Viện Nghiên Cứu Phật Học

163. KINH PHÂN BIỆT SÁU XỨ1

 

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Ta sẽ thuyết pháp cho các thầy, phần đầu thiện, phần giữa thiện, phần cuối cũng thiện, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, mở bày Phạm hạnh, đó gọi là Kinh phân biệt sáu xứ. Hãy lắng nghe, lắng nghe và khéo suy nghĩ!
Lúc đó, các Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Chúng con mong được thọ giáo.
Đức Phật dạy:
– Này các thầy! Có sáu xứ bên trong cần phải biết; có sáu xúc xứ bên trong cần phải biết; có mười tám ý hành bên trong cần phải biết; có ba mươi sáu cú nghĩa2 bên trong cần phải biết. Trong đó, do đoạn trừ cái kia nên thành tựu cái này. Có vô lượng thuyết pháp cần phải biết và tiếp nhận. Có ba niệm trụ3 để bậc Thánh tu tập và sau khi tu tập thì bậc Thánh mới có thể giáo hóa đồ chúng. Đó là bậc Vô Thượng Điều Ngự, bậc Điều Ngự hướng đến mọi phương. Trên đây là tổng thuyết về phân biệt sáu xứ.
[0692c05] “Có sáu xứ bên trong cần phải biết”, do đâu mà nói như thế? Đó là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ và ý xứ. Đó là sáu xứ bên trong cần phải biết, do đây nên nói như vậy.
“Có sáu xúc xứ bên trong cần phải biết”, do đâu mà nói như thế? Đó là nhãn xúc, tức mắt thấy sắc; nhĩ xúc, tức tai nghe tiếng; tỷ xúc, tức mũi ngửi mùi; vị xúc, tức lưỡi nếm vị; thân xúc, tức thân cảm giác; ý xúc, tức ý biết pháp. Đó là sáu xúc xứ bên trong cần phải biết, do đây nên nói như vậy.
“Có mười tám ý hành bên trong cần phải biết”, do đâu mà nói như thế? Này Tỳ-kheo, sau khi mắt thấy sắc, phân biệt sắc rồi an trú nơi hỷ, phân biệt sắc rồi an trú nơi ưu, phân biệt sắc rồi an trú nơi xả. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng vậy. Sau khi ý biết pháp, phân biệt pháp rồi an trú nơi hỷ, phân biệt pháp rồi an trú nơi ưu, phân biệt pháp rồi an trú nơi xả. Bởi do phân biệt mà có sáu hỷ, do phân biệt mà có sáu ưu, do phân biệt mà có sáu xả, hợp lại thành mười tám ý hành. Đó là mười tám ý hành bên trong cần phải biết, do đây nên nói như vậy.
“Có ba mươi sáu cú nghĩa bên trong cần phải biết”, do đâu mà nói như thế? Có sáu hỷ dựa vào đắm trước, có sáu hỷ nương vào vô dục, 4 có sáu ưu dựa vào đắm trước, có sáu ưu nương vào vô dục, có sáu xả dựa vào đắm trước, có sáu xả nương vào vô dục.
Thế nào là sáu hỷ dựa vào đắm trước? Thế nào là sáu hỷ nương vào vô dục? Khi mắt thấy sắc rồi thì sanh hỷ, nên biết có hai loại hỷ: Một là hỷ sanh bởi đắm trước, hai là hỷ sanh bởi vô dục.
Thế nào là hỷ dựa vào đắm trước? Mắt biết sắc đáng ưa, vừa ý, đáng nhớ, yêu thích sắc, vui thích do tương ưng với dục,5 nếu chưa được thì muốn cho được, đã được thì nhớ tưởng rồi phát sanh hỷ, hỷ như vậy gọi là hỷ dựa vào đắm trước.
Thế nào là hỷ nương vào vô dục? Mắt biết sắc là vô thường, biến đổi, diệt tận, không đáng tham muốn, mai một, biến diệt.6 Biết rằng tất cả sắc từ trước đến nay là vô thường, khổ, hoại diệt, ghi nhớ vậy rồi thì hỷ phát sanh. Hỷ như vậy được gọi là hỷ nương vào vô dục. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng vậy, khi ý biết pháp rồi sanh hỷ, nên biết có hai loại: Một là hỷ sanh bởi đắm trước, hai là hỷ sanh bởi vô dục. Thế nào là hỷ dựa vào đắm trước? Khi ý biết pháp đáng ưa, vừa ý, đáng nhớ, yêu thích pháp, vui thích do tương ưng với dục, nếu chưa được thì muốn có được, đã được rồi thì nhớ tưởng nên phát sanh hỷ, hỷ như vậy gọi là hỷ dựa vào đắm trước. Thế nào là hỷ nương vào vô dục? Ý biết pháp là vô thường, biến đổi, diệt tận, không đáng tham muốn, mai một, biến diệt. Biết rằng tất cả pháp từ trước đến nay là vô thường, khổ, hoại diệt, ghi nhớ vậy rồi thì hỷ phát sanh. Hỷ như vậy được gọi là hỷ nương vào vô dục.

[0693a07] Thế nào là sáu ưu dựa vào đắm trước? Thế nào là sáu ưu nương vào vô dục? Mắt thấy sắc rồi phát sanh ưu, nên biết có hai loại: Một là ưu do đắm trước, hai là ưu do vô dục.
Thế nào là ưu dựa vào đắm trước? Mắt biết sắc đáng ưa, vừa ý, đáng nhớ, yêu thích pháp, vui thích do tương ưng với dục; nếu chưa được mà mong cầu không được, những gì đã được trong quá khứ thì bị phân tán, hoại diệt, biến đổi nên ưu phát sanh. Ưu như vậy gọi là ưu dựa vào đắm trước.
Thế nào là ưu nương vào vô dục? Mắt biết sắc là vô thường, biến đổi, diệt tận, không đáng tham muốn, mai một, biến diệt. Biết rằng tất cả sắc từ trước đến nay là vô thường, khổ, hoại diệt, ghi nhớ vậy rồi suy nghĩ rằng: “Đến bao giờ ta mới có thể thành tựu an trú trong xứ đó, nơi mà các bậc Thánh đã thành tựu an trú?” Đối với vô thượng giải thoát có ước nguyện như thế nên ưu tư, biết sầu khổ nên sanh ưu. Ưu như vậy gọi là ưu nương vào vô dục. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng vậy, khi ý biết pháp rồi sanh ưu, nên biết có hai loại ưu: Một là ưu do đắm trước, hai là ưu do vô dục.
Thế nào là ưu dựa vào đắm trước? Khi ý biết pháp đáng ưa, vừa ý, đáng nhớ, yêu thích pháp, vui thích do tương ưng với dục; nếu chưa được mà mong cầu không được, những gì đã được trong quá khứ thì bị phân tán, hoại diệt, biến đổi nên ưu phát sanh. Ưu như vậy gọi là ưu dựa vào đắm trước.
Thế nào là ưu nương vào vô dục? Ý biết pháp là vô thường, biến đổi, diệt tận, không đáng tham muốn, mai một, biến diệt. Biết rằng tất cả các pháp từ trước đến nay là vô thường, khổ, hoại diệt; ghi nhớ vậy rồi suy nghĩ như vầy: “Đến bao giờ ta mới có thể thành tựu an trú trong xứ đó, nơi mà các bậc Thánh đã thành tựu an trú?” Đối với vô thượng giải thoát khởi ước nguyện như thế nên ưu tư, biết sầu khổ nên sanh ưu. Ưu như vậy gọi là ưu nương vào vô dục.
Thế nào là sáu xả dựa vào đắm trước? Thế nào là sáu xả nương vào vô dục? Khi mắt thấy sắc rồi phát sanh xả, nên biết có hai loại: Một là dựa vào đắm trước, hai là nương vào vô dục.
Thế nào là xả dựa vào đắm trước? Mắt biết sắc phát sanh xả; nghĩa là những kẻ phàm phu mê muội, không có trí tuệ, thiếu sự hiểu biết, đối với sắc có xả nhưng không xuất ly sắc, đó gọi là xả dựa vào đắm trước. Thế nào là xả nương vào vô dục? Mắt biết là vô thường, biến đổi, diệt tận, không đáng tham muốn, mai một, biến diệt. Khi đã biết tất cả sắc từ trước đến nay là vô thường, khổ, hoại diệt, ghi nhớ vậy rồi an trú vào xả. Nếu chuyên tâm nhất ý tu tập với xả như thế thì xả đó gọi là xả nương vào vô dục. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy, khi ý biết pháp rồi sanh xả, nên biết có hai loại: Một là xả sanh do đắm trước, hai là xả sanh do vô dục.
Thế nào là xả dựa vào đắm trước? Ý biết pháp phát sanh xả; nghĩa là những kẻ phàm phu mê muội, không có trí tuệ, thiếu sự hiểu biết, đối với pháp ấy có xả nhưng không xuất ly pháp ấy, đó gọi là xả dựa vào đắm trước.
Thế nào là xả nương vào vô dục? Ý biết pháp là vô thường, biến đổi, diệt tận, không đáng tham muốn, mai một, biến diệt. Khi đã biết tất cả các pháp từ trước đến nay là vô thường, khổ, hoại diệt, ghi nhớ vậy rồi an trú vào xả. Nếu chuyên tâm nhất ý tu tập với xả như thế thì xả đó gọi là xả nương vào vô dục.
Trên đây là sáu hỷ dựa vào đắm trước, sáu hỷ nương vào vô dục, sáu ưu dựa vào đắm trước, sáu ưu nương vào vô dục, sáu xả dựa vào đắm trước, sáu xả nương vào vô dục, tổng cộng là ba mươi sáu thứ bên trong cần phải biết, do đây nên nói như vậy.
[0693b12] Vì sao nói “Do đoạn trừ cái kia nên thành tựu cái này?” Đối với sáu hỷ nương vào vô dục thì nên chọn lấy, nương tựa, an trú vào đây. Đối với sáu hỷ dựa vào đắm trước thì nên chấm dứt, đoạn trừ, nhổ bỏ, như vậy gọi là đoạn trừ cái kia.
Đối với sáu ưu nương vào vô dục thì nên chọn lấy, nương tựa, an trú vào đây. Đối với sáu ưu dựa vào đắm trước thì nên chấm dứt, đoạn trừ, nhổ bỏ, như vậy gọi là đoạn trừ cái kia. Đối với sáu xả nương vào vô dục thì nên chọn lấy, nương tựa, an trú vào đây.
Đối với sáu xả dựa vào chấp trước thì nên chấm dứt, đoạn trừ, nhổ bỏ, như vậy gọi là đoạn trừ cái kia. Kế tiếp, đối với sáu ưu nương vào vô dục thì nên chọn lấy, nương tựa, an trú vào đây.
Đối với sáu hỷ dựa vào vô dục vẫn phải chấm dứt, đoạn trừ, nhổ bỏ, như vậy gọi là đoạn trừ cái kia. Đối với sáu xả nương vào vô dục thì nên chọn lấy, nương tựa, an trú vào đây.
Đối với sáu ưu nương vào vô dục vẫn phải chấm dứt, đoạn trừ, nhổ bỏ, như vậy gọi là đoạn trừ cái kia. Lại nữa, có hai loại xả: Một là xả tạp xúc, nhiều xúc; hai là xả một xúc, không nhiều xúc.
Thế nào là xả tạp xúc, nhiều xúc? Nếu xả nương vào sắc, thanh, hương, vị, xúc thì đây là xả tạp xúc, nhiều xúc. Thế nào là xả một xúc, không nhiều xúc? Nếu xả nương vào Không vô biên xứ, hoặc nương vào Thức vô biên xứ, hoặc nương vào Vô sở hữu xứ, hoặc nương vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì đây là xả một xúc, không nhiều xúc. Đối với xả một xúc, không nhiều xúc thì nên chọn lấy, nương tựa, an trú vào đây. Đối với xả tạp xúc, nhiều xúc thì nên chấm dứt, đoạn trừ, nhổ bỏ, như vậy gọi là đoạn trừ cái kia. Chọn lấy vô lượng, nương tựa vô lượng, an trú vô lượng, nghĩa là đối với xả một xúc này, tức xả không nhiều xúc thì nên chọn lấy, nương tựa, an trú vào đây; còn đối với xả tạp xúc, tức xả nhiều xúc thì nên chấm dứt, đoạn trừ, nhổ bỏ, như vậy gọi là đoạn trừ cái kia. Như trên chính là “nhờ đoạn trừ cái kia mà thành tựu cái này”, do đây mà nói như vậy.
[0693c07] “Có vô lượng thuyết pháp cần phải biết và tiếp nhận”, do đâu mà nói như thế? Như Lai có bốn hạng đệ tử, có tăng thượng hạnh, có tăng thượng tâm, có tăng thượng niệm, có tăng thượng tuệ, có biện tài, thành tựu biện tài bậc nhất, thọ đến trăm tuổi. Như Lai thuyết pháp cho các đệ tử suốt cả trăm năm, ngoại trừ những lúc ăn uống, đại tiểu tiện, ngủ nghỉ hoặc hội họp. Pháp Như Lai thuyết đầy đủ văn cú, pháp cú, quán nghĩa; nên dùng trí tuệ mà quán chiếu nghĩa lý, không hỏi lại Như Lai về pháp nữa. Vì sao như thế? Vì pháp Như Lai thuyết xuyên suốt vô cùng, thông suốt vô tận, đầy đủ văn cú, pháp cú, quán nghĩa, cho đến khi bốn hạng đệ tử qua đời.
Giống như bốn tay thiện xạ, hễ giương cung đều bắn trúng đích. Cũng vậy, bốn hạng đệ tử do khéo học khéo biết, lại có phương tiện như thế nên khi ấy rất dễ thấu triệt pháp. Như vậy, Thế Tôn có bốn hạng đệ tử, có tăng thượng hạnh, có tăng thượng tâm, có tăng thượng niệm, có tăng thượng tuệ, có biện tài, thành tựu biện tài bậc nhất, thọ đến trăm tuổi. Như Lai thuyết pháp cho các đệ tử suốt cả trăm năm, ngoại trừ những lúc ăn uống, đại tiểu tiện, ngủ nghỉ hoặc tụ hội. Pháp Như Lai thuyết đầy đủ văn cú, pháp cú, quán nghĩa; nên dùng trí tuệ mà quán chiếu nghĩa lý, không hỏi lại Như Lai về pháp nữa. Vì sao như thế? Vì pháp Như Lai thuyết xuyên suốt vô cùng, thông suốt vô tận. Đó chính là “có vô lượng thuyết pháp cần phải biết và tiếp nhận”, do đây nên nói như vậy.
“Có ba niệm trụ để bậc Thánh tu tập và sau khi tu tập rồi thì bậc Thánh mới có thể giáo hóa đồ chúng”, do đâu mà nói như thế? Như Lai thuyết pháp cho đệ tử vì lòng thương tưởng yêu mến, vì mong cầu ý nghĩa và lợi ích, vì mong cầu an ổn và hân hoan nên khởi tâm từ bi, đó là vì lợi ích, đó là vì hân hoan, đó là vì lợi ích và an lạc cho chúng đệ tử. Nếu các đệ tử không cung kính, cũng không thuận theo, không kiến lập trí tuệ, tâm không hướng theo pháp, không tuần tự theo pháp, không lãnh thọ Chánh pháp, trái lời Thế Tôn dạy, không thể đắc định thì Thế Tôn không vì thế mà ưu sầu. Thế Tôn chỉ an trú xả thanh tịnh,7 chánh niệm tỉnh giác. Đó là niệm trụ thứ nhất mà bậc Thánh tu tập, sau khi bậc Thánh tu tập rồi mới có thể giáo hóa. Lại nữa, Như Lai thuyết pháp cho đệ tử vì lòng thương tưởng yêu mến, vì mong cầu ý nghĩa và lợi ích, vì mong cầu an ổn và hân hoan nên khởi tâm từ bi, đó là vì lợi ích, đó là vì hân hoan, đó là vì lợi ích và an lạc cho chúng đệ tử. Nếu các đệ tử biết cung kính, thuận hành theo, kiến lập trí tuệ, tâm hướng theo pháp, tuần tự theo pháp, lãnh thọ Chánh pháp, không trái lời Thế Tôn dạy, có thể đắc định thì Thế Tôn cũng không vì thế mà hoan hỷ. Thế Tôn chỉ an trú xả thanh tịnh, chánh niệm tỉnh giác. Đó là niệm trụ thứ hai mà bậc Thánh tu tập, sau khi bậc Thánh tu tập rồi mới có thể giáo hóa.
Lại nữa, Như Lai thuyết pháp cho đệ tử vì lòng thương tưởng yêu mến, vì mong cầu ý nghĩa và lợi ích, vì mong cầu an ổn và hân hoan nên khởi tâm từ bi, đó là vì lợi ích, đó là vì hân hoan, đó là vì lợi ích và an lạc cho chúng đệ tử. Nếu có đệ tử không cung kính, cũng không thuận theo, không kiến lập trí tuệ, tâm không hướng theo pháp, không tuần tự theo pháp, không lãnh thọ Chánh pháp, trái lời Thế Tôn dạy, không thể đắc định; hoặc có đệ tử biết cung kính, thuận hành theo, kiến lập trí tuệ, tâm hướng theo pháp, tuần tự theo pháp, lãnh thọ Chánh pháp, không trái lời Thế Tôn dạy, có thể đắc định thì Thế Tôn cũng không vì thế mà buồn rầu hay hoan hỷ. Thế Tôn chỉ an trú xả thanh tịnh, chánh niệm tỉnh giác. Đó là niệm trụ thứ ba mà bậc Thánh tu tập, sau khi bậc Thánh tu tập rồi mới có thể giáo hóa. Như trên là ba niệm trụ mà bậc Thánh tu tập, sau khi bậc Thánh tu tập rồi mới có thể giáo hóa đồ chúng, do đây nên nói như vậy.
“Có bậc Vô Thượng Điều Ngự, bậc Điều Ngự hướng đến mọi phương”, do đâu mà nói như thế? Bậc Điều Ngự là bậc chỉ hướng đến một phương, hoặc phương Đông, phương Nam, phương Tây hoặc phương Bắc. Chẳng hạn như người điều phục voi thì điều khiển voi chạy đến một phương nào đó, hoặc phương Đông, phương Nam, phương Tây hoặc phương Bắc; người điều phục ngựa thì điều khiển ngựa chạy đến một phương nào đó, hoặc phương Đông, phương Nam, phương Tây hoặc phương Bắc; người điều phục bò thì điều khiển bò chạy đến một phương nào đó, hoặc phương Đông, phương Nam, phương Tây hoặc phương Bắc. Riêng bậc Vô Thượng Điều Ngự là bậc Điều Ngự hướng đến mọi phương.
Trong đó, có sắc quán sắc là phương thứ nhất; bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc là phương thứ hai; tịnh giải thoát, thân tác chứng thành tựu an trú là phương thứ ba; vượt thoát mọi sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không niệm nhiều tưởng, nhập hư không vô lượng, chính là thành tựu an trú Không vô biên xứ, ấy là phương thứ tư; vượt thoát mọi Không vô biên xứ, nhập thức vô lượng, chính là thành tựu an trú Thức vô biên xứ, ấy là phương thứ năm; vượt thoát mọi Thức vô biên xứ, nhập vô sở hữu, chính là thành tựu an trú Vô sở hữu xứ, ấy là phương thứ sáu; vượt thoát mọi Vô sở hữu xứ, nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chính là thành tựu an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, ấy là phương thứ bảy; vượt thoát mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tưởng tri diệt tận, thân tác chứng thành tựu an trú, dùng tuệ quán chiếu, dứt sạch lậu hoặc, thành tựu Đoạn trí,8 đó là phương thứ tám. Như trên chính là bậc Vô Thượng Điều Ngự, bậc Điều Ngự hướng đến mọi phương, do đây nên nói như vậy. Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
 

Chú thích:

1 Nguyên tác: Phân biệt lục xứ kinh 分別六處經 (T.01. 0026.163. 0692b22). Tham chiếu: M. 137 Saḷāyatanavibhaṅga Sutta (Kinh phân biệt sáu xứ).
2 Nguyên tác: Tam thập lục đao (三十六刀). Đao (刀) trong cú ngữ này có nguyên tác Pāli là sattha. Sattha vừa có nghĩa là đao kiếm, một loại vũ khí, vừa có nghĩa là nghĩa lý, khoa học. Tham chiếu: M. 137: Chattiṃsa sattapadā (36 cú nghĩa hay 36 loại chúng sanh). Trong bản Hán, đọc là sattha (đao kiếm) thay vì satta (nghĩa lý hoặc hữu tình). Tỳ-bà-sa luận 毘婆沙論 (T.27. 1545.139. 0718a25): Tam thập lục sư cú (三十六師句). Cả 3 bản đọc theo ngữ nguyên khác nhau.
3 Nguyên tác: Tam ý chỉ (三意止). M. 137: Tayo satipaṭṭhānā (3 niệm trú, 3 niệm xứ).
4 Y trước y vô dục (依著依無欲): Dựa trên sự chấp trước, nương vào sự vô dục. Theo Du-già sư địa luận 瑜伽師地論 (T.30. 1579.72. 0694c251): Y đam thị y xuất ly (依耽嗜依出離): Dựa trên đắm chấp, dựa trên xuất ly.
5 Nguyên tác: Nhãn tri sắc khả hỷ, ý niệm, ái sắc, dục tương ưng lạc (眼知色可喜,意念,愛色,欲相 應樂). Cách chấm câu trong để bản hơi tối nghĩa, phù hợp hơn phải là: 可喜, 意, 念, 愛色, 欲相應樂. Tham chiếu: Tập dị môn túc luận 集異門足論 (T.26. 1536.13. 0420c6): Khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý (可愛, 可樂, 可喜, 可意) M. 137: Cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ manoramānaṃ (Sắc do con mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý), HT. Thích Minh Châu dịch.
6 Nguyên tác: Tức (息). Toàn câu là 知色無常,變易,盡,無欲,滅,息. Trên đây là những tính chất bất toàn của sắc. Tham chiếu: Hàng ma kinh 降魔經 (T.01. 0026.131. 0620b08): Này Tỳ-kheo! Các thầy hãy quán các hành là vô thường, quán pháp hưng suy, quán vô dục, quán xa lìa, quán diệt, quán đoạn, khiến cho Ác ma không tìm được sơ hở (比丘!汝等當觀諸行無常,觀興衰法,觀無欲,觀捨離,觀 滅, 觀斷,令惡魔求便而不能得). M. 137: Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại.” Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly (HT. Thích Minh Châu dịch).
7 Nguyên tác: Xả vô sở vi (捨無所為). 
8 Đoạn trí (斷智). A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論 (T.28. 1546.18. 0132c23) định nghĩa: Nếu như đoạn trừ tất cả ái dục, sân hận, si mê và đoạn trừ tất cả phiền não thì gọi là “Đoạn trí” (若一切愛 恚癡斷, 一切煩惱斷名為斷智).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.