Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
[0700a01] Bấy giờ, vào buổi tối, Tôn giả A-nan nói bài kệ “Một đêm an lành”2 và ý nghĩa của bài kệ này cho các Tỳ-kheo đang nhóm họp tại giảng đường. Thế rồi, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, có vị Tỳ-kheo đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu đảnh lễ Ngài rồi ngồi sang một bên và thưa:
– Kính bạch Thế Tôn! Tối hôm qua, Tôn giả A-nan có nói bài kệ “Một đêm an lành” và ý nghĩa của bài kệ này cho các Tỳ-kheo nhóm họp tại giảng đường.
Khi đó, đức Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:
– Thầy hãy đi đến chỗ của Tỳ-kheo A-nan rồi nói như vầy: “Thưa Tôn giả A-nan! Thế Tôn truyền gọi thầy.”
Vị Tỳ-kheo kia vâng lời đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ và nhiễu quanh Phật ba vòng rồi đi đến chỗ của Tôn giả A-nan và nói:
– Đức Thế Tôn truyền gọi Tôn giả A-nan! Tôn giả A-nan liền đến chỗ đức Phật, cúi đầu đảnh lễ rồi đứng sang một bên.
Đức Thế Tôn liền hỏi:
– Này A-nan! Tối hôm qua, có thật thầy đã nói bài kệ “Một đêm an lành” và ý nghĩa của bài kệ ấy cho các Tỳ-kheo nhóm họp tại giảng đường?
Tôn giả A-nan đáp:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn!
Đức Thế Tôn lại hỏi:
– Này A-nan! Thầy nói bài kệ “Một đêm an lành” và ý nghĩa của bài kệ ấy cho các Tỳ-kheo nghe như thế nào?
Tôn giả A-nan liền đọc bài kệ:
Chớ nghĩ về quá khứ,
Đừng mơ tưởng tương lai,
Quá khứ đã qua rồi,
Tương lai thì chưa đến.
Chỉ có pháp hiện tại,
Tỳ-kheo hãy tư duy,
Ý niệm thường đổi thay,
Người trí nên biết vậy.
Nếu tu theo bậc Thánh, Thấu rõ nỗi chết sầu, Ta cần tránh xa mau, Chấm dứt đại khổ nạn. Gắng tinh cần như vậy, Ngày đêm chẳng biếng lười, Thế nên thường tụng đọc, Kệ “Một đêm an lành.”
Đức Thế Tôn lại hỏi:
– Này A-nan! Thế nào là Tỳ-kheo nhớ nghĩ quá khứ?
Tôn giả A-nan đáp:
– Kính bạch Thế Tôn! Nếu Tỳ-kheo vui thích đối với sắc ở quá khứ, tham muốn, chấp trước và dính mắc vào đó; vui thích với thọ, tưởng, hành, thức3 ở quá khứ, ham muốn, chấp trước và dính mắc vào đó thì gọi là Tỳ-kheo nhớ nghĩ quá khứ.
Thế Tôn lại hỏi:
– Này A-nan! Thế nào là Tỳ-kheo không nhớ nghĩ quá khứ?
Tôn giả A-nan đáp:
– Kính bạch Thế Tôn!
Nếu Tỳ-kheo không vui thích đối với sắc ở quá khứ, không ham muốn, không chấp trước cũng không dính mắc vào đó; không vui thích đối với thọ, tưởng, hành, thức ở quá khứ, không ham muốn, không chấp trước cũng không dính mắc vào đó thì gọi là Tỳ-kheo không nhớ nghĩ quá khứ.
[0700b01] Thế Tôn lại hỏi:
– Này A-nan! Thế nào là Tỳ-kheo mong cầu tương lai?
Tôn giả A-nan đáp:
– Kính bạch Thế Tôn! Nếu Tỳ-kheo vui thích đối với sắc ở tương lai, ham muốn, chấp trước và dính mắc vào đó; vui thích đối với thọ, tưởng, hành, thức ở tương lai, ham muốn, chấp trước và dính mắc vào đó thì gọi là Tỳ-kheo mong cầu ở tương lai.
Thế Tôn lại hỏi:
– Này A-nan! Thế nào là Tỳ-kheo không mong cầu ở tương lai?
Tôn giả A-nan đáp:
– Kính bạch Thế Tôn! Nếu Tỳ-kheo không vui thích đối với sắc ở tương lai, không ham muốn, không chấp trước cũng không dính mắc vào đó; không vui thích đối với thọ, tưởng, hành, thức ở tương lai, không ham muốn, không chấp trước cũng không dính mắc vào đó thì gọi là Tỳ-kheo không mong cầu ở tương lai.
Thế Tôn lại hỏi:
– Này A-nan! Thế nào là Tỳ-kheo chấp thủ pháp hiện tại?
Tôn giả A-nan đáp:
– Kính bạch Thế Tôn! Nếu Tỳ-kheo vui thích đối với sắc ở hiện tại, ham muốn, vướng mắc và an trú vào đó; vui thích đối với thọ, tưởng, hành, thức ở hiện tại, ham muốn, chấp trước và dính mắc vào đó thì gọi là Tỳ-kheo chấp thủ pháp hiện tại.
Thế Tôn lại hỏi:
– Này A-nan! Thế nào là Tỳ-kheo không chấp thủ pháp hiện tại?
Tôn giả A-nan đáp:
– Kính bạch Thế Tôn! Nếu Tỳ-kheo không vui thích đối với sắc ở hiện tại, không ham muốn, không chấp trước cũng không dính mắc vào đó; không vui thích đối với thọ, tưởng, hành, thức ở hiện tại, không ham muốn, không chấp trước cũng không dính mắc vào đó thì gọi là Tỳ-kheo không chấp thủ pháp hiện tại.
Kính bạch Thế Tôn! Con đã nói bài kệ “Một đêm an lành” và ý nghĩa của bài kệ này như vậy cho các Tỳ-kheo nhóm họp tại giảng đường vào tối hôm qua.
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Lành thay, lành thay! Đệ tử của Như Lai là người có mắt, có trí, hiểu nghĩa lý, hiểu pháp vị. Vì sao như vậy? Vì đối trước bậc Tôn sư, vị đệ tử đã khéo giảng giải câu cú, văn tự nghĩa lý của bài kệ này như vậy. Thật đúng như lời Tỳ-kheo A-nan đã nói, các thầy hãy nên như thế mà thọ trì. Vì sao như vậy? Vì việc tư duy và diễn giảng về ý nghĩa bài kệ này phải đúng như thế.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
1 Nguyên tác: A-nan thuyết kinh 阿難說經 (T.01. 0026.167. 0699c27). Tham chiếu: M. 132, Ānandabhaddekaratta Sutta (Kinh A-nan nhất dạ hiền giả).
2 Nguyên tác: Bạt-địa-la-đế (跋地羅帝). Xem chú thích 5, kinh số 165, tr. 1093.
3 Nguyên tác: Sắc, giác, tưởng, hành, thức (色覺想行識): Sắc (色, rūpa), thọ (受, vedanā), tưởng (想, saññā), hành (行, saṅkhārā), thức (識, viññāṇa).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.