Viện Nghiên Cứu Phật Học

165. KINH THIÊN THẦN Ở RỪNG ÔN TUYỀN1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa thành Vương Xá, ngụ tại Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa. 2
Bấy giờ, Tôn giả Tam-di-đề3 cũng đến thành Vương Xá, trú trong rừng Ôn Tuyền. 4 Một hôm, trời vừa rạng sáng, Tôn giả Tam-di-đề ra khỏi phòng đến suối Ôn Tuyền, cởi áo để trên bờ rồi xuống suối tắm rửa. Tắm xong, Tôn giả lên bờ, lau thân thể rồi mặc áo vào. Khi ấy, trời vừa rạng sáng, có một thiên thần dung sắc thù thắng, tướng mạo uy nghi, đến chỗ Tôn giả Tam-di-đề cúi đầu đảnh lễ rồi đứng sang một bên. Dung sắc oai thần của vị thiên thần ấy vô cùng tuyệt diệu, rạng ngời chiếu soi khắp cả bờ suối Ôn Tuyền. Sau khi đứng sang một bên rồi, thiên thần liền thưa với Tôn giả Tam-di-đề:
– Tỳ-kheo! Thầy có thọ trì bài kệ “Một đêm an lành”5 hay không?
Tôn giả Tam-di-đề đáp:
– Tôi không thọ trì bài kệ “Một đêm an lành.”
Khi ấy, Tam-di-đề hỏi lại thiên thần:
– Ngài có thọ trì bài kệ “Một đêm an lành” hay không?
Thiên thần đáp:
– Tôi cũng không thọ trì bài kệ “Một đêm an lành” ấy.
Tôn giả lại hỏi:
– Thế thì ai thọ trì bài kệ “Một đêm an lành” vậy?
Thiên thần trả lời:
– Đức Thế Tôn đang du hóa tại thành Vương Xá này, trú trong rừng trúc Ca-lan-đa, Ngài có thọ trì bài kệ “Một đêm an lành.” Tỳ-kheo! Thầy hãy đến diện kiến và nương theo Thế Tôn rồi khéo thọ trì, tụng tập bài kệ “Một đêm an lành.” Vì sao như vậy? Vì bài kệ “Một đêm an lành” ấy có pháp, có nghĩa, là căn bản Phạm hạnh, đưa đến trí, đưa đến giác, đưa đến Niết-bàn. Là người thiện nam có niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, thầy cần phải khéo léo thọ trì, tụng tập bài kệ “Một đêm an lành” ấy.
Thiên thần nói như vậy xong, cúi lạy sát chân Tôn giả Tam-di-đề, nhiễu quanh ba vòng rồi biến mất khỏi nơi ấy. Sau khi thiên thần biến mất không lâu, Tôn giả Tam-di-đề đến chỗ đức Phật, cung kính đảnh lễ rồi ngồi sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Hôm nay, lúc trời hừng sáng, con ra khỏi phòng đến suối Ôn Tuyền, cởi áo để trên bờ rồi xuống suối tắm rửa. Tắm xong, con lên bờ, lau thân thể rồi mặc áo vào. Khi ấy trời vừa rạng sáng, bỗng có một thiên thần dung nhan thù thắng, tướng mạo uy nghi đến chỗ con cúi đầu đảnh lễ rồi đứng sang một bên. Lúc ấy, ánh sáng thần diệu từ thiên thần chói sáng khắp bờ suối Ôn Tuyền. Sau khi đứng sang một bên rồi, thiên thần ấy liền thưa với con: “Tỳ-kheo! Thầy có thọ trì bài kệ ‘Một đêm an lành’ hay không?” Con đáp: “Tôi không thọ trì bài kệ ‘Một đêm an lành.’” Khi ấy, con liền hỏi lại thiên thần: “Ngài có thọ trì bài kệ ‘Một đêm an lành’ hay không?” Thiên thần đáp: “Tôi cũng không thọ trì bài kệ ‘Một đêm an lành’ ấy.” Con lại hỏi: “Thế thì ai thọ trì bài kệ ‘Một đêm an lành’ vậy?” Thiên thần trả lời: “Đức Thế Tôn đang du hóa tại thành Vương Xá này, trú trong rừng trúc Ca-lan-đa, Ngài có thọ trì bài kệ ‘Một đêm an lành.’ Tỳ-kheo! Thầy hãy đến diện kiến và nương theo Thế Tôn rồi khéo léo thọ trì, tụng tập bài kệ ‘Một đêm an lành.’ Vì sao như vậy? Vì bài kệ ‘Một đêm an lành’ ấy có pháp, có nghĩa, là căn bản Phạm hạnh, đưa đến trí, đưa đến giác, đưa đến Niết-bàn. Là người thiện nam có niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, thầy cần phải khéo léo thọ trì, tụng tập bài kệ ‘Một đêm an lành’ ấy.” Thiên thần nói như vậy xong, cúi lạy sát chân con rồi nhiễu quanh ba vòng và biến mất khỏi nơi ấy.

[0697a08] Nghe xong, Thế Tôn hỏi:
– Này Tam-di-đề! Thầy có biết thiên thần kia từ đâu đến và tên là gì chăng?
Tôn giả Tam-di-đề đáp:
– Bạch Thế Tôn! Con không biết thiên thần kia từ đâu đến, cũng không biết vị ấy tên gì. Thế Tôn bảo:
– Này Tam-di-đề! Thiên thần kia tên Chánh Điện, làm tướng quân ở cõi trời Ba Mươi Ba. Khi ấy, Tôn giả Tam-di-đề thưa:
– Bạch Thế Tôn! Nay thật đúng thời. Bạch Thiện Thệ! Nay thật đúng lúc. Nếu Thế Tôn vì chúng Tỳ-kheo mà nói bài kệ “Một đêm an lành” thì các Tỳ-kheo sau khi nghe xong, sẽ khéo thọ trì. 
Thế Tôn bảo:
– Này Tam-di-đề! Hãy lắng nghe, lắng nghe và khéo nhớ nghĩ, Ta sẽ nói cho thầy nghe. Tôn giả Tam-di-đề đáp:
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
Lúc đó, các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Đức Phật dạy:


Chớ nghĩ về quá khứ,
Đừng mơ tưởng tương lai,
Quá khứ đã qua rồi,
Tương lai thì chưa đến.
Chỉ có pháp hiện tại,
Tỳ-kheo hãy tư duy,
Ý niệm thường đổi thay,
Người trí nên biết vậy.
Nếu tu theo bậc Thánh,
Thấu rõ nỗi chết sầu,
Ta cần tránh xa mau,
Chấm dứt đại khổ nạn.
Gắng tinh cần như vậy,
Ngày đêm chẳng biếng lười,
Thế nên thường tụng đọc,
Kệ “Một đêm an lành.”
 

Đức Phật dạy như vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa. Bấy giờ, các Tỳ-kheo liền suy nghĩ: “Chư Hiền! Nên biết rằng Thế Tôn chỉ nói bài kệ tóm tắt này, không giải thích tường tận, rồi liền rời chỗ ngồi đi vào tịnh thất tĩnh tọa:


Chớ nghĩ về quá khứ,
Đừng mơ tưởng tương lai,
Quá khứ đã qua rồi,
Tương lai thì chưa đến.
Chỉ có pháp hiện tại,
Tỳ-kheo hãy tư duy,
Ý niệm thường đổi thay,
Người trí nên biết vậy.
Nếu tu theo bậc Thánh,
Thấu rõ nỗi chết sầu,
Ta cần tránh xa mau,
Chấm dứt đại khổ nạn.
Gắng tinh cần như vậy,
Ngày đêm chẳng biếng lười,
Thế nên thường tụng đọc,
Kệ ‘Một đêm an lành.’”
 

[0697b08] Các Tỳ-kheo ấy lại nghĩ: “Này chư Hiền, ai có thể giải thích tường tận nghĩa mà Thế Tôn vừa nói một cách tóm tắt đó?” Các vị ấy lại nghĩ: “Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn khen ngợi và được các bậc Phạm hạnh có trí tuệ kính trọng. Như vậy, Tôn giả ấy có thể giải thích tường tận những ý nghĩa mà Thế Tôn vừa nói tóm tắt. Này chư Hiền! Chúng ta hãy cùng đến chỗ Đại Ca-chiên-diên để thỉnh Tôn giả giải thích nghĩa này. Nếu Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có giải thích điều gì thì chúng ta hãy khéo thọ trì.” Thế rồi, các Tỳ-kheo đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, cùng chào hỏi xong rồi ngồi sang một bên và thưa:
– Tôn giả Đại Ca-chiên-diên! Xin Tôn giả biết cho, đức Thế Tôn vừa nói tóm tắt bài kệ này, không giải thích tường tận, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào thất tĩnh tọa:

Chớ nghĩ về quá khứ,
Đừng mơ tưởng tương lai
Quá khứ đã qua rồi,
Tương lai thì chưa đến. 
Chỉ có pháp hiện tại,
Tỳ-kheo hãy tư duy,
Ý niệm thường đổi thay,
Người trí nên biết vậy.
Nếu tu theo bậc Thánh,
Thấu rõ nỗi chết sầu,
Ta cần tránh xa mau,
Chấm dứt đại khổ nạn.
Gắng tinh cần như vậy,
Ngày đêm chẳng biếng lười,
Thế nên thường tụng đọc,
Kệ “Một đêm an lành.”


Chúng tôi liền suy nghĩ: “Ai có thể giải thích tường tận những nghĩa mà Thế Tôn đã nói tóm tắt đó?” Chúng tôi lại nghĩ: “Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn khen ngợi và được các bậc Phạm hạnh có trí tuệ kính trọng. Như vậy, Tôn giả ấy có thể giải thích tường tận những nghĩa mà Thế Tôn vừa nói tóm tắt đó.” Cúi xin Tôn giả Đại Ca-chiên-diên rủ lòng thương tưởng mà giảng rõ nghĩa ấy. Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên bảo:
– Chư Hiền! Hãy lắng nghe tôi nói ví dụ, người trí nhờ nghe ví dụ sẽ hiểu được ý nghĩa. Chư Hiền! Như có người muốn tìm lõi cây,6 vì mong được lõi cây nên vác búa vào rừng, thấy cây cao lớn có đầy đủ gốc, thân, cành, nhánh, lá, hoa và lõi, nhưng người ấy không đốn gốc, thân, cành và lõi mà chỉ chặt nhánh và lá. Những điều chư Hiền vừa nói cũng giống như vậy. Thế Tôn vẫn còn ở đời mà chư Hiền không thưa hỏi lại đi tìm tôi để hỏi về nghĩa này. Vì sao như thế? Chư Hiền! Nên biết Thế Tôn là bậc có mắt, có trí, có nghĩa, có pháp, là đấng Pháp Chủ, Pháp tướng, nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả nghĩa, do vậy hiệu Ngài là Thế Tôn. Chư Hiền! Nên đến chỗ Thế Tôn mà hỏi nghĩa ấy: “Bạch Thế Tôn! Điều này như thế nào? Điều này có nghĩa gì?” Thế Tôn giảng giải thế nào thì các vị hãy khéo thọ trì thế ấy.
[0697c10] Lúc đó, các Tỳ-kheo thưa:
– Thưa vâng, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên! Thế Tôn là bậc có mắt, có trí, có nghĩa, có pháp, là đấng Pháp Chủ, Pháp tướng, nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả nghĩa, do vậy hiệu Ngài là Thế Tôn. Lẽ ra chúng tôi nên đến chỗ Thế Tôn để hỏi về nghĩa này: “Bạch Thế Tôn! Điều này như thế nào? Điều này có nghĩa gì?” Nếu Thế Tôn dạy thế nào thì chúng tôi sẽ khéo thọ trì thế ấy. Nhưng chúng tôi lại nghĩ, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn khen ngợi và được các bậc Phạm hạnh có trí tuệ kính trọng nên Tôn giả có thể giải thích tường tận những nghĩa mà Thế Tôn vừa giảng nói tóm tắt. Cúi xin Tôn giả Đại Ca-chiên-diên rủ lòng thương tưởng mà giảng rõ nghĩa ấy cho! Tôn giả Đại Ca-chiên-diên liền bảo các Tỳ-kheo:
– Vậy chư Hiền! Hãy lắng nghe tôi nói. Thế nào là Tỳ-kheo nhớ nghĩ về quá khứ? Chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo nào thật sự có mắt biết sắc đáng ưa, vừa ý, đáng nhớ, yêu thích sắc, tâm ưa thích do tương ưng với dục nên truy tìm ngọn nguồn, ngọn nguồn tức là quá khứ. Thức ở quá khứ của vị ấy bị nhiễm trước bởi dục; do thức ấy bị nhiễm trước bởi dục nên càng ưa thích; do ưa thích nên càng nghĩ tưởng quá khứ. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân cũng như vậy; khi ý biết pháp đáng ưa, vừa ý, đáng nhớ, yêu thích pháp, tâm ưa thích do tương ưng với dục nên truy tìm ngọn nguồn và ngọn nguồn tức là quá khứ. Thức ở quá khứ của vị ấy bị nhiễm trước bởi dục; do thức ấy bị nhiễm trước bởi dục nên càng ưa thích; do ưa thích nên càng nghĩ tưởng quá khứ. Hiền giả, như vậy gọi là Tỳ-kheo nghĩ tưởng quá khứ.
Chư Hiền! Thế nào là Tỳ-kheo không nghĩ tưởng quá khứ? Chư Hiền! Tỳ-kheo nào thật sự có mắt biết sắc đáng ưa, vừa ý, đáng nhớ, yêu thích sắc, ưa thích do tương ưng với dục nên truy tìm ngọn nguồn, ngọn nguồn tức là quá khứ. Thế nhưng, thức ở quá khứ của vị ấy không bị nhiễm trước bởi dục; do thức ấy không bị nhiễm trước bởi dục nên không ưa thích; do không ưa thích nên không nghĩ tưởng quá khứ. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân cũng như vậy; khi ý biết pháp đáng ưa, vừa ý, đáng nhớ, yêu thích pháp, ưa thích do tương ưng với dục nên truy tìm ngọn nguồn và ngọn nguồn tức là quá khứ. Thế nhưng, thức ở quá khứ của vị ấy không bị nhiễm trước bởi dục; do thức ấy không bị nhiễm trước bởi dục nên không ưa thích, do không ưa thích nên không nghĩ tưởng quá khứ. Hiền giả, như vậy gọi là Tỳ-kheo không nhớ nghĩ quá khứ.
[0698a08] Thế nào là Tỳ-kheo mơ tưởng tương lai? Chư Hiền! Tỳ-kheo nào đối với nhãn căn, sắc trần và nhãn thức ở tương lai, nếu chưa được thì mong có được, đã được thì tâm mơ tưởng, do tâm mơ tưởng nên ưa thích, do ưa thích nên lại mơ tưởng tương lai. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân cũng như vậy; Tỳ-kheo nào đối với ý căn, pháp trần và ý thức ở tương lai, nếu chưa được thì mong có được, đã được thì tâm mơ tưởng, do tâm mơ tưởng nên ưa thích, do ưa thích nên lại mơ tưởng tương lai. Này chư Hiền, như vậy gọi là Tỳ-kheo mơ tưởng tương lai. Thế nào là Tỳ-kheo không mơ tưởng tương lai? Chư Hiền! Tỳ-kheo nào đối với nhãn căn, sắc trần và nhãn thức ở tương lai, nếu chưa được thì không mong được, đã được thì tâm không mơ tưởng, do tâm không mơ tưởng nên không ưa thích, do không ưa thích nên không mơ tưởng tương lai. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân cũng như vậy; Tỳ-kheo nào đối với ý căn, pháp trần và ý thức ở tương lai, nếu chưa được thì không mong được, đã được thì tâm không mơ tưởng, do tâm không mơ tưởng nên không ưa thích, do không ưa thích nên không mơ tưởng tương lai. Này chư Hiền, như vậy gọi là Tỳ-kheo không mơ tưởng tương lai.
Này chư Hiền! Thế nào là Tỳ-kheo chấp thủ pháp hiện tại? Chư Hiền! Tỳ-kheo nào đối với nhãn căn, sắc trần và nhãn thức ở hiện tại, nếu thức ở hiện tại của vị ấy bị nhiễm trước bởi dục, do thức ấy bị nhiễm trước bởi dục nên ưa thích, do ưa thích nên chấp thủ pháp hiện tại. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân cũng như vậy; Tỳ-kheo nào đối với ý căn, pháp trần và ý thức ở hiện tại, nếu thức ở hiện tại của vị ấy bị nhiễm trước bởi dục, do thức ấy bị nhiễm trước bởi dục nên ưa thích, do ưa thích nên chấp thủ pháp hiện tại. Này chư Hiền, như vậy là Tỳ-kheo chấp thủ pháp hiện tại.
 

Thế nào là Tỳ-kheo không chấp thủ pháp hiện tại? Chư Hiền! Tỳ-kheo nào đối với nhãn căn, sắc trần và nhãn thức ở hiện tại, nếu thức ở hiện tại của vị ấy không bị nhiễm trước bởi dục, do thức ấy không bị nhiễm trước bởi dục nên không ưa thích, do không ưa thích nên không chấp thủ pháp hiện tại. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân cũng như vậy; Tỳ-kheo nào đối với ý căn, pháp trần và ý thức ở hiện tại, nếu thức ở hiện tại của vị ấy không bị nhiễm trước bởi dục, do thức ấy không bị nhiễm trước bởi dục nên không ưa thích, do không ưa thích nên không chấp thủ pháp hiện tại. Này chư Hiền, như vậy là Tỳ-kheo không chấp thủ pháp hiện tại.


[0698b05] Này chư Hiền! Thế Tôn đã nói tóm tắt bài kệ này, không giải thích tường tận, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào thất tĩnh tọa:


Chớ nghĩ về quá khứ,
Đừng mơ tưởng tương lai,
Quá khứ đã qua rồi,
Tương lai thì chưa đến.
Chỉ có pháp hiện tại,
Tỳ-kheo hãy tư duy,
Ý niệm thường đổi thay,
Người trí nên biết vậy.
Nếu tu theo bậc Thánh,
Thấu rõ nỗi chết sầu,
Ta cần tránh xa mau,
Chấm dứt đại khổ nạn.
Gắng tinh cần như vậy,
Ngày đêm chẳng biếng lười,
Thế nên thường tụng đọc,
Kệ “Một đêm an lành.”


Ở đây, Thế Tôn chỉ giảng nói tóm tắt bài kệ này, không giải thích tường tận, tôi đã dùng văn cú như trên, lời lẽ như trên để giải thích rõ ràng như thế. Này chư Hiền! Các vị hãy đến chỗ Thế Tôn trình bày đầy đủ, nếu đức Thế Tôn dạy nghĩa gì thì chư Hiền nên thọ trì nghĩa ấy.
Khi các Tỳ-kheo nghe Tôn giả Đại Ca-chiên-diên chỉ bày, liền khéo ghi nhớ thọ trì, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy nhiễu quanh Tôn giả ba vòng, sau đó lui ra đi đến chỗ Thế Tôn cúi lạy xong, ngồi sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Vừa rồi Thế Tôn chỉ giảng nói tóm tắt về nghĩa này, không giải thích tường tận, rồi Ngài liền rời khỏi chỗ ngồi đi vào thất tĩnh tọa. Thế nên, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên đã dùng văn cú như vầy, lời lẽ như vầy để giải thích rõ ràng về nghĩa đó. Thế Tôn nghe xong, liền khen ngợi:
– Lành thay, lành thay! Đệ tử của Ta đúng là bậc có mắt, có trí, có pháp, có nghĩa. Vì sao như thế? Vì Ta chỉ nói tóm tắt về nghĩa này, không giải thích tường tận, nhưng đệ tử ấy đã dùng văn cú như vầy, lời lẽ như vầy để giải thích rõ ràng nghĩa ấy. Đúng như những điều mà Tỳ-kheo Đại Ca-chiên-diên đã giảng giải, các thầy hãy nên như vậy mà thọ trì. Vì sao như thế? Vì đã quán thông ý nghĩa nên giảng nói như vậy.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú thích:

1 Quyển 43. Nguyên tác: Ôn Tuyền lâm thiên kinh 溫泉林天經 (T.01. 0026.165. 0696b26). Tham chiếu: M. 133, Mahākaccānabhaddekaratta Sutta (Kinh Ðại Ca-chiên-diên nhất dạ hiền giả).
2 Nguyên tác: Trúc lâm Ca-lan-đa viên (竹林加蘭哆園, Kāraṇḍa Veḷuvana).
3 Tôn giả Tam-di-đề (尊者三彌提, Āyasmā Samiddhi).
4 Nguyên tác: Ôn Tuyền lâm (溫泉林, Tapodārama), khu rừng có suối nước nóng (Ôn Tuyền, Pāli ghi là Tapodā), dưới chân núi Vebhāra, ngoài thành Vương Xá. Do vì đây là một địa danh nổi tiếng nên sử dụng Ôn Tuyền như một danh từ riêng.
5 Nguyên tác: Bạt-địa-la-đế (跋地羅帝), phiên âm từ bhaddekaratta, gồm 2 thành tố là bhadda (an lành, điềm lành, tốt đẹp) và ekaratta (một đêm).
6 Nguyên tác: Thật (實): Rắn chắc (堅實). Tham chiếu: A. 10.115 - V. 224: Sāra (cốt lõi, lõi cây). 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.