Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Ta sẽ thuyết pháp cho các thầy, phần đầu thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, mở bày Phạm hạnh, đó gọi là Kinh phân biệt quán pháp. Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ!
Lúc đó, các Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Chúng con mong được thọ giáo.
Đức Phật dạy:
– Này Tỳ-kheo! Hãy quán như vậy, như vậy. Này Tỳ-kheo, nếu các thầy quán như vậy rồi mà tâm vẫn hướng ra bên ngoài, bị phân tán, tâm không an trú bên trong, do chấp thủ nên sợ hãi.2 Này Tỳ-kheo, hãy quán như vậy, như vậy. Nếu các thầy quán như vậy rồi, tâm không hướng ra bên ngoài, không bị phân tán, tâm an trú bên trong, do không chấp thủ nên không sợ hãi, như vậy sẽ không còn sanh, già, bệnh, chết nữa. Đó gọi là sự diệt tận khổ.
Đức Phật dạy như thế xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào thất tĩnh tọa. Bấy giờ, các Tỳ-kheo liền suy nghĩ: “Chư Hiền! Nên biết Thế Tôn chỉ nói sơ lược nghĩa này chứ không giải thích tường tận, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào thất tĩnh tọa: ‘Này các Tỳ-kheo! Hãy quán như vậy, như vậy. Này Tỳ-kheo, nếu các thầy quán như vậy rồi mà tâm vẫn hướng ra bên ngoài, bị phân tán, tâm không an trú bên trong, do chấp thủ nên sợ hãi. Này Tỳ-kheo, hãy quán như vậy, như vậy. Nếu các thầy quán như vậy rồi, tâm không hướng ra bên ngoài, không bị phân tán, tâm an trú bên trong, do không chấp thủ nên không sợ hãi, như vậy sẽ không còn sanh, già, bệnh, chết nữa. Đó gọi là sự diệt tận khổ.’”
Các Tỳ-kheo lại nghĩ: “Chư Hiền! Ai có thể giải thích tường tận những ý nghĩa mà Thế Tôn vừa lược thuyết?” Các vị ấy lại nghĩ: “Tôn giả Đại Ca-chiêndiên3 thường được Thế Tôn khen ngợi và các bậc trí tuệ Phạm hạnh kính trọng. Như vậy, Tôn giả ấy có thể giải thích tường tận những ý nghĩa mà Thế Tôn vừa lược thuyết. Này chư Hiền! Chúng ta hãy cùng đến chỗ Đại Ca-chiên-diên để thỉnh Tôn giả giải thích nghĩa này. Nếu Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có giải thích điều gì thì chúng ta hãy khéo thọ trì.”
[0694c08] Thế rồi, các Tỳ-kheo đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, cùng chào hỏi xong rồi ngồi sang một bên và thưa:
– Thưa Tôn giả! Vừa rồi Thế Tôn lược thuyết nghĩa này nhưng không giải thích tường tận, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào thất tĩnh tọa. Ngài dạy: “Các Tỳ-kheo! Hãy quán như vậy, như vậy. Này Tỳ-kheo, nếu các thầy quán như vậy rồi mà tâm vẫn hướng ra bên ngoài, bị phân tán, tâm không an trú bên trong, do chấp thủ nên sợ hãi. Này Tỳ-kheo, hãy quán như vậy, như vậy. Nếu các thầy quán như vậy rồi, tâm không hướng ra bên ngoài, không bị phân tán, tâm an trú bên trong, do không chấp thủ nên không sợ hãi, như vậy sẽ không còn sanh, già, bệnh, chết nữa. Đó gọi là sự diệt tận khổ.” Chúng tôi liền suy nghĩ: “Ai có thể giải thích tường tận những ý nghĩa mà Thế Tôn lược thuyết đó?” Chúng tôi lại nghĩ: “Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn khen ngợi và các bậc trí tuệ Phạm hạnh kính trọng. Như vậy, Tôn giả ấy có thể giải thích tường tận những ý nghĩa mà Thế Tôn vừa lược thuyết.”
Cúi xin Tôn giả Đại Ca-chiên-diên rủ lòng thương tưởng mà giảng rõ nghĩa ấy.
Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên bảo rằng:
– Chư Hiền! Hãy lắng nghe tôi nói ví dụ, người trí nhờ nghe ví dụ sẽ hiểu được nghĩa. Chư Hiền! Ví như có người muốn tìm lõi cây,4 vì mong được lõi cây nên vác búa vào rừng, thấy cây cao lớn có đầy đủ gốc, thân, cành, nhánh, lá, hoa và lõi, nhưng người ấy không đốn gốc, thân, cành và lõi mà chỉ chặt nhánh và lá. Những điều chư Hiền vừa nói cũng giống như vậy. Thế Tôn vẫn còn ở đời mà chư Hiền không thưa hỏi, lại đi tìm tôi để hỏi về nghĩa này. Vì sao như thế? Chư Hiền! Nên biết Thế Tôn là bậc có mắt, có trí, có nghĩa, có pháp, là đấng Pháp Chủ, Pháp tướng, nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả nghĩa; do vậy hiệu của Ngài là Thế Tôn. Chư Hiền! Nên đến chỗ Thế Tôn mà hỏi nghĩa ấy: “Bạch Thế Tôn! Điều này như thế nào? Điều này có nghĩa gì?” Thế Tôn giảng giải thế nào thì các vị hãy khéo thọ trì thế ấy.
[0695a01] Lúc đó, các Tỳ-kheo thưa:
– Thưa vâng, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên! Thế Tôn là bậc có mắt, có trí, có nghĩa, có pháp, là đấng Pháp Chủ, Pháp tướng, nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả nghĩa; do vậy hiệu Ngài là Thế Tôn. Lẽ ra chúng tôi nên đến chỗ Thế Tôn để hỏi về nghĩa này: “Bạch Thế Tôn! Điều này như thế nào? Điều này có nghĩa gì?” Nếu Thế Tôn dạy thế nào thì chúng tôi sẽ khéo thọ trì thế ấy. Nhưng chúng tôi lại nghĩ, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn khen ngợi và các bậc trí tuệ Phạm hạnh kính trọng nên Tôn giả có thể giải thích tường tận những nghĩa mà Thế Tôn vừa giảng thuyết sơ lược. Cúi xin Tôn giả Đại Ca-chiên-diên rủ lòng thương tưởng mà giảng rõ nghĩa ấy cho!
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên bảo các Tỳ-kheo:
– Này chư Hiền! Hãy lắng nghe tôi nói. Chư Hiền, thế nào gọi là tâm Tỳ-kheo hướng ra bên ngoài, bị phân tán? Chư Hiền! Tỳ-kheo ấy, khi mắt thấy sắc, thức theo sắc tướng, thức đắm vào tướng đáng ưa của sắc, thức bị trói bởi tướng đáng ưa của sắc, do vị ngọt của sắc tướng ấy ràng buộc tâm nên tâm hướng ra bên ngoài, bị phân tán. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy, khi ý biết pháp, thức theo pháp tướng, thức đắm vào tướng đáng ưa của pháp, thức bị trói bởi tướng đáng ưa của pháp, do vị ngọt của pháp tướng ấy ràng buộc tâm nên tâm hướng ra bên ngoài, bị phân tán. Này chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo hướng ra bên ngoài, bị phân tán.
Chư Hiền! Thế nào gọi là tâm Tỳ-kheo không hướng ra bên ngoài, không bị phân tán? Chư Hiền! Tỳ-kheo ấy, khi mắt thấy sắc, thức không theo sắc tướng, thức không đắm vào tướng đáng ưa của sắc, thức không bị trói bởi tướng đáng ưa của sắc; do vị ngọt của sắc tướng ấy không thể ràng buộc tâm nên tâm không hướng ra bên ngoài, không bị phân tán. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy, khi ý biết pháp, thức không theo pháp tướng, thức không đắm vào tướng đáng ưa của pháp, thức không bị trói bởi tướng đáng ưa của pháp, do vị ngọt của pháp tướng ấy không thể ràng buộc tâm nên tâm không hướng ra bên ngoài, không bị phân tán. Chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo không hướng ra bên ngoài, không bị phân tán. Thế nào là tâm Tỳ-kheo không an trú bên trong? Chư Hiền! Tỳ-kheo lìa bỏ dục và các pháp bất thiện, có giác, có quán, cùng với hỷ, lạc được sanh ra do sự viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Rồi thức của vị ấy đắm vào vị ngọt của sự xa lìa đó, nương vào đó, trụ vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó nên thức không an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác không quán. Rồi thức của vị ấy đắm vào vị ngọt của định, nương vào đó, trụ vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó nên thức không an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm. Rồi thức của vị ấy đắm vào vị ngọt của sự ly hỷ, nương vào đó, trụ vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó nên thức không an trú bên trong. Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo khi đã diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh. Rồi thức của vị ấy đắm vào vị ngọt của xả, niệm thanh tịnh, nương vào đó trụ vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó nên thức không an trú bên trong.
[0695b07] Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo vượt thoát sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không niệm tạp tưởng, nhập hư không vô lượng, thành tựu an trú Không vô biên xứ. Rồi thức của vị ấy đắm vào vị ngọt của không trí, nương vào đó, trụ vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó nên thức không an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo vượt thoát tất cả Không vô biên xứ, nhập thức vô lượng, thành tựu an trú Thức vô biên xứ. Rồi thức của vị ấy đắm vào vị ngọt của thức trí, nương vào đó, trụ vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó nên thức không an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo vượt thoát tất cả Thức vô biên xứ, nhập vô sở hữu, thành tựu an trú Vô sở hữu xứ. Rồi thức của vị ấy đắm vào vị ngọt của vô sở hữu trí, nương vào đó, trụ vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó nên thức không an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo vượt thoát tất cả Vô sở hữu xứ, nhập phi tưởng phi phi tưởng, thành tựu an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Rồi thức của vị ấy đắm vào vị ngọt của phi tưởng trí, nương vào đó, trụ vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó nên thức không an trú bên trong. Này chư Hiền! Thế nào là tâm Tỳ-kheo an trú bên trong? Chư Hiền! Tỳ-kheo lìa bỏ dục và các pháp bất thiện, có giác, có quán, cùng với hỷ, lạc được sanh ra do sự viễn ly, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất; nhưng thức của vị ấy không đắm vào vị ngọt của sự xa lìa đó, không nương vào đó, trụ vào đó; không duyên vào đó, buộc vào đó nên thức an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo lìa bỏ giác và quán, trong tâm bình đẳng thanh tịnh, có hỷ, lạc do định sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, không giác không quán; nhưng thức của vị ấy không đắm vào vị ngọt của định, không nương vào đó, trụ vào đó, không duyên vào đó, buộc vào đó nên thức an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo lìa bỏ hỷ, an trú xả, với chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, điều mà bậc Thánh gọi là lạc trú trong xả và có chánh niệm; nhưng thức của vị ấy không đắm vào vị ngọt của sự ly hỷ, không nương vào đó, trụ vào đó; không duyên vào đó, buộc vào đó nên thức an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo khi đã diệt trừ ưu và hỷ trước đó, nên buông bỏ cả khổ và vui, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không vui, gọi là xả niệm thanh tịnh; nhưng thức của vị ấy không đắm vào vị ngọt của xả, niệm thanh tịnh, không nương vào đó, trụ vào đó; không duyên vào đó, buộc vào đó nên thức an trú bên trong
[0695c05] Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo vượt thoát tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không niệm tạp tưởng, nhập hư không vô lượng, thành tựu an trú Không vô biên xứ; nhưng thức của vị ấy không đắm vào vị ngọt của không trí, không nương vào đó, trụ vào đó; không duyên vào đó, buộc vào đó nên thức an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo vượt thoát tất cả Không vô biên xứ, nhập thức vô lượng, thành tựu an trú Thức vô biên xứ; nhưng thức của vị ấy không đắm vào vị ngọt của thức trí, không nương vào đó, trụ vào đó; không duyên vào đó, buộc vào đó nên thức an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo vượt thoát tất cả Thức vô biên xứ, nhập vô sở hữu, thành tựu an trú Vô sở hữu xứ; nhưng thức của vị ấy không đắm vào vị ngọt của vô sở hữu trí, không nương vào đó, trụ vào đó; không duyên vào đó, buộc vào đó nên thức an trú bên trong.
Lại nữa, chư Hiền! Tỳ-kheo vượt thoát tất cả Vô sở hữu xứ, nhập phi tưởng phi phi tưởng, thành tựu an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; nhưng thức của vị ấy không đắm vào vị ngọt của phi tưởng trí, không nương vào đó, trụ vào đó; không duyên vào đó, buộc vào đó nên thức an trú bên trong.
Này chư Hiền! Như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo an trú bên trong. Này chư Hiền! Thế nào là Tỳ-kheo do chấp thủ nên sợ hãi? Chư Hiền, Tỳ-kheo không lìa sự đắm nhiễm sắc, không lìa sự tham muốn sắc, không lìa sự luyến ái sắc, không lìa sự khát khao sắc. Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo không lìa sự đắm nhiễm sắc, không lìa sự tham muốn sắc, không lìa sự luyến ái sắc, không lìa sự khát khao sắc thì vị ấy muốn được sắc, truy tìm sắc, đắm trước sắc, trú vào sắc và cho rằng sắc chính là ta, sắc là sở hữu của ta. Khi muốn được sắc, truy tìm sắc, đắm trước sắc, trú vào sắc và cho rằng sắc chính là ta, sắc là sở hữu của ta rồi thì thức bám víu sắc. Thức bám víu sắc rồi thì khi sắc ấy biến đổi, thức cũng biến đổi theo. Khi thức biến đổi theo sắc rồi, vị ấy sanh khởi trạng thái lo sợ và tâm trú vào đó. Bởi tâm không biết5 nên sanh sợ hãi, phiền nhọc, do chấp thủ nên sợ hãi. Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Tỳ-kheo không lìa sự đắm nhiễm thức, không lìa sự tham muốn thức, không lìa sự luyến ái thức, không lìa sự khát khao thức. Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo không lìa sự đắm nhiễm thức, không lìa sự tham muốn thức, không lìa sự luyến ái thức, không lìa sự khát khao thức thì vị ấy muốn được thức, truy tìm thức, đắm trước thức, trú vào thức và cho rằng thức chính là ta, thức là sở hữu của ta. Khi muốn được thức, truy tìm thức, đắm trước thức, trú vào thức và cho rằng thức chính là ta, thức là sở hữu của ta rồi thì thức bám víu thức. Khi thức bám víu thức rồi thì khi thức ấy biến đổi, thức cũng chuyển đổi theo. Khi thức chuyển theo thức rồi, vị ấy sanh khởi trạng thái lo lắng và tâm trú vào đó. Bởi tâm không biết nên sanh sợ hãi, phiền nhọc, do chấp thủ nên sợ hãi. Này chư Hiền! Như vậy gọi là Tỳ-kheo do chấp thủ nên sợ hãi.
[0696a07] Này chư Hiền! Thế nào gọi là Tỳ-kheo do không chấp thủ nên không sợ hãi? Chư Hiền! Tỳ-kheo lìa sự đắm nhiễm sắc, lìa sự tham muốn sắc, lìa sự luyến ái sắc, lìa sự khát khao sắc. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo lìa sự đắm nhiễm sắc, lìa sự tham muốn sắc, lìa sự luyến ái sắc, lìa sự khát khao sắc thì vị ấy không muốn được sắc, không truy tìm sắc, không đắm trước sắc, không trú vào sắc và nghĩ rằng sắc chẳng phải là ta, sắc chẳng phải sở hữu của ta. Khi không muốn được sắc, không truy tìm sắc, không đắm trước sắc, không trú vào sắc và nghĩ rằng sắc chẳng phải là ta, sắc chẳng phải sở hữu của ta rồi thì thức không bám víu sắc. Khi thức không bám víu sắc thì khi sắc ấy biến đổi, thức không biến đổi theo. Khi thức không biến đổi theo sắc thì vị ấy không sanh khởi trạng thái lo sợ và tâm không trú vào đó. Bởi tâm biết6 nên không sợ hãi, không phiền nhọc, do không chấp thủ nên không sợ hãi.
Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Tỳ-kheo lìa sự đắm nhiễm thức, lìa sự tham muốn thức, lìa sự yêu thích thức, lìa sự khát khao thức. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo lìa sự đắm nhiễm thức, lìa sự tham muốn thức, lìa sự yêu thích thức, lìa sự khát khao thức thì vị ấy không muốn được thức, không truy tìm thức, không đắm trước thức, không trú vào thức và nghĩ rằng thức chẳng phải là ta, thức chẳng phải sở hữu của ta. Khi không muốn được thức, không truy tìm thức, không đắm trước thức, không trú vào thức và nghĩ rằng thức chẳng phải là ta, thức chẳng phải sở hữu của ta rồi thì thức không bám víu thức. Khi thức không bám víu thức thì khi thức ấy biến đổi, thức không chuyển đổi theo. Khi thức không chuyển theo thức thì vị ấy không sinh khởi trạng thái lo sợ và tâm không trú vào đó. Bởi tâm biết nên không sợ hãi, không phiền nhọc, do không chấp thủ nên không sợ hãi.
Này chư Hiền! Như vậy gọi là Tỳ-kheo do không chấp thủ nên không sợ hãi. Này chư Hiền! Thế Tôn lược thuyết nghĩa này nhưng không giải thích tường tận, liền từ chỗ ngồi đứng dậy vào thất tĩnh tọa: “Tỳ-kheo! Hãy quán như vậy, như vậy. Này Tỳ-kheo, nếu các thầy quán như vậy rồi mà tâm vẫn hướng ra bên ngoài, bị phân tán, tâm không an trú bên trong, do chấp thủ nên sợ hãi. Này Tỳ-kheo, hãy quán như vậy, như vậy. Nếu các thầy quán như vậy rồi, tâm không hướng ra bên ngoài, không bị phân tán, tâm an trú bên trong, do không chấp thủ nên không sợ hãi. Như vậy sẽ không còn sanh, già, bệnh, chết nữa, đó gọi là sự diệt tận khổ.” Ở đây, Thế Tôn chỉ giảng thuyết sơ lược nghĩa này nhưng không giải thích tường tận, tôi đã dùng văn cú như trên, lời lẽ như trên để giải thích rõ ràng như thế. Này chư Hiền! Các vị hãy đến chỗ Thế Tôn trình bày đầy đủ, nếu đức Thế Tôn dạy nghĩa gì thì chư Hiền nên thọ trì nghĩa ấy.
[0696b06] Khi các Tỳ-kheo nghe Tôn giả Đại Ca-chiên-diên chỉ bày, liền khéo ghi nhớ thọ trì, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy nhiễu quanh Tôn giả ba vòng, sau đó lui ra đi đến chỗ Thế Tôn cúi đầu đảnh lễ xong, ngồi sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Vừa rồi Thế Tôn chỉ giảng thuyết sơ lược về nghĩa này nhưng không giải thích tường tận, rồi Ngài liền rời khỏi chỗ ngồi vào thất tĩnh tọa. Thế nên, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên đã dùng văn cú như vầy, lời lẽ như vầy để giải thích một cách rõ ràng về nghĩa đó.
Thế Tôn nghe xong, liền khen ngợi rằng:
– Lành thay, lành thay! Đệ tử của Ta đúng là có mắt, có trí, có pháp, có nghĩa. Vì sao như thế? Vì Ta chỉ nói sơ lược về nghĩa này, không giải thích tường tận, nhưng đệ tử ấy đã dùng văn cú như vầy, lời lẽ như vầy để giải thích rõ ràng nghĩa ấy. Đúng như những điều mà Tỳ-kheo Đại Ca-chiên-diên đã giảng giải, các thầy hãy nên thọ trì như thế. Vì sao như vậy? Vì đã quán thông ý nghĩa nên nói như vậy.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.7
Chú thích:
1 Nguyên tác: Phân biệt quán pháp kinh 分別觀法經 (T.01. 0026.164. 0694b13). Tham chiếu: M. 138, Uddesavibhaṅga Sutta (Kinh tổng thuyết và biệt thuyết); S. 22.7 - III. 15.
2 Nguyên tác: Bất thọ nhi khủng bố (不受而恐怖). Theo tác phẩm Madhyama-āgama Studies (Dharma Drum, 2012, p. 506-07, n. 38), Tỳ-kheo Anālayo chứng minh rằng, đã có một lỗi liên quan đến việc thêm và bớt phủ định từ thuộc cú ngữ anupādā paritassanā, xuất hiện trong M. 138 và được bảo lưu trọn vẹn trong MĀ. 164, đó là “bất thọ nhi khủng bố” (不受而恐怖). Trong khi đó, trường hợp này cần được đọc là upādā paritassanā. Theo tác giả, cấu trúc thực sự hợp lý nằm ở S. 22.7 - III. 15: Upādāparitassanañca vo, bhikkhave, desessāmi anupādāaparitassanañca (Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông về sự chấp thủ và ưu não, sự không chấp thủ và không ưu não), HT. Thích Minh Châu dịch. Bản dịch bỏ phủ định từ “bất” (不) trong cú ngữ “bất thọ nhi khủng bố” (不受而恐怖) dựa trên những cơ sở vừa nêu.
3 Tôn giả Đại Ca-chiên-diên (尊者大迦旃延). Theo Tăng. 增 (T.02. 0125.4.2. 0557b04), Ngài là một trong 100 vị đại đệ tử của đức Phật, chuyên về luận giải.
4 Nguyên tác: Thật (實): Rắn chắc (堅實). Tham chiếu: A. 10.115 - V. 224: Sāra (cốt lõi, lõi cây).
5 Nguyên tác: Tâm bất tri (心不知): Tâm không biết đúng như pháp, tức không thắng tri, không tuệ tri.
6 Nguyên tác: Tâm tri (心知): Tâm thắng tri, tâm tuệ tri.
7 Bản Hán, hết quyển 42.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.