Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa giữa dân chúng Câu-lâu, ngụ tại thị trấn Kiếmma-sắt-đàm, thuộc nước Câu-lâu.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Ta sẽ thuyết pháp cho các thầy nghe, pháp ấy phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần cuối cũng vi diệu, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh, gọi là Kinh tứ chủng thuyết. Ta sẽ phân tích nghĩa lý của Kinh tứ chủng thuyết, các thầy hãy lắng nghe, hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Ta sẽ giảng nói!
Các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Đức Phật dạy:
– Thế nào gọi là phân tích nghĩa lý Kinh tứ chủng thuyết?
Nếu có Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ dục và các pháp bất thiện, có giác, có quán, cùng với hỷ, lạc được sanh ra do sự viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành ấy, không suy niệm trên đối tượng và mục đích ấy mà chỉ thực hành những gì tương ưng với dục lạc, niệm tưởng những điều đưa đến thoái chuyển thì Tỳ-kheo ấy phải nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này, khiến không an trú, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này nên khiến ta bị thoái chuyển, do đó, định này của ta không tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy phải nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ dục và các pháp bất thiện, có giác, có quán, cùng với hỷ, lạc được sanh ra do sự viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Vị ấy thọ lãnh sự thực hành này, suy niệm trên đối tượng và mục đích này, lập niệm đúng như pháp, khiến an trú với ý chuyên nhất. Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này, khiến không thoái chuyển, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này có thể khiến ta được an trú, do đó, định này của ta chắc chắn tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
[0716c03] Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ dục và các pháp bất thiện, có giác, có quán, cùng với hỷ, lạc được sanh ra do sự viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thiền thứ hai, niệm tưởng những gì đưa đến sự thăng tiến thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc Thiền thứ hai.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ dục và các pháp bất thiện, có giác, có quán, cùng với hỷ, lạc được sanh ra do sự viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với tịch diệt, niệm tưởng những gì đưa đến vô dục thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này nên không thoái chuyển, không an trú, cũng không thăng tiến. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta nhàm chán, như vậy không bao lâu nữa ta sẽ chứng quả, sạch hết phiền não.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thiền thứ nhất, niệm tưởng những gì không đưa đến sự thoái chuyển thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này, khiến không an trú, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này nên khiến ta bị thoái chuyển, do đó, định này của ta không tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán, vị ấy thọ lãnh sự thực hành này, suy niệm trên đối tượng và mục đích này, lập niệm đúng như pháp, an trú với ý chuyên nhất thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này, khiến không thoái chuyển, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này có thể khiến ta được an trú, do đó, định này của ta chắc chắn tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thiền thứ ba, niệm tưởng những gì đưa đến sự thăng tiến thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa ta sẽ chứng đắc Thiền thứ ba.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
[0717a03] Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với sự tịch diệt, niệm tưởng những gì đưa đến sự vô dục thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không thăng tiến. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta nhàm chán, như vậy không bao lâu nữa ta sẽ chứng quả sạch hết phiền não.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thiền thứ ba, niệm tưởng những gì đưa đến sự thoái chuyển thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này khiến không an trú, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta bị thoái chuyển, do đó định này của ta không tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm, vị ấy thọ lãnh sự thực hành này, suy niệm trên đối tượng và mục đích này, lập niệm đúng như pháp, an trú với ý chuyên nhất thì Tỳkheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này nên ta được an trú, do đó định này của ta chắc chắn tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thiền thứ tư, niệm tưởng những gì đưa đến sự thăng tiến thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này nên ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa ta sẽ chứng đắc Thiền thứ tư.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với sự tịch diệt, niệm tưởng những gì đưa đến sự vô dục thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không thăng tiến. Trong ta phát sanh pháp này nên khiến ta nhàm chán, như vậy không bao lâu ta nữa sẽ chứng quả, sạch hết phiền não.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
[0717b06] Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thiền thứ ba, niệm tưởng những gì đưa đến sự thoái chuyển thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này khiến không được an trú, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta bị thoái chuyển, do đó định này của ta không tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh, vị ấy thọ lãnh sự thực hành này, suy niệm trên đối tượng và mục đích này, lập niệm đúng như pháp với ý chuyên nhất thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta được an trú, do đó định này của ta chắc chắn tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Không vô biên xứ, niệm tưởng những gì đưa đến sự thăng tiến thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này nên ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa ta sẽ chứng đắc Không vô biên xứ.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình nhằm hướng đến diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng, mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với sự tịch diệt, niệm tưởng những gì dẫn đến sự vô dục thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không thăng tiến. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta nhàm chán, như vậy không bao lâu nữa ta sẽ chứng quả, sạch hết phiền não.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
[0717c01] Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nào, vào Không vô biên xứ, thành tựu và an trú Không vô biên xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với sự ưa thích sắc, niệm tưởng những gì đưa đến sự thoái chuyển thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không an trú, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta bị thoái chuyển, do đó định này của ta không tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nào, vào Không vô biên xứ, thành tựu và an trú Không vô biên xứ; vị ấy thọ lãnh sự thực hành này, suy niệm trên đối tượng và mục đích này, lập niệm đúng như pháp, an trú với ý chuyên nhất thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta được an trú, do đó định này của ta chắc chắn tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nào, vào Không vô biên xứ, thành tựu và an trú Không vô biên xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thức vô biên xứ, niệm tưởng những gì đưa đến sự thăng tiến thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa ta sẽ chứng đắc Thức vô biên xứ.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nào, vào Không vô biên xứ, thành tựu và an trú Không vô biên xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với sự tịch diệt, niệm tưởng những gì đưa đến sự vô dục thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không thăng tiến. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta nhàm chán, như vậy không bao lâu nữa ta sẽ chứng quả sạch hết phiền não.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu và an trụ Thức vô biên xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Không vô biên xứ, niệm tưởng những gì đưa đến sự thoái chuyển thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không an trú, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta bị thoái chuyển, do đó định này của ta không tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
[0718a01] Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập mà vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu và an trú Thức vô biên xứ và vị ấy chấp thủ sự thực hành này, suy niệm trên đối tượng và mục đích này, lập niệm đúng như pháp, an trú với ý chuyên nhất thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta được an trú, do đó định này của ta chắc chắn tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu và an trú Thức vô biên xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Vô sở hữu xứ, niệm tưởng những gì đưa đến sự thăng tiến thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc Vô sở hữu xứ.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu và an trú Thức vô biên xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với sự tịch diệt, niệm tưởng những gì đưa đến sự vô dục thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không thăng tiến. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta nhàm chán, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng quả, sạch hết phiền não.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trú Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thức vô biên xứ, niệm tưởng những gì đưa đến sự thoái chuyển thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không an trú, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta bị thoái chuyển, do đó định này của ta không tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trú Vô sở hữu xứ và vị ấy thọ lãnh sự thực hành này, suy niệm trên đối tượng và mục đích này, lập niệm đúng như pháp, an trú với ý chuyên nhất thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không thăng tiến, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta được an trú, do đó định này của ta chắc chắn tồn tại lâu dài.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trú Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Phi tưởng phi phi tưởng xứ, niệm tưởng những gì đưa đến sự thăng tiến thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không nhàm chán. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta được thăng tiến, như thế không bao lâu nữa ta sẽ chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
[0718b06] Lại nữa, Tỳ-kheo với sự thực hành, đối tượng, mục đích tu tập của mình mà vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trú Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành này, không suy niệm trên đối tượng và mục đích này mà chỉ thực hành những gì tương ưng với sự nhàm chán, niệm tưởng những gì đưa đến sự vô dục thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: “Trong ta phát sanh pháp này mà không thoái chuyển, không an trú, cũng không thăng tiến. Trong ta phát sanh pháp này khiến ta nhàm chán, như vậy không bao lâu nữa ta sẽ chứng quả, sạch hết phiền não.” Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
Có tưởng và có thọ được biết ngang đến mức ấy, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ là cảnh giới tối cao trong các hành thiền Hữu dư. Tỳ-kheo hành thiền hãy bắt đầu từ đó và thuyết giảng lại cho người khác biết.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe xong đều hoan hỷ phụng hành.2
Chú thích:
1 Nguyên tác: Thuyết kinh 說經 (T.01. 0026.177. 0716b13). Trong nội dung kinh, đức Phật định danh bản kinh này là Tứ chủng thuyết kinh (四種說經).
2 Bản Hán, hết quyển 46.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.