Viện Nghiên Cứu Phật Học

169. KINH CÂU-LÂU VÔ TRÁNH1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Bà-kỳ,2 ngụ tại thị trấn Kiếm-ma-sắt-đàm, thuộc nước Câu-lâu.3
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Nay Ta sẽ nói pháp cho các thầy nghe, pháp ấy phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần cuối cũng vi diệu, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh, gọi là Kinh phân biệt vô tránh. 4 Các thầy hãy lắng nghe, hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ!
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe.
Đức Phật dạy:
– Chớ mong cầu dục lạc, vì đây là nghiệp vô cùng thấp kém, là việc làm của hàng phàm phu; cũng chớ mong cầu tự thân khổ hạnh, vì thực hành khổ hạnh tột bực cũng không phải hạnh của bậc Thánh, không khế hợp với mục đích cứu cánh.5 Tránh xa hai cực đoan này thì có con đường trung đạo, thành tựu đạo nhãn, thành tựu trí tuệ, được định tự tại, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn.6 Có khen ngợi, có chê trách; có không khen ngợi, không chê trách mà chỉ nói pháp. Nên xác quyết về sự tịnh lạc, khi đã xác định rõ thì hãy tìm cầu sự an lạc vốn có bên trong. Chớ nói xấu sau lưng,7 cũng đừng khen trước mặt. Nói phải có chừng mực, chớ nói không biết chừng mực. Tùy theo phong tục địa phương, đừng bảo đó là đúng, cũng chớ nói đó là sai. Đó là những vấn đề trong Kinh phân biệt vô tránh.
“Chớ mong cầu dục lạc, vì đây là nghiệp vô cùng thấp kém, là việc làm của hàng phàm phu; cũng chớ mong cầu tự thân khổ hạnh, vì thực hành khổ tột bực cũng không phải hạnh của bậc Thánh, không khế hợp với mục đích cứu cánh”, vấn đề này được nói vì nguyên do gì? “Chớ mong cầu dục lạc, vì đây là nghiệp vô cùng thấp kém, là việc làm của hàng phàm phu” là một cực đoan. “Chớ mong cầu tự thân khổ hạnh, vì thực hành khổ tột bực cũng không phải hạnh của bậc Thánh, không khế hợp với mục đích cứu cánh” cũng là một cực đoan. Vì nguyên do này cho nên mới nói: “Chớ mong cầu dục lạc, vì đây là nghiệp vô cùng thấp kém, là việc làm của hàng phàm phu; cũng chớ mong cầu tự thân khổ hạnh, vì thực hành khổ tột bực cũng không phải hạnh của bậc Thánh, không khế hợp với mục đích cứu cánh.”
[0701c13] “Tránh xa hai cực đoan này thì có con đường trung đạo, thành tựu đạo nhãn, thành tựu trí tuệ, được định tự tại, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn”, vấn đề này được nói vì nguyên do gì? Bởi có Thánh đạo có tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định, đó gọi là tám. Vì nguyên do này cho nên mới nói: “Tránh xa hai cực đoan này thì có con đường trung đạo, thành tựu đạo nhãn, thành tựu trí tuệ, được định tự tại, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn.”
“Có khen ngợi, có chê trách, có không khen ngợi, không chê trách mà chỉ nói pháp”, vấn đề này được nói vì nguyên do gì? Thế nào gọi là khen ngợi? Thế nào gọi là chê trách mà không nói pháp? Nghĩa là, nếu có dục tương ưng với hỷ và lạc thì đây là hành nghiệp vô cùng thấp kém, là việc làm của hàng phàm phu; pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều đó nên tự chê trách mình. Vì sao như vậy? Vì dục là vô thường, là khổ, là pháp hoại diệt. Vị ấy biết dục là vô thường nên pháp ấy nhất định có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều này cho nên tự chê trách mình.
Dù tự thân khổ hạnh cho đến khổ hạnh tột bực cũng không phải hạnh của bậc Thánh, không khế hợp với mục đích cứu cánh, pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều này nên tự chê trách mình. Vì sao như vậy? Vị Sa-môn, Phạm chí kia vì biết sự khổ đáng sợ nên mới cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, vậy mà Sa-môn, Phạm chí ấy lại đeo mang thêm sự khổ này nữa, cho nên pháp này nhất định có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết như vậy nên tự chê trách mình. 
Sự trói buộc của sanh hữu8 chưa được dứt sạch, pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều đó cho nên tự chê trách mình. Vì sao như vậy? Vì nếu sự trói buộc của sanh hữu chưa được dứt sạch thì sanh hữu kia cũng không dứt sạch. Cho nên pháp ấy nhất định có não phiền, có nóng bức, có sầu ưu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều này cho nên tự chê trách mình. Nếu sự sanh hữu đã được dứt sạch thì pháp này không có khổ, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Vị ấy biết điều này nên tự khen mình. Vì sao như vậy? Vì nếu như sự trói buộc của sanh hữu được dứt sạch thì sanh hữu của vị ấy cũng được dứt sạch, thế nên pháp ấy nhất định không khổ, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Vị ấy biết điều đó cho nên tự khen mình.
[0702a09] “Không tìm cầu sự an lạc bên trong”, pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều này nên tự chê trách mình. Vì sao như vậy? Vì nếu người nào không mong cầu sự an lạc bên trong thì người ấy cũng không tìm cầu bên trong, vậy nên người ấy nhất định có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều này nên tự chê trách mình.
“Tìm cầu an lạc bên trong”, pháp này không có khổ, không có não phiền, không có nóng bức, không có ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Vị ấy biết điều này nên tự khen mình. Vì sao như vậy? Vì nếu người nào biết tìm cầu an lạc bên trong thì người ấy cũng tìm cầu bên trong, vậy nên người ấy nhất định không có khổ, không có não phiền, không có nóng bức, không có ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Vị ấy biết điều này nên tự khen mình. Như vậy gọi là có khen ngợi, có chê trách mà không thuyết pháp; không khen ngợi, không chê trách mà chỉ thuyết pháp.
Thế nào là “không khen ngợi, không chê trách mà chỉ thuyết pháp?” Nếu có dục tương ưng với lạc, cùng đi với hỷ, là nghiệp thấp hèn, là hạnh của phàm phu thì pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều này nên liền thuyết pháp. Vì sao như vậy? Vị ấy không nói như vầy: “Dục là vô thường, là khổ, là pháp hoại diệt.” Vị ấy biết dục là vô thường nên pháp ấy nhất định có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Nếu không thấu đạt pháp này thì chỉ có pháp khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều đó nên liền thuyết pháp.
“Tự hành khổ hạnh, cho đến khổ hạnh tột bực cũng không phải hạnh của bậc Thánh, không khế hợp với mục đích cứu cánh”, pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều này nên liền thuyết pháp. Vì sao như vậy? Vị ấy không nói như vầy: “Tự hành khổ hạnh, cho đến khổ hạnh tột bực cũng không phải hạnh của bậc Thánh, không khế hợp với mục đích cứu cánh”, pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Nếu không thấu đạt pháp này thì chỉ có pháp khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều đó nên liền thuyết pháp.

[0702b03] “Sự trói buộc của sanh hữu không được dứt sạch”, pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu thuộc về tà hạnh. Vị ấy biết điều này nên liền thuyết pháp. Vì sao như vậy? Vị ấy không nói như vầy: “Nếu sự trói buộc của sanh hữu không được dứt sạch thì sự sanh hữu kia cũng không dứt sạch, thế nên người ấy nhất định có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh.” Nếu không thấu đạt pháp này thì chỉ có pháp khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy đã biết điều đó nên liền thuyết pháp.
“Sự trói buộc của sanh hữu đã được dứt sạch”, pháp này không có khổ, không có não phiền, không có nóng bức, không có ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Vị ấy biết điều này nên liền nói pháp. Vì sao như vậy? Vị ấy không nói như vầy: “Nếu sự trói buộc của sanh hữu được dứt sạch thì sanh hữu kia cũng dứt sạch, thế nên người ấy nhất định không có khổ, không có não phiền, không có nóng bức, không có ưu sầu, thuộc chánh hạnh.” Nếu không thấu đạt pháp này thì chỉ có pháp không khổ, không có não phiền, không có nóng bức, không có ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Vị ấy biết điều này nên liền thuyết pháp.
“Không mong cầu sự an lạc bên trong”, pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều này nên liền nói pháp. Vì sao như vậy? Vị ấy không nói như vầy: “Nếu người nào không mong cầu sự an lạc bên trong thì người ấy cũng không cầu bên trong. Thế nên người ấy nhất định có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh.” Nếu không thấu đạt pháp này thì chỉ có pháp khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Vị ấy biết điều này nên liền thuyết pháp.
“Mong cầu sự an lạc bên trong”, pháp này không có khổ, không có não phiền, không có nóng bức, không có ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Vị ấy biết điều này nên liền thuyết pháp. Vì sao như vậy? Vị ấy không nói như vầy: “Nếu người nào có tìm cầu sự an lạc bên trong thì người ấy cũng tìm cầu bên trong. Cho nên người ấy nhất định không có khổ, không có não phiền, không có nóng bức, không có ưu sầu, thuộc chánh hạnh.” Nếu không thấu đạt pháp này thì chỉ có pháp không khổ, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Vị ấy biết điều này nên liền thuyết pháp. Như vậy gọi là “Không khen ngợi, không chê trách mà chỉ thuyết pháp.” Vì nguyên do này cho nên mới nói có khen ngợi có chê trách, có không khen ngợi có không chê trách mà chỉ thuyết pháp.
“Nên xác quyết về sự tịnh lạc và sau khi đã xác định rõ thì hãy tìm cầu sự an lạc vốn có bên trong”, vấn đề này được nói vì nguyên do gì? Bởi vì có sự an lạc không phải là lạc của bậc Thánh mà là lạc của hàng phàm phu, là gốc của tật bệnh, là gốc của ung nhọt, là gốc của tên đâm, có thọ dụng,9 có sống chết, không đáng tu tập, không đáng hành trì, không đáng làm cho rộng lớn. Ta nói không nên tu tập đối với lạc ấy.
Có sự an lạc, là an lạc của bậc Thánh, là sự an lạc của vô dục, sự an lạc của viễn ly, là sự an lạc của tịch tĩnh, là lạc của chánh giác, không có thọ dụng, không có sống chết, đáng được tu tập, đáng được hành trì, đáng làm cho rộng lớn. Ta nói cần phải tu tập đối với lạc ấy.
[0702c04] Thế nào gọi là “Có sự an lạc không phải là lạc của bậc Thánh mà là lạc của hàng phàm phu, là gốc của tật bệnh, là gốc của ung nhọt, là gốc của tên đâm, có thọ dụng, có sống chết, không đáng tu tập, không đáng hành trì, không đáng làm cho rộng lớn. Ta nói không nên tu tập đối với lạc ấy?” Nếu nhân nơi năm thứ dục mà người ấy sanh hỷ, sanh lạc thì lạc ấy không phải là lạc của bậc Thánh mà là lạc của phàm phu, là gốc của bệnh tật, là gốc của ung nhọt, là gốc của tên đâm, có thọ dụng, có sống chết, không đáng tu tập, không đáng hành trì, không đáng làm cho rộng lớn. Ta nói không nên tu tập đối với lạc ấy.
Thế nào gọi là “Có sự an lạc, là an lạc của bậc Thánh, là lạc của vô dục, là lạc của viễn ly, là lạc của tịch tĩnh, là lạc của chánh giác, không có thọ dụng, không có sống chết, đáng được tu tập, đáng được hành trì, đáng làm cho rộng lớn. Ta nói cần phải tu tập đối với lạc ấy?” Nếu có Tỳ-kheo nào lìa dục, lìa pháp xấu ác và bất thiện, cho đến chứng đạt và an trú Thiền thứ tư thì lạc này mới là lạc của bậc Thánh, lạc của vô dục, là lạc của viễn ly, là lạc của tịch tĩnh, là lạc của chánh giác, không có thọ dụng, không sống chết, đáng được tu tập, đáng được hành trì, đáng làm cho rộng lớn. Ta nói cần phải tu tập đối với lạc ấy. Vì nguyên do này cho nên mới nói: “Nên xác quyết về sự tịnh lạc và sau khi đã xác định rõ thì hãy tìm cầu sự an lạc vốn có bên trong.”
“Không nên nói lời chê bai sau lưng, cũng không nên khen ngợi trước mặt”, vấn đề này được nói vì nguyên do gì? Bởi vì nói lời chê bai sau lưng là không chân thật, là hư dối, không tương ưng với mục đích cứu cánh; tuy cũng có lời nói chê bai sau lưng là lời chân thật, không hư dối, nhưng không tương ưng với mục đích cứu cánh; cũng có lời nói chê bai sau lưng là chân thật, không hư dối và tương ưng với mục đích cứu cánh. Trong đó, nếu có những lời chê bai sau lưng là lời không chân thật, hư dối, không tương ưng với mục đích cứu cánh thì nhất định không nói. Nếu có những lời chê bai sau lưng mà là lời chân thật, không hư dối, nhưng không tương ưng với mục đích cứu cánh thì cũng nên học tập đừng nói những lời đó. Nếu có những lời chê bai sau lưng là lời chân thật, không hư dối, tương ưng với mục đích cứu cánh thì hãy biết thời, chánh niệm tỉnh giác để thành tựu lời nói ấy. Đối với trường hợp “khen ngợi trước mặt” cũng giống như vậy. Vì nguyên do này nên mới nói: “Đừng nói lời chê bai sau lưng, cũng đừng khen ngợi trước mặt.” “Nói phải có chừng mực, chớ nói vượt quá chừng mực”, vấn đề này được nói vì nguyên do gì? Nói vượt quá chừng mực thì thân phiền muộn, niệm hay quên, tâm mệt mỏi, âm giọng khó nghe, không được rõ ràng, thông suốt;10 nói có chừng mực thì thân không phiền muộn, niệm không hay quên, tâm không mệt mỏi, âm giọng dễ nghe, rõ ràng, thông suốt. Vì nguyên do này nên mới nói: “Nói phải có chừng mực, chớ nói vượt quá chừng mực.”
[0703a02] “Tùy theo phong tục địa phương, đừng bảo đó là đúng, cũng chớ nói đó là sai”, vấn đề này được nói vì nguyên do gì? Thế nào là tùy theo phong tục địa phương? Đúng và sai ra sao? Nghĩa là tùy vào địa phương đó, xã hội đó, sự việc đó mà có nơi gọi vật đó là cái bồn, có nơi gọi là cái khay, có nơi gọi là cái chậu, có người gọi là cái chén, có người gọi là đồ đựng vật dụng. Y cứ theo địa phương đó, xã hội đó, sự việc đó mà có người gọi là cái bồn, hoặc nói là cái khay, hoặc nói là cái chậu, hoặc gọi là cái chén, hoặc gọi là đồ đựng vật dụng. Mỗi sự việc kia tùy thuộc tác dụng của nó, nên một bề cho rằng gọi như vậy là đúng, còn lại đều là sai. Như vậy gọi là tùy theo phong tục địa phương mà có đúng và sai.
Thế nào là “Tùy theo phong tục địa phương, không có đúng cũng không có sai?”
Ở địa phương đó, xã hội đó, sự việc đó, có người gọi vật đó là cái bồn, có người gọi là cái khay, có người gọi là cái chậu, có người gọi là cái chén, có người gọi là đồ đựng vật dụng. Y cứ theo địa phương đó, xã hội đó, sự việc đó mà hoặc gọi là cái bồn, hoặc gọi là cái khay, hoặc gọi là cái chậu, hoặc gọi là cái chén, hoặc gọi là đồ đựng vật dụng. Mỗi sự việc kia không tùy thuộc vào tác dụng của nó, không một bề gọi như vậy là đúng, còn lại đều là sai. Như vậy gọi là tùy theo phong tục địa phương, không có đúng không có sai. Vì nguyên do này cho nên mới nói: “Tùy theo phong tục địa phương, đừng bảo đó là đúng, cũng chớ nói đó là sai.”
“Có pháp hữu tránh và pháp vô tránh.” Thế nào là pháp hữu tránh? Thế nào là pháp vô tránh? Nếu có dục tương ưng với lạc, cùng đi với hỷ, là nghiệp thấp hèn, là hạnh của phàm phu thì pháp này gọi là hữu tránh. Vì sao pháp này gọi là hữu tránh? Vì pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh, cho nên nói pháp này là pháp hữu tránh. Nếu tự thân hành khổ hạnh, dù khổ tột cùng cũng không phải hạnh của bậc Thánh, không tương ưng mục đích cứu cánh thì pháp này gọi là pháp hữu tránh. Vì sao pháp này gọi là pháp hữu tránh? Vì pháp này có khổ, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Cho nên pháp này gọi là pháp hữu tránh. Tránh xa hai cực đoan này là con đường trung đạo, thành tựu đạo nhãn, thành tựu trí tuệ, được định tự tại, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn, pháp này là vô tránh. Vì điều gì mà nói pháp này là pháp vô tránh? Vì pháp này không khổ đau, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp vô tránh.

Sự trói buộc của sanh hữu chưa được đoạn hết thì pháp này là pháp hữu tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp hữu tránh? Vì pháp này có khổ đau, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp hữu tránh. Sự trói buộc của sanh hữu đã được đoạn hết thì pháp này là pháp vô tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp vô tránh? Vì pháp này không khổ đau, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp vô tránh.
[0703b02] Không tìm cầu an lạc bên trong, pháp này là pháp hữu tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp hữu tránh? Vì pháp này có khổ đau, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp hữu tránh. Tìm cầu an lạc bên trong, pháp này là pháp vô tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp vô tránh? Vì pháp này không khổ đau, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp vô tránh.
Trong đó, nếu có sự an lạc không phải là sự an lạc của bậc Thánh mà là lạc của phàm phu, là gốc của bệnh tật, gốc của ung nhọt, gốc của tên đâm, có thọ dụng, có sống chết thì không nên hành trì, không nên tu tập, không nên làm cho rộng lớn. Ta nói pháp ấy không nên tu tập, vì pháp này là pháp hữu tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp hữu tránh? Vì pháp này có khổ đau, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp hữu tránh.
Trong đó, nếu có sự an lạc là an lạc của bậc Thánh, lạc của vô dục, lạc của viễn ly, lạc của tịch tịnh, của chánh giác, không có thọ dụng, không có sống chết thì nên hành trì, nên tu tập, nên làm cho rộng lớn. Ta nói đối với pháp ấy cần phải tu tập thì pháp này là pháp vô tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp vô tránh? Vì pháp này không khổ đau, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp vô tránh.
Trong đó, nếu có lời nói chê bai sau lưng mà không chân thật, giả dối, không tương ưng với mục đích cứu cánh thì pháp này là pháp hữu tránh. Vì điều gì mà nói pháp này là pháp hữu tránh? Vì pháp này có khổ đau, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp hữu tránh. Trong đó, nếu có lời chê bai sau lưng mà chân thật, không giả dối, nhưng không tương ưng với mục đích cứu cánh thì pháp ấy là pháp hữu tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp hữu tránh? Vì pháp này có khổ đau, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp hữu tránh.
Trong đó, nếu có lời chê bai sau lưng, chân thật, không giả dối và tương ưng với mục đích cứu cánh thì pháp ấy là pháp vô tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp vô tránh? Vì pháp này không khổ đau, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Cho nên pháp này là pháp vô tránh. Lời nói vượt quá chừng mực thì pháp này là pháp hữu tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp hữu tránh? Vì pháp này có khổ đau, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp hữu tránh. Lời nói biết chừng mực thì pháp này là pháp vô tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp vô tránh? Vì pháp này không gây khổ đau, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp vô tránh.
[0703c01] Theo phong tục địa phương mà có đúng và sai thì pháp này là pháp hữu tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp hữu tránh? Vì pháp này có khổ đau, có não phiền, có nóng bức, có ưu sầu, thuộc tà hạnh. Cho nên pháp này là pháp hữu tránh. Tùy phong tục địa phương, không có đúng không có sai thì pháp này là pháp vô tránh. Do đâu mà nói pháp này là pháp vô tránh? Vì pháp này không gây khổ đau, không não phiền, không nóng bức, không ưu sầu, thuộc chánh hạnh. Cho nên nói pháp này là pháp vô tránh.
Đó gọi là pháp hữu tránh và pháp vô tránh.11 Các thầy cần phải biết rõ pháp gây tổn hại và pháp không gây tổn hại. Khi đã biết rõ pháp hữu tránh và pháp vô tránh thì cần phải xả bỏ pháp hữu tránh và tu tập pháp vô tránh. Các thầy nên học tập như vậy. Như vậy, thiện nam Tu-bồ-đề12 nhờ tu tập theo pháp vô tránh mà về sau biết được pháp đúng như pháp:13
Biết pháp như thật pháp,
Tu-bồ-đề thuyết kệ,
Hành chân thật không này,
Bỏ đây, trú tịch tĩnh.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.14
 

Chú thích:
1 Nguyên tác: Câu-lâu-sấu vô tránh kinh 拘樓瘦無諍經 (T.01. 0026.169. 0701b22). Tham chiếu: M. 139, Araṇavibhaṅga Sutta (Kinh vô tránh phân biệt).
2 Nguyên tác: Bà-kỳ-sấu (婆奇瘦, Bhaggesu), dân chúng của bộ tộc Bhaggā.
3 Kiếm-ma-sắt-đàm Câu-lâu đô ấp (劍磨瑟曇拘樓都邑, Kammāsadhamma), thủ đô của dân chúng Kuru.
4 Phân biệt vô tránh kinh (分別無諍經, Araṇavibhaṅga Sutta).
5 Nguyên tác: Vô nghĩa tương ưng (無義相應). Nghĩa (義): Lợi ích (attha). Tham chiếu: M. 139: Anatthasaṁhita (không liên hệ đến mục đích).
6 Nguyên tác: 莫求欲樂極下賤業,為凡夫行;亦莫求自身苦行,至苦非聖行,無義相應,離此二邊, 則有中道,成眼,成智,自在成定,趣智,趣覺,趣於涅槃. Tham chiếu: S. 56.11 - V. 420: Yo cāyaṃ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṃhito, yo cāyaṃ attakila-mathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṃhito. Ete kho, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. (Một là đắm say trong các dục, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, là con đường trung đạo, do Như Lai Chánh Giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn), HT. Thích Minh Châu dịch.
7 Nguyên tác: Đạo thuyết (導說), mang nghĩa như “tương huề” (相攜), có nghĩa là “chế nhạo lẫn nhau” (互相攙扶). M. 139: Raho vādaṃ (nói chuyện bí mật, nói lén).
8 Nguyên tác: Hữu kiết (有結). Hữu (有, bhava) là sự tồn tại của sinh mạng chúng sanh, là một yếu tố trong 12 nhân duyên. Kiết (結, saṃyojana), viết tắt của “kiết phược” (結縛), nghĩa là sự trói buộc. 
9 Nguyên tác: Hữu thực (有食). Thực (食): Sự hưởng thụ, thọ dụng (享受, 受用) thuộc thế gian. Tham chiếu: SĀ. 471: Lạc thọ thế gian, khổ thọ thế gian, không khổ không lạc thế gian (樂食受, 苦食受, 不 苦不樂食受).
10 Nguyên tác: Thanh hoại, hướng trí giả bất tự tại dã (聲壞, 向智者不自在也), nghĩa là nói nhanh quá, người nghe không kịp hiểu.
11 Nguyên tác có khả năng thiếu cụm từ “vô tránh pháp” (無諍法), chúng tôi bổ sung dựa vào văn kinh.
12 Tu-bồ-đề (須菩提, Subhūti).
13 Nguyên tác: Tri pháp như pháp (知法如法). Tham chiếu: M. 139: Subhūti ca pana, bhikkhave, kulaputto araṇapaṭipadaṁ paṭipanno”ti (Và này các Tỷ-kheo, thiện gia nam tử Subhūti (Tu-bồ-đề) đã hành trì vô tránh pháp), HT. Thích Minh Châu dịch.
14 Bản Hán, hết quyển 43. 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.