừ năm thứ ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, tâm không an trú vững vàng trên bốn niệm xứ, không tu bảy giác chi mà sắp chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác; chỉ có những người đoạn trừ năm thứ ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, tâm an trú vững vàng trên bốn niệm xứ, tu bảy giác chi thì mới chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác. Này A-nan, hoàn toàn không thể có một người không đoạn trừ năm thứ ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, tâm không an trú vững vàng trên bốn niệm xứ, không tu bảy giác chi, không chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác mà đoạn hết các khổ; chỉ có người đoạn trừ năm thứ ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, tâm an trú vững vàng trên bốn niệm xứ, tu bảy giác chi, chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác mới đoạn hết các khổ.
Này A-nan, Tỳ-kheo như vậy là Tỳ-kheo biết trường hợp đúng và trường hợp sai.
Tôn giả A-nan bạch:
– Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo như vậy là Tỳ-kheo biết trường hợp đúng và trường hợp sai.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan chắp tay bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn, kinh này tên gọi là gì? Nên phụng trì như thế nào?
Thế Tôn đáp:
– Này A-nan, nên thọ trì pháp này như là thọ trì pháp đa giới, là pháp giới, là Cam lộ giới, là trống rền, là trống pháp, là trống Cam lộ,4 là gương pháp,5 là bốn phẩm.6 Thế nên bài pháp này được gọi là Kinh đa giới.
[0724c02] Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.7
Chú thích:
1 Nguyên tác: Đa giới kinh 多界經 (T.01. 0026.181. 0723a08). Tham chiếu: Phật thuyết Tứ phẩm pháp môn kinh 佛說四品法門經 (T.17. 0776.1. 0712b14); A-tỳ-đạt-ma Pháp uẩn túc luận 阿毘達磨法蘊足 論 (T.26. 1537.10. 0501b24); M. 115, Bahudhātuka Sutta (Kinh đa giới).
2 Nguyên tác: Kiến đế nhân (見諦人): Người chứng quả vị Dự lưu. |
3 Nguyên tác: Ngũ cái (五蓋, pañca nīvaraṇā). Xem chú thích 9, kinh số 19, tr. 112.
4 Cam lộ cổ (甘露鼓). P. Amatadundubhi: Tiếng trống bất tử.
5 Pháp kính (法鏡, Dhammādāso): Tấm gương Pháp. A-tỳ-đạt-ma Pháp uẩn túc luận 阿毘達磨法蘊 足論 (T.26. 1537.10. 0502c17) ghi là Đại pháp kính (大法鏡).
6 Tứ phẩm (四品, catuparivaṭṭo).
7 Bản Hán, hết quyển 47.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.