Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Thế gian quả thật có bốn loại hành thiền. Là bốn loại nào? Hoặc có người hành thiền thăng tiến mà cho là suy thoái; hoặc có người hành thiền suy thoái mà cho là thăng tiến; hoặc có người hành thiền suy thoái thì biết đúng như thật là suy thoái; hoặc có người hành thiền thăng tiến thì biết đúng như thật là thăng tiến.
Thế nào là người hành thiền thăng tiến mà cho là suy thoái? Là khi người hành thiền ấy lìa bỏ dục và các pháp bất thiện, có giác, có quán, cùng với hỷ, lạc được sanh ra do sự viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Thiền thứ nhất hướng đến Thiền thứ hai, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành thiền đó lại nghĩ: “Tâm ta đã lìa sở duyên vốn có2 rồi hướng đến chỗ khác làm mất Thiền thứ nhất và diệt mất định.” Người hành thiền kia không biết đúng như thật rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ nhất hướng đến Thiền thứ hai, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên đã thoái chuyển đối với sự như thật, tâm liền mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến mà cho là suy thoái.
[0714a06] Lại nữa, người hành thiền ấy đã lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Thiền thứ hai hướng đến Thiền thứ ba, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành thiền đó lại nghĩ: “Tâm ta đã lìa sở duyên vốn có và hướng đến chỗ khác làm mất Thiền thứ hai và diệt mất định.” Người hành thiền kia không biết đúng như thật rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ hai hướng đến Thiền thứ ba, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên đã thoái chuyển đối với sự như thật, tâm liền mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến mà cho là suy thoái.
Lại nữa, người hành thiền lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Thiền thứ ba hướng đến Thiền thứ tư, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành thiền đó lại nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa sở duyên vốn có và hướng đến chỗ khác nên mất Thiền thứ ba và diệt mất định.” Người hành thiền kia không biết đúng như thật rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ trạng thái Thiền thứ ba hướng đến Thiền thứ tư, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên đã thoái chuyển đối với sự như thật, tâm liền mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến mà cho là suy thoái.
Lại nữa, người hành thiền diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Thiền thứ tư hướng đến Không vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành thiền đó lại nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa sở duyên vốn có và hướng đến chỗ khác nên mất Thiền thứ tư và diệt mất định.” Người hành thiền kia không biết đúng như thật rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ trạng thái Thiền thứ tư hướng đến Không vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên đã thoái chuyển đối với sự như thật, tâm liền mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến mà cho là suy thoái.
[0714b01] Lại nữa, người hành thiền vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không niệm tưởng tạp loạn, vào Không vô biên, thành tựu và an trú Không vô biên xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ trạng thái Không vô biên xứ hướng đến Thức vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành thiền đó lại nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa sở duyên vốn có và hướng đến chỗ khác nên mất Không vô biên xứ và diệt mất định.” Người hành thiền kia không biết đúng như thật rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ trạng thái Không vô biên xứ hướng đến Thức vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên đã thoái chuyển đối với sự như thật, tâm liền mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến mà cho là suy thoái.
Lại nữa, người hành thiền vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên thành tựu và an trụ Thức vô biên xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Thức vô biên xứ hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành thiền đó lại nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa sở duyên vốn có và hướng đến chỗ khác nên mất Thức vô biên xứ và diệt mất định.” Người hành thiền kia không biết đúng như thật rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ trạng thái Thức vô biên xứ hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên đã thoái chuyển đối với sự như thật, tâm liền mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến mà cho là suy thoái.
Lại nữa, người hành thiền vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu thành tựu và an trụ Vô sở hữu xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Vô sở hữu xứ hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành thiền đó lại nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa sở duyên vốn có và hướng đến chỗ khác nên mất Vô sở hữu xứ và diệt mất định.” Người hành thiền kia không biết đúng như thật rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ trạng thái Vô sở hữu xứ hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên đã thoái chuyển đối với sự như thật, tâm liền mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến mà cho là suy thoái.
Thế nào là hành thiền suy thoái mà cho là thăng tiến? Là khi người hành thiền ấy lìa bỏ dục và các pháp bất thiện, có giác, có quán, cùng với hỷ, lạc được sanh ra do sự viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Vị ấy tư duy những tưởng hạn hẹp khác rồi tu tập theo con đường dẫn đến Thiền thứ hai. Người hành thiền ấy nghĩ rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ trạng thái Thiền thứ nhất hướng đến Thiền thứ hai, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Song, vị ấy không biết đúng như thật rằng: “Chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với sự nhàm chán mà vào Thiền thứ nhất, không nên tư duy những tưởng hạn hẹp khác mà vào Thiền thứ hai.” Do vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên không biết rõ tâm mình, liền mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là thăng tiến.
[0714c04] Lại nữa, người hành thiền lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán. Vị ấy tư duy những tưởng hạn hẹp khác rồi tu tập theo con đường dẫn đến Thiền thứ ba. Người hành thiền ấy nghĩ rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ hai hướng đến Thiền thứ ba, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Song, người hành thiền ấy không biết đúng như thật rằng: “Chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với sự nhàm chán mà vào Thiền thứ hai, không nên tư duy những tưởng hạn hẹp khác để vào Thiền thứ ba.” Do vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên không biết rõ tâm mình, liền mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là thăng tiến.
Lại nữa, người hành thiền lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm. Vị ấy tư duy những tưởng hạn hẹp khác rồi tu tập theo con đường dẫn đến Thiền thứ tư. Người hành thiền ấy nghĩ rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ ba hướng đến Thiền thứ tư, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Song, vị hành thiền ấy không biết đúng như thật rằng: “Chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với sự nhàm chán mà vào Thiền thứ ba, không nên tư duy những tưởng hạn hẹp khác mà vào Thiền thứ tư.” Do vị ấy không biết như thật như vậy nên không biết rõ tâm mình, liền làm mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là thăng tiến.
Lại nữa, người hành thiền diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh. Vị ấy tư duy những tưởng hạn hẹp khác rồi tu tập theo con đường dẫn đến Không vô biên xứ. Vị hành thiền ấy nghĩ rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ tư hướng đến Không vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Song, vị ấy không biết đúng như thật rằng: “Chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với sự nhàm chán mà vào Thiền thứ tư, không nên bằng tư duy những tưởng hạn hẹp khác mà vào Không vô biên xứ.” Do vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên không biết rõ tâm mình, liền mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là thăng tiến.
Lại nữa, người hành thiền vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không niệm tưởng tạp loạn, vào Không vô biên thành tựu và an trụ Không vô biên xứ. Vị ấy tư duy những tưởng hạn hẹp khác rồi tu tập theo con đường dẫn đến Thức vô biên xứ. Người hành thiền ấy nghĩ rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Không vô biên xứ hướng đến Thức vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Song, vị hành thiền ấy không biết đúng như thật rằng: “Chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với sự nhàm chán mà vào Không vô biên xứ, không nên tư duy những tưởng hạn hẹp khác mà vào Thức vô biên xứ.” Do vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên không biết rõ tâm mình, liền mất định. Người hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là thăng tiến.
[0715a07] Lại nữa, người hành thiền vượt qua hết thảy Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu và an trụ Thức vô biên xứ. Vị ấy tư duy những tưởng hạn hẹp khác rồi tu tập theo con đường dẫn đến Vô sở hữu xứ. Người hành thiền ấy liền nghĩ rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thức vô biên xứ hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Song, người hành thiền ấy không biết đúng như thật rằng: “Chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với sự nhàm chán mà vào Thức vô biên xứ, không nên tư duy những tưởng hạn hẹp khác mà vào Vô sở hữu xứ.” Do vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên không biết rõ tâm mình, liền mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là thăng tiến.
Lại nữa, người hành thiền vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trụ Vô sở hữu xứ. Vị ấy tư duy những tưởng hạn hẹp khác rồi tu tập theo con đường dẫn đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Người hành thiền ấy liền nghĩ rằng: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Vô sở hữu xứ hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Song, vị hành thiền ấy không biết đúng như thật rằng: “Chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với sự nhàm chán mà vào Vô sở hữu xứ, không nên tư duy những tưởng hạn hẹp khác mà vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ.” Do vị ấy không biết đúng như thật như vậy nên không biết rõ tâm mình, liền mất định. Người hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là thăng tiến.
Thế nào là hành thiền suy thoái thì biết đúng như thật là suy thoái? Người hành thiền ấy, với những gì đã thực hành, với đối tượng và mục tiêu, vị ấy đã vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, vào cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu và an trụ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng vị ấy không cảm thọ sự thực hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Vô sở hữu xứ, niệm tưởng những gì vốn làm cho thoái chuyển. Người hành thiền ấy liền nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa khỏi sở duyên vốn có, lại hướng đến chỗ khác, làm mất Phi tưởng phi phi tưởng xứ và diệt mất định.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy nên không thoái chuyển đối với sự như thật, tâm không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái thì biết đúng như thật là suy thoái.
[0715b02] Lại nữa, người hành thiền ấy, với những gì đã thực hành, với đối tượng và mục tiêu, vị ấy đã vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào cảnh giới Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trụ Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không cảm thọ sự thực hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thức vô biên xứ, niệm tưởng những gì vốn làm cho thoái chuyển. Người hành thiền ấy liền nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa khỏi sở duyên vốn có, lại hướng đến chỗ khác, làm mất Vô sở hữu xứ và diệt mất định.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy nên không thoái chuyển đối với sự như thật, tâm không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái biết đúng như thật là suy thoái.
Lại nữa, người hành thiền ấy, với những gì đã thực hành, với đối tượng và mục tiêu, vị ấy vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu và an trụ Thức vô biên xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Không vô biên xứ, niệm tưởng những gì vốn làm cho thoái chuyển. Người hành thiền ấy nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa khỏi sở duyên vốn có, lại hướng đến chỗ khác, làm mất Thức vô biên xứ và diệt mất định.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy nên không thoái chuyển đối với sự như thật, tâm không mất định. Người hành thiền như vậy là suy thoái biết đúng như thật là suy thoái.
Lại nữa, người hành thiền ấy, với những gì đã thực hành, với đối tượng và mục tiêu, vị ấy vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không niệm tưởng tạp loạn, vào Không vô biên xứ, thành tựu và an trụ Không vô biên xứ, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy mà chỉ thực hành những gì tương ưng với sự ái lạc sắc, niệm tưởng những gì vốn làm cho thoái chuyển. Người hành thiền ấy liền nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa khỏi sở duyên vốn có, lại hướng đến chỗ khác, làm mất Không vô biên xứ và diệt mất định.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy nên không thoái chuyển đối với sự như thật, tâm không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái biết chắc là suy thoái.
Lại nữa, người hành thiền ấy, với những gì đã thực hành, với đối tượng và mục tiêu, vị ấy đã diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thiền thứ ba, niệm tưởng những gì vốn làm cho thoái chuyển. Người hành thiền ấy nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa khỏi sở duyên vốn có, lại hướng đến chỗ khác, làm mất Thiền thứ tư và diệt mất định.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy nên không thoái chuyển đối với sự như thật, tâm không mất định. Người hành thiền như vậy là suy thoái biết chắc là suy thoái.
Lại nữa, người hành thiền ấy, với những gì đã thực hành, với đối tượng và mục tiêu, vị ấy đã lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thiền thứ hai, niệm tưởng những gì vốn làm cho thoái chuyển. Người hành thiền ấy liền nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa khỏi sở duyên vốn có, lại hướng đến chỗ khác, làm mất Thiền thứ ba và diệt mất định.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy nên không thoái chuyển đối với sự như thật, tâm không mất định. Người hành thiền như vậy là suy thoái biết chắc là suy thoái.
[0715c06] Lại nữa, người hành thiền ấy, với những gì đã thực hành, với đối tượng và mục tiêu, vị ấy đã lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy mà chỉ thực hành những gì tương ưng với Thiền thứ nhất, niệm tưởng những gì vốn làm cho thoái chuyển. Người hành thiền ấy liền nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa khỏi sở duyên vốn có, lại hướng đến chỗ khác, làm mất Thiền thứ hai và diệt mất định.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy nên không thoái chuyển đối với sự như thật, tâm không mất định. Người hành thiền như vậy suy thoái là biết đúng như thật là suy thoái.
Lại nữa, người hành thiền ấy, với những gì đã thực hành, với đối tượng và mục tiêu, vị ấy đã lìa dục, lìa pháp ác, bất thiện, có giác, có quán, được hỷ lạc do lìa dục sanh, chứng được Thiền thứ nhất, thành tựu và an trú, nhưng vị ấy không chấp thủ sự thực hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy mà chỉ thực hành những gì tương ưng với dục lạc, niệm tưởng những gì vốn làm cho thoái chuyển. Người hành thiền ấy liền nghĩ rằng: “Tâm ta đã lìa khỏi sở duyên vốn có, lại hướng đến chỗ khác, làm mất Thiền thứ nhất và diệt mất định.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy nên không thoái chuyển đối với sự như thật, tâm không mất định. Người hành thiền như vậy suy thoái là biết đúng như thật là suy thoái.
Thế nào là hành thiền thăng tiến thì biết đúng như thật là thăng tiến? Là khi người hành thiền ấy lìa dục, lìa pháp ác, bất thiện, có giác, có quán, được hỷ lạc do lìa dục sanh, chứng được Thiền thứ nhất, thành tựu và an trú. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ nhất hướng đến Thiền thứ hai, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Người hành thiền ấy liền nghĩ: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ nhất hướng đến Thiền thứ hai, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy liền biết rõ tâm mình, không làm mất định. Hành thiền như vậy là thăng tiến thì biết đúng như thật là thăng tiến.
Lại nữa, người hành thiền lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác, không quán. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ hai hướng đến Thiền thứ ba, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Người hành thiền ấy liền nghĩ: “Tâm mình tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ hai hướng đến Thiền thứ ba, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy, liền biết rõ tâm mình, không làm mất định, người hành thiền như vậy là thăng tiến thì biết đúng như thật là thăng tiến.
[0716a04] Lại nữa, người hành thiền đã lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ ba hướng đến Thiền thứ tư, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Người hành thiền ấy liền nghĩ: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ ba hướng đến Thiền thứ tư, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy, liền biết rõ tâm mình, không làm mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến thì biết đúng như thật là thăng tiến.
Lại nữa, người hành thiền đã diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ tư hướng đến Không vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Người hành thiền ấy liền nghĩ: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thiền thứ tư hướng đến Không vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy, liền biết rõ tâm mình, không làm mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến thì biết đúng như thật là thăng tiến.
Lại nữa, người hành thiền vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không niệm tưởng tạp loạn, vào Không vô biên xứ, thành tựu và an trụ Không vô biên xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Không vô biên xứ hướng đến Thức vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Người hành thiền ấy liền nghĩ: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Không vô biên xứ hướng đến Thức vô biên xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy, liền biết rõ tâm mình, không làm mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến thì biết đúng như thật là thăng tiến.
Lại nữa, người hành thiền vượt qua Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu và an trụ Thức vô biên xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thức vô biên xứ hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Người hành thiền ấy lại nghĩ: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Thức vô biên xứ, hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy, liền biết rõ tâm mình, không làm mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến thì biết đúng như thật là thăng tiến.
Lại nữa, người hành thiền vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu và an trụ Vô sở hữu xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, an lạc tịch tịnh, từ Vô sở hữu xứ hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Người hành thiền ấy liền nghĩ: “Tâm ta tu tập chánh tư duy, trạng thái an lạc tịch tịnh, từ Vô sở hữu xứ hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là sự tịch tịnh thù thắng.” Do vị ấy biết đúng như thật như vậy, liền biết rõ tâm mình, không làm mất định. Người hành thiền như vậy là thăng tiến thì biết đúng như thật là thăng tiến.
Thế gian quả thật có bốn loại hành thiền này, vì thế nên Ta giảng thuyết.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
1 Quyển 46. Nguyên tác: Hành thiền kinh 行禪經 (T.01. 0026.176. 0713c21).
2 Bổn tướng (本相). Bổn tướng ở đây chính là đối tượng đang thiền quán. Đối với Sơ thiền, bổn tướng có thể là ly dục, ly bất thiện pháp.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.