Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Câu-lâu, trú tại thị trấn Kiếm-ma-sắt-đàm, thuộc nước Câu-lâu.2
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Trong thế gian này, chúng sanh có tham muốn như vầy, ước vọng như vầy, yêu thích như vầy, vui sướng như vầy và ý hướng như vầy: “Mong sao các pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý sẽ tiêu diệt. Mong sao các pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý được sanh ra.” Chúng sanh có tham muốn như vậy, ước vọng như vậy, yêu thích như vậy, vui sướng như vậy và ý hướng như vậy, nhưng các pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý lại phát sanh, còn các pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý thì bị tiêu diệt. Đó gọi là pháp si.
Pháp của Ta rất sâu xa, khó thấy, khó hiểu, khó thông đạt. Pháp của Ta sâu xa, khó thấy, khó hiểu, khó thông đạt như vậy, [có thể khiến]3 những pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý tiêu diệt, còn các pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý được phát sanh. Đó gọi là pháp không si.
Thế gian này quả thật có bốn loại thọ pháp. Là bốn loại nào? Là đời này thọ pháp lạc, đời sau thọ quả báo khổ; hoặc đời này thọ pháp khổ, đời sau thọ quả báo lạc; hoặc đời này thọ pháp khổ, đời sau cũng thọ quả báo khổ; hoặc đời này thọ pháp lạc, đời sau cũng thọ báo lạc.
Thế nào là đời này thọ pháp lạc, đời sau chịu quả báo khổ? Như có người tự vui thích với việc sát sanh, nhân việc sát sanh mà thấy vui thích. Người ấy tự vui thích với việc trộm cướp, tà hạnh, nói dối,... (cho đến) tà kiến; nhân tà kiến mà thấy vui thích. Như vậy, thân vui thích, tâm vui thích từ việc làm bất thiện, sanh ra từ việc làm bất thiện, không hướng đến trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn. Đó gọi là đời này thọ pháp lạc, đời sau thọ báo khổ.
Thế nào là đời này thọ pháp khổ, đời sau thọ quả báo lạc? Như nếu có người tự mình chịu khổ, tự mình chịu buồn, quyết từ bỏ việc sát sanh. Do từ bỏ việc sát sanh mà sanh đau khổ, buồn rầu, nhưng người ấy tự mình chịu khổ, tự mình chịu buồn, quyết từ bỏ trộm cướp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói dối,... (cho đến) từ bỏ tà kiến. Do từ bỏ tà kiến mà sanh đau khổ, buồn rầu. Như vậy, thân chịu khổ, tâm chịu khổ từ việc làm thiện, sanh ra từ việc làm thiện, hướng đến trí, hướng đến giác ngộ, hướng đến Niết-bàn. Đó gọi là đời này thọ pháp khổ, đời sau thọ quả báo lạc.
Thế nào là đời này thọ pháp khổ, đời sau cũng thọ quả báo khổ? Như nếu có người tự mình bị khổ, bị buồn với việc sát sanh, do sát sanh mà sanh ra đau khổ, buồn rầu. Người ấy tự mình bị khổ, bị buồn với việc trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến, do tà kiến mà sanh ra đau khổ, buồn rầu. Như vậy, thân bị khổ, tâm bị khổ từ việc làm bất thiện, sanh ra từ việc làm bất thiện, không hướng đến trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn. Đó gọi là đời này thọ pháp khổ, đời sau cũng thọ quả báo khổ.
[0713a03] Thế nào là đời này thọ pháp lạc, đời sau cũng thọ quả báo lạc? Đó là có người tự vui thích với việc từ bỏ sát sanh, do từ bỏ sát sanh mà được vui thích. Người ấy tự vui thích với việc từ bỏ trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) từ bỏ tà kiến, do từ bỏ tà kiến nên thấy vui thích. Như vậy, thân vui thích, tâm vui thích từ việc làm thiện, sanh ra từ việc làm thiện, hướng đến trí, hướng đến giác ngộ, hướng đến Niết-bàn. Đó gọi là đời này thọ pháp lạc, đời sau cũng thọ quả báo lạc.
Hoặc có người đời này thọ pháp lạc, đời sau thọ quả báo khổ, nhưng người ấy si mê không biết đúng như thật rằng đời này thọ pháp lạc, đời sau chịu quả báo khổ. Do không biết đúng như thật nên người ấy thực hành theo pháp ấy mà không từ bỏ. Sau khi thực hành theo pháp ấy mà không từ bỏ thì những pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý phát sanh, còn các pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý lại diệt trừ. Cũng như cái bình đựng thuốc4 còn lại một phần màu sắc, mùi hương và vị thuốc, nhưng để lẫn với chất độc. Có người bị bệnh lấy uống, vừa mới uống cảm giác thích thú với sắc, hương và vị nên không thấy khó chịu cổ họng, nhưng khi đã vào bụng thì không còn là thuốc nữa. Cũng vậy, đời này thọ pháp lạc, đời sau thọ quả báo khổ, nhưng người ấy si mê không biết đúng như thật rằng đời này thọ pháp lạc, đời sau chịu quả báo khổ. Do không biết đúng như thật nên người ấy cứ thực hành theo pháp ấy mà không từ bỏ. Sau khi thực hành theo pháp ấy mà không từ bỏ thì những pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý phát sanh, còn các pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý lại diệt trừ. Đó gọi là pháp si. Hoặc có người đời này thọ pháp khổ, đời sau thọ quả báo lạc, nhưng người ấy ngu si không biết đúng như thật rằng đời này thọ pháp khổ này, đời sau hưởng quả báo lạc. Khi đã không biết đúng như thật rồi, người ấy không thực hành theo pháp ấy mà từ bỏ. Do không thực hành theo pháp ấy mà từ bỏ nên những pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý phát sinh, còn những pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý lại diệt trừ. Đó là pháp si.
Hoặc có người đời này thọ pháp khổ, đời sau cũng thọ báo khổ, song người ấy ngu si không biết đúng như thật rằng đời này thọ pháp khổ, đời sau cũng thọ quả báo khổ. Do không biết đúng như thật nên người ấy cứ thực hành theo pháp ấy mà không từ bỏ. Sau khi thực hành theo pháp ấy mà không từ bỏ, những pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý phát sanh, còn các pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý lại diệt trừ. Cũng như lấy phân và nước tiểu rồi hòa với thuốc độc, có người vì bệnh nên phải uống, trong khi uống cảm thấy nhơ nhớp, hôi thối, không có mùi vị, không ngon miệng mà còn hại cổ họng; uống vào trong bụng lại chẳng thành thuốc. Cũng vậy, đời này thọ pháp khổ này, đời sau cũng chịu quả báo khổ, song vì người ấy ngu si không biết đúng như thật rằng đời này thọ pháp khổ này, đời sau cũng thọ quả báo khổ. Do không biết đúng như thật nên người ấy cứ thực hành theo pháp ấy mà không từ bỏ. Sau khi thực hành theo pháp ấy mà không từ bỏ thì những pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý phát sinh; còn các pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý lại diệt trừ. Đó gọi là pháp si.
[0713b03] Hoặc có người đời này thọ pháp lạc, đời sau cũng thọ quả báo lạc, nhưng người ấy ngu si không biết đúng như thật rằng đời này thọ pháp lạc, đời sau cũng thọ báo lạc. Do không biết đúng như thật nên người ấy không thực hành theo mà lại từ bỏ. Do không thực hành theo mà lại từ bỏ nên những pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý phát sanh; còn các pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý lại diệt trừ. Đó gọi là pháp si.
Người ấy không biết đúng như thật pháp nào nên thực hành, không biết đúng như thật pháp nào không nên thực hành. Do không biết đúng như thật pháp nào nên thực hành và không biết đúng như thật pháp nào không nên thực hành, cho nên pháp đáng thực hành mà không thực hành, pháp không đáng thực hành mà lại thực hành. Do pháp đáng thực hành mà không thực hành, pháp không đáng thực hành mà lại thực hành nên những pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý phát sinh; còn các pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý lại diệt trừ. Đó gọi là pháp si.
Hoặc có pháp thọ đời này lạc, đời sau thọ quả báo khổ, người có trí biết đúng như thật rằng pháp thọ này đời này lạc mà đời sau thọ quả báo khổ. Do biết đúng như thật điều đó nên không thực hành theo mà diệt trừ nó. Nhờ không thực hành theo mà diệt trừ nó nên những pháp đáng yêu, đáng thích, vừa ý phát sanh, còn những pháp không đáng yêu, không đáng thích, không vừa ý bị diệt trừ. Đó gọi là pháp tuệ.
Hoặc có pháp thọ đời này khổ, đời sau thọ quả báo lạc. Người có trí biết đúng như thật rằng pháp thọ này đời này khổ, đời sau thọ quả báo lạc. Do biết đúng như thật điều đó nên liền thực hành theo mà không diệt trừ. Nhờ thực hành theo mà không diệt trừ nên những pháp đáng yêu, đáng thích, vừa ý phát sanh; còn những pháp không đáng yêu, không đáng thích, không vừa ý bị diệt trừ. Cũng như lấy phân và nước tiểu hòa lẫn với nhiều loại thuốc, nếu có người vì bệnh nên phải uống; trong khi uống cảm thấy nhơ nhớp, hôi thối, không có mùi vị, không ngon miệng mà còn hại cổ họng, nhưng khi đã uống vào bụng rồi liền trở thành thuốc. Cũng vậy, có pháp thọ đời này khổ mà đời sau thọ quả báo lạc, người có trí biết đúng như thật rằng pháp thọ này đời này khổ mà đời sau thọ quả báo lạc. Do biết đúng như thật điều đó nên liền thực hành theo mà không diệt trừ. Nhờ thực hành theo mà không diệt trừ nên những pháp đáng yêu, đáng thích, vừa ý phát sanh; còn những pháp không đáng yêu, không đáng thích, không vừa ý bị diệt trừ. Đó gọi là pháp tuệ.
Hoặc có pháp thọ đời này khổ, đời sau cũng thọ quả báo khổ. Người có trí biết đúng như thật rằng pháp thọ này đời này khổ mà đời sau cũng thọ quả báo khổ. Do biết đúng như thật điều đó nên không thực hành theo mà diệt trừ. Nhờ không thực hành theo mà diệt trừ nên những pháp đáng yêu, đáng thích, vừa ý phát sanh; còn những pháp không đáng yêu, không đáng thích, không vừa ý bị diệt trừ. Đó gọi là pháp tuệ.
Hoặc có pháp thọ đời này lạc, đời sau cũng thọ quả báo lạc, người có trí biết đúng như thật rằng pháp thọ này đời này lạc mà đời sau cũng thọ quả báo lạc. Do biết đúng như thật điều đó, người ấy liền thực hành theo mà không diệt trừ. Nhờ thực hành theo mà không diệt trừ nên những pháp đáng yêu, đáng thích, vừa ý phát sanh, còn những pháp không đáng yêu, không đáng thích, không vừa ý bị diệt trừ. Cũng như lấy váng sữa và mật hòa lẫn với nhiều loại thuốc, nếu có người vì bệnh mà phải uống, trong khi uống cảm nhận màu sắc, hương, vị đều ngon, vừa miệng mà lại không khó chịu nơi cổ họng, uống vào bụng liền trở thành thuốc. Cũng vậy, có pháp thọ đời này lạc mà đời sau cũng thọ quả báo lạc, người có trí biết đúng như thật rằng pháp thọ này đời này lạc mà đời sau cũng thọ quả báo lạc. Do biết đúng như thật điều đó, người ấy liền thực hành theo mà không diệt trừ. Nhờ thực hành theo mà không diệt trừ nên những pháp đáng yêu, đáng thích, vừa ý phát sanh, còn những pháp không đáng yêu, không đáng thích, không vừa ý bị diệt trừ. Đó gọi là pháp tuệ.
Người đó biết đúng như thật rằng pháp này nên thực hành, biết đúng như thật rằng pháp kia không nên thực hành. Do biết đúng như thật pháp nào nên thực hành và pháp nào không nên thực hành, cho nên vị ấy liền thực hành pháp nên thực hành, không thực hành pháp không nên thực hành. Do thực hành pháp nên thực hành, không thực hành pháp không nên thực hành, nên những pháp đáng yêu, đáng thích, vừa ý phát sanh, còn những pháp không đáng yêu, không đáng thích, không vừa ý bị diệt trừ. Đó gọi là pháp tuệ.
Thế gian quả thật có bốn thọ pháp ấy, vì vậy mà Ta giảng nói.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe đức Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.5
Chú thích:
1 Nguyên tác: Thọ pháp kinh, hạ 受法經, 下 (T.01. 0026.175. 0712c04). Tham chiếu: Ưng pháp kinh 應法經 (T.01. 0083. 0902b04); M. 46, Mahādhammasamādāna Sutta (Đại kinh pháp hành).
2 Xem chú thích 2-3, kinh số 10, tr. 55.
3 Tham chiếu: Ưng pháp kinh 應法經 (T.01. 0083. 0902b13).
4 A-ma-ni-dược (阿摩尼藥). M. 46. Mahādhammasamādāna Sutta (Đại kinh pháp hành): Āpānīyakaṃsa (bình đựng nước uống).
5 Bản Hán, hết quyển 45.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.