Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Ma-kiệt-đà rồi đến nghỉ qua đêm ở thành Vương Xá. Bấy giờ, đức Thế Tôn đến nhà người thợ gốm và hỏi:
– Này thợ gốm, nay Ta muốn nghỉ ở xưởng gốm một đêm, anh có đồng ý chăng?
Thợ gốm trả lời:
– Con thì không ngại gì, nhưng đã có một Tỳ-kheo đến ở trước đó rồi, nếu vị ấy đồng ý thì xin Ngài cứ tùy nghi.
Bấy giờ, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi2 đã đến ở nơi xưởng gốm trước, thế nên đức Thế Tôn rời khỏi nhà thợ gốm rồi bước vào xưởng gốm và nói với Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi:
– Này Tỳ-kheo! Nay Ta muốn nghỉ ở xưởng gốm này một đêm, thầy đồng ý chứ?
Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
– Thưa Hiền giả!3 Tôi rất sẵn lòng. Vả lại, ở đây đã trải sẵn nệm cỏ rồi, Hiền giả muốn ở lại, xin cứ tùy ý.
Bấy giờ, Thế Tôn từ xưởng gốm ấy ra ngoài rửa chân xong rồi trở vào, lấy tọa cụ trải lên nệm cỏ rồi ngồi kiết-già, suốt đêm yên lặng định tâm tĩnh tọa. Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi cũng suốt đêm yên lặng định tâm tĩnh tọa như vậy. Khi ấy, Thế Tôn nghĩ: “Tỳ-kheo này an trú tịch tĩnh! Thật là kỳ diệu! Thật là đặc thù! Nay Ta có nên hỏi thầy của Tỳ-kheo ấy là ai? Tỳ-kheo ấy nương ai để xuất gia học đạo và lãnh thọ giáo pháp chăng?”
[0690b06] Nghĩ thế rồi, Thế Tôn liền hỏi:
– Này Tỳ-kheo! Thầy của Hiền giả là ai? Hiền giả nương vào ai để xuất gia học đạo và lãnh thọ giáo pháp?
Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
– Hiền giả! Có Sa-môn Cù-đàm dòng họ Thích, lìa xa Thích tộc, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chính là thầy của tôi, tôi nương Ngài để xuất gia, học đạo, thọ pháp.
Thế Tôn lại hỏi:
– Này Tỳ-kheo, thầy đã từng gặp Ngài ấy chưa?
Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
– Tôi vẫn chưa được gặp.
Thế Tôn lại hỏi:
– Nếu gặp Ngài ấy, thầy có nhận ra không?
Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
– Có lẽ là không! Nhưng thưa Hiền giả! Tôi có nghe Ngài là Thế Tôn, đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài chính là thầy của tôi, tôi nương theo Ngài để xuất gia học đạo và lãnh thọ giáo pháp.
Khi ấy, Thế Tôn lại nghĩ: “Người thiện nam này nương Ta xuất gia học đạo, lãnh thọ giáo pháp, nay Ta có nên vì vị này mà thuyết pháp chăng?” Nghĩ thế rồi, Thế Tôn bảo Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi rằng:
– Tỳ-kheo! Nay Ta sẽ thuyết pháp cho thầy, phần đầu thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh. Pháp đó gọi là “Phân biệt sáu giới”, thầy hãy lắng nghe và khéo nhớ nghĩ!
Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
– Thưa vâng! Đức Phật bảo:
– Này Tỳ-kheo! Mỗi con người đều có sự tụ họp của sáu giới, sáu chỗ tiếp xúc, mười tám ý hành4 và bốn chỗ nương tựa.5 Nếu người nào an trú vào đó thì không nghe điều sầu não; đã không nghe điều sầu não nên ý không chán ghét, không lo lắng, không mỏi mệt, cũng không sợ hãi. Nếu an trú vào đó thì cũng như có được sự dạy bảo, khiến không buông lung trí tuệ, 6 thủ hộ chân đế và trưởng dưỡng huệ thí. Này Tỳ-kheo, hãy học về tối thượng, hãy học về tịch tĩnh, hãy phân biệt sáu giới.
Này Tỳ-kheo! Trong mỗi người đều có sự tụ họp của sáu giới, do đâu mà nói như vậy? Là do trong mỗi người đều có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới và thức giới. Tỳ-kheo, khi nói trong mỗi người đều có sự tụ họp của sáu giới là căn cứ vào đây vậy.
Này Tỳ-kheo! Trong mỗi người đều có sáu chỗ tiếp xúc, do đâu mà nói như vậy? Là bởi vì, này Tỳ-kheo, trong mỗi người đều có nhãn xúc, tức mắt thấy sắc; nhĩ xúc, tức tai nghe tiếng; tỷ xúc, tức mũi ngửi mùi; vị xúc, tức lưỡi nếm vị; thân xúc, tức thân cảm giác; ý xúc, tức ý biết pháp. Tỳ-kheo, khi nói con người có sáu xúc là căn cứ vào đây vậy.
Này Tỳ-kheo! Trong mỗi người đều có mười tám ý hành, do đâu mà nói như vậy? Là bởi vì, này Tỳ-kheo, khi mắt thấy sắc, quán sắc rồi an trú nơi hỷ, quán sắc rồi an trú nơi ưu, quán sắc rồi an trú nơi xả. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng vậy. Khi ý biết pháp, quán pháp rồi an trú nơi hỷ, quán pháp rồi an trú nơi ưu, quán pháp rồi an trú nơi xả.
Này Tỳ-kheo, đây là sáu hỷ khi quán sát, sáu ưu khi quán sát và sáu xả khi quán sát, hợp lại thành mười tám ý hành. Tỳ-kheo! Nói con người có mười tám ý hành là căn cứ vào đây vậy.
[0690c09] Này Tỳ-kheo! Con người có bốn chỗ nương tựa, do đâu mà nói như thế? Đó là nương tựa nơi chân đế, nương tựa nơi trí tuệ, nương tựa nơi thí xả và nương tựa nơi tịch tĩnh. Này Tỳ-kheo, khi nói con người có bốn chỗ nương tựa là căn cứ vào đây vậy.
Này Tỳ-kheo! Thế nào là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ? Tỳ-kheo phân biệt trong thân thế này: Nay thân ta có địa giới bên trong để duy trì sự sống, vậy địa giới bên trong bao gồm những gì? Đó là tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt, xương, gân, thận, tim, gan, phổi, lá lách, ruột già, bao tử, phổi, phân. Tương tự như thế, trong thân này còn có những thứ khác nữa, là những thứ mà bên trong thuộc về chất cứng, có tánh cứng chắc bên trong, bị chúng sanh chấp thủ, này Tỳ-kheo, đó gọi là địa giới bên trong. Này Tỳ-kheo, địa giới bên trong và địa giới bên ngoài đều được gọi chung là địa giới, tất cả chúng chẳng phải của ta, ta chẳng phải của chúng, cũng chẳng có tự ngã. Dùng trí tuệ quán chiếu như vậy, biết đúng như thật rồi thì tâm không nhiễm trước nơi địa giới, đó gọi là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
Lại nữa, Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ là Tỳ-kheo phân biệt trong thân thế này: Nay thân ta có thủy giới bên trong để duy trì sự sống, vậy chúng gồm những gì? Đó là màng não, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước bọt, mủ, máu, mỡ, tủy, nước dãi, đàm, nước tiểu. Tương tự như thế, trong thân này còn có những thứ khác nữa, là những thứ mà bên trong thuộc về chất nước, có tánh nước thấm nhuần bên trong, bị chúng sanh chấp thủ, này Tỳ-kheo, đó gọi là thủy giới bên trong. Này Tỳ-kheo, thủy giới bên trong và thủy giới bên ngoài đều gọi chung là thủy giới, tất cả chúng chẳng phải của ta, ta chẳng phải của chúng, cũng chẳng có tự ngã. Dùng trí tuệ quán chiếu như vậy, biết đúng như thật rồi thì tâm không nhiễm trước nơi thủy giới, đó gọi là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
[0691a04] Lại nữa, Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ là Tỳ-kheo phân biệt trong thân thế này: Nay thân ta có hỏa giới bên trong để duy trì sự sống, vậy chúng gồm những gì? Đó là khí nóng trong thân, khí ấm trong thân, những thứ khiến thân bức bối hay ôn hòa, những thứ giúp tiêu hóa thức ăn uống. Tương tự như thế, trong thân này còn có những thứ khác nữa, là những thứ mà bên trong thuộc về chất lửa, có tánh nóng bức ở bên trong, bị chúng sanh chấp thủ, này Tỳ-kheo, đó gọi là hỏa giới bên trong. Này Tỳ-kheo, hỏa giới bên trong và hỏa giới bên ngoài đều gọi chung là hỏa giới, tất cả chúng chẳng phải của ta, ta chẳng phải của chúng, cũng chẳng có tự ngã. Dùng trí tuệ quán chiếu như vậy, biết đúng như thật rồi thì tâm không nhiễm trước nơi hỏa giới, đó gọi là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
Lại nữa, Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ là Tỳ-kheo phân biệt trong thân thế này: Nay thân ta có phong giới bên trong để duy trì sự sống, vậy chúng gồm những gì? Hơi phía trên ngực, hơi phía dưới bụng, hơi hai bên sườn, hơi nơi tuyến lệ, hơi nơi bàn chân, hơi ứ trệ trong người, hơi nơi khớp xương chân tay, hơi khi thở ra, hơi khi thở vào. Tương tự như thế, trong thân này còn có những thứ khác nữa, là những thứ mà bên trong thuộc về gió, với tánh gió chuyển động bên trong, bị chúng sanh chấp thủ, này Tỳ-kheo, đó gọi là phong giới bên trong. Này Tỳ-kheo, phong giới bên trong và phong giới bên ngoài đều gọi chung là phong giới, tất cả chúng chẳng phải của ta, ta chẳng phải của chúng, cũng chẳng có tự ngã. Dùng trí tuệ quán chiếu như vậy, biết đúng như thật rồi thì tâm không nhiễm trước nơi phong giới, đó gọi là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ. Lại nữa, Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ là Tỳ-kheo phân biệt trong thân thế này: Nay thân ta có không giới bên trong để duy trì sự sống, vậy chúng gồm những gì? Đó là hốc mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, cổ họng cử động, chỗ mà khi thức ăn được nhai nát, nuốt từ từ xuống bên dưới rồi được đào thải ra ngoài. Tương tự như thế, trong thân này còn có những thứ khác nữa, là những thứ mà bên trong thuộc về rỗng không, tại chỗ rỗng không ấy không bị thịt, da, xương, gân che lấp, này Tỳ-kheo, đó gọi là không giới bên trong. Này Tỳ-kheo, không giới bên trong và không giới bên ngoài đều gọi chung là không giới, tất cả chúng chẳng phải của ta, ta chẳng phải của chúng, cũng chẳng có tự ngã. Dùng trí tuệ quán chiếu như vậy, biết đúng như thật rồi thì tâm không nhiễm trước nơi không giới, đó gọi là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
[0691b02] Này Tỳ-kheo! Nếu Tỳ-kheo nào biết đúng như thật về năm giới như trên và khi biết đúng như thật rồi thì tâm không nhiễm trước mà được giải thoát, duy chỉ còn có thức giới. Thức giới gồm những gì? Đó là thức biết lạc, thức biết khổ, thức biết hỷ, thức biết ưu và thức biết xả.
Này Tỳ-kheo! Do tiếp xúc với những gì ưa thích nên sanh ra cảm thọ lạc, vị ấy cảm nhận cảm thọ lạc. Khi cảm nhận cảm thọ lạc rồi, vị ấy liền biết mình đang cảm nhận cảm thọ lạc. Nếu Tỳ-kheo diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ ưa thích này, khi đã diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ ưa thích này rồi, nếu có cảm thọ lạc được sanh ra do sự tiếp xúc với những thứ ưa thích thì cảm thọ lạc ấy cũng bị diệt trừ, bị chấm dứt, vị ấy tuệ tri cảm thọ lạc đã nguội lạnh.
Này Tỳ-kheo! Do tiếp xúc với những thứ khổ đau nên sanh ra cảm thọ khổ, vị ấy cảm nhận cảm thọ khổ. Khi cảm nhận cảm thọ khổ rồi, vị ấy liền biết mình đang cảm nhận cảm thọ khổ. Nếu Tỳ-kheo diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ khổ đau, khi đã diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ khổ đau này rồi, nếu có cảm thọ khổ được sanh ra do sự tiếp xúc với những thứ khổ đau thì cảm thọ khổ ấy cũng bị diệt trừ, bị chấm dứt, vị ấy tuệ tri cảm thọ khổ đã nguội lạnh.
Này Tỳ-kheo! Do tiếp xúc với những thứ vui thích nên sanh ra cảm thọ hỷ, vị ấy cảm nhận cảm thọ hỷ. Khi cảm nhận cảm thọ hỷ rồi, vị ấy liền biết mình đang cảm nhận cảm thọ hỷ. Nếu Tỳ-kheo diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ vui thích, khi đã diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ vui thích này rồi, nếu có cảm thọ hỷ được sanh ra do sự tiếp xúc với những thứ vui thích thì cảm thọ hỷ ấy cũng bị diệt trừ, bị chấm dứt, vị ấy tuệ tri cảm thọ hỷ đã nguội lạnh.
Này Tỳ-kheo! Do tiếp xúc với những thứ lo buồn nên sanh ra cảm thọ ưu, vị ấy cảm nhận cảm thọ ưu. Khi cảm nhận cảm thọ ưu rồi, vị ấy liền biết mình đang cảm nhận cảm thọ ưu. Nếu Tỳ-kheo diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ lo buồn, khi đã diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ lo buồn rồi, nếu có cảm thọ ưu được sanh ra do sự tiếp xúc với những thứ lo buồn thì cảm thọ ưu ấy cũng bị diệt trừ, bị chấm dứt, vị ấy tuệ tri cảm thọ ưu đã nguội lạnh.
Này Tỳ-kheo! Do tiếp xúc với những thứ không vui không buồn nên sanh ra cảm thọ xả, vị ấy cảm nhận cảm thọ xả. Khi cảm nhận cảm thọ xả rồi, vị ấy liền biết là mình đang cảm nhận cảm thọ xả. Nếu Tỳ-kheo diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ không vui không buồn, khi đã diệt trừ sự tiếp xúc với những thứ không vui không buồn rồi, nếu có cảm thọ xả được sanh ra do sự tiếp xúc với những thứ không vui không buồn thì cảm thọ xả ấy cũng bị diệt trừ, bị chấm dứt, vị ấy tuệ tri cảm thọ xả đã nguội lạnh.
Này Tỳ-kheo! Do những sự tiếp xúc ấy mà sanh ra những cảm thọ ấy. Khi đã diệt trừ những sự tiếp xúc ấy thì những cảm thọ ấy cũng diệt. Vị ấy biết những cảm thọ này từ xúc mà có, xúc là gốc rễ, xúc là nguyên do, từ xúc mà sanh ra, lấy xúc làm đầu mối, nương xúc mà hiện hành.
Này Tỳ-kheo! Giống như cây có thể sanh ra lửa, do đó người ta dùng cây làm dùi rồi cọ xát dùi với nhau tạo ra sức nóng, từ đó phát ra lửa. Này Tỳ-kheo! Thế nhưng khi các dùi cây ấy tách rời nhau thì chẳng thể có lửa sanh ra và cũng chẳng có sức nóng để duy trì lửa, ngay cả dùi cây cũng nguội lạnh. Cũng vậy, này Tỳ-kheo! Do những sự tiếp xúc ấy mà sanh ra những cảm thọ ấy. Khi đã diệt trừ những sự tiếp xúc ấy thì những cảm thọ ấy cũng diệt. Vị ấy biết những cảm thọ này từ xúc mà có, xúc là gốc rễ, xúc là nguyên do, từ xúc mà sanh ra, lấy xúc làm đầu mối, nương xúc mà hiện hành.
Nếu Tỳ-kheo không nhiễm trước bởi ba thọ7 thì được giải thoát, khi ấy Tỳ-kheo chỉ tồn tại tâm xả, cực kỳ thanh tịnh.8 Tỳ-kheo ấy nghĩ thế này: “Với tâm xả thanh tịnh này, ta thể nhập Không vô biên xứ,9 tu tập tâm như vậy, nương vào đó, trụ vào đó, đặt vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó. Lại nữa, với tâm xả thanh tịnh này, ta thể nhập Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tu tập tâm như vậy, nương vào đó, trụ vào đó, đặt vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó.”
[0691c10] Này Tỳ-kheo! Giống như người thợ kim hoàn lành nghề dùng lửa nấu chảy vàng, dập vàng thật mỏng, rồi lại nung tiếp, chỉnh lửa vừa phải, nung luyện đúng độ khiến vàng được tinh ròng, mềm mại, lấp lánh. Này Tỳ-kheo, loại vàng này đã được người thợ kim hoàn nung luyện đúng độ khiến vàng được tinh ròng, mềm mại, lấp lánh rồi thì người thợ ấy dựa theo khuôn mẫu mà tùy ý chế tác thành sợi tua cẩn vào tơ lụa để trang sức áo mới, hoặc nhẫn, vòng tay, dây chuyền hay các loại trang sức cho mái tóc. Cũng vậy, vị Tỳ-kheo ấy nghĩ thế này: “Với tâm xả thanh tịnh này, ta thể nhập Không vô biên xứ, tu tập tâm như vậy, nương vào đó, trụ vào đó, đặt vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó. Lại nữa, với tâm xả thanh tịnh này, ta thể nhập Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tu tập tâm như vậy, nương vào đó, trụ vào đó, đặt vào đó, duyên vào đó, buộc vào đó.”
Rồi Tỳ-kheo ấy lại nghĩ thế này: “Với tâm xả thanh tịnh này, ta nương vào Không vô biên xứ, nhưng nơi đây vẫn thuộc hữu vi, mà hữu vi thì vô thường, đã vô thường tức là có khổ; đã có khổ, liền biết là khổ, biết khổ rồi thì với tâm xả thanh tịnh này, ta không còn muốn thể nhập vào Không vô biên xứ nữa. Lại nữa, với tâm xả thanh tịnh này, ta nương vào Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng những nơi đấy vẫn thuộc hữu vi mà hữu vi thì vô thường, đã vô thường tức là có khổ; đã có khổ, liền biết là khổ, biết khổ rồi thì với tâm xả thanh tịnh này, ta không còn muốn thể nhập vào Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ nữa.”
Này Tỳ-kheo! Nếu Tỳ-kheo nào dùng trí tuệ quán chiếu bốn xứ như trên, biết đúng như thật rồi thì tâm không tương ưng và không thể nhập vào đó nữa.
Bấy giờ, vị ấy không còn lệ thuộc hữu vi, cũng không suy tư về hữu và vô nữa; khi có một cảm thọ cuối cùng trong giới hạn của thân10 thì vị ấy liền biết cảm thọ cuối cùng trong giới hạn của thân; khi có một cảm thọ cuối cùng của thọ mạng thì vị ấy biết cảm thọ cuối cùng của thọ mạng; khi qua đời, thọ mạng đã chấm dứt thì tất cả cảm thọ của vị ấy bị diệt trừ, bị chấm dứt và vị ấy tuệ tri tất cả cảm thọ đã nguội lạnh.11
[0692a06] Này Tỳ-kheo! Ví như đèn sáng là nhờ dầu và tim đèn. Nếu không có ai châm thêm dầu và nối thêm tim thì khi ngọn đèn trước đã tắt, ngọn đèn sau không thể tiếp tục sáng tiếp, vì không có gì để duy trì. Tỳ-kheo ấy cũng thế, khi có một cảm thọ cuối cùng trong giới hạn của thân thì vị ấy liền biết cảm thọ cuối cùng trong giới hạn của thân; khi có một cảm thọ cuối cùng của thọ mạng thì vị ấy biết cảm thọ cuối cùng của thọ mạng; khi qua đời, thọ mạng chấm dứt thì tất cả cảm thọ của vị ấy bị diệt trừ, bị chấm dứt và vị ấy tuệ tri tất cả cảm thọ đã nguội lạnh.
Này Tỳ-kheo! Đó là Tỳ-kheo có trí tuệ chân chánh bậc nhất, đã đạt đến tịch diệt rốt ráo, dứt sạch lậu hoặc. Tỳ-kheo đã thành tựu pháp đó, chính là thành tựu và an trú trí tuệ chân chánh bậc nhất.
Này Tỳ-kheo! Sự giải thoát này an trú nơi chân đế nên hoàn toàn vững chãi;12 chân đế là pháp như thật, còn giả dối là pháp hư vọng. Tỳ-kheo! Đó là sự thành tựu và an trú chân đế bậc nhất.13
Này Tỳ-kheo! Tỳ-kheo ấy phát khởi thí xả, nếu trước đây có oan gia thì bây giờ vị ấy phóng xả, lìa bỏ, giải thoát, diệt sạch hoàn toàn. Này Tỳ-kheo! Đó là Tỳ-kheo có huệ thí chân chánh bậc nhất, xả ly mọi sự ở đời, đã được dứt sạch,14 vô dục, tịch diệt, vắng lặng, ngưng nghỉ. Tỳ-kheo đã thành tựu pháp đó, chính là thành tựu và an trú huệ thí bậc nhất.
Này Tỳ-kheo! Nếu tâm của Tỳ-kheo ấy bị uế nhiễm bởi tham dục, sân hận và si mê thì không được giải thoát. Nhưng khi tất cả tham, sân, si đã được dứt sạch, vô dục, tịch diệt, tịch tĩnh và ngưng nghỉ thì vị ấy được tịch tĩnh bậc nhất. Tỳ-kheo thành tựu pháp đó, chính là thành tựu và an trú tịch tĩnh bậc nhất.
Này Tỳ-kheo, ngã thật sự tồn tại là vọng tưởng;15 ngã thật sự tồn tại ở tương lai16 cũng là vọng tưởng; ngã thật sự chẳng phải có, chẳng phải không cũng là vọng tưởng; ngã thật sự có sắc cũng là vọng tưởng; ngã thật sự vô sắc cũng là vọng tưởng; ngã thật sự chẳng phải hữu sắc và chẳng phải vô sắc cũng là vọng tưởng; ngã thật sự có tưởng cũng là vọng tưởng; ngã thật sự không có tưởng cũng là vọng tưởng; ngã thật sự chẳng phải có tưởng và chẳng phải không có tưởng17 cũng là vọng tưởng. Như thế là cống cao, là kiêu ngạo, là buông lung.18
Này Tỳ-kheo! Nếu không còn hết thảy vọng tưởng, cống cao, kiêu ngạo hay buông lung thì tâm ý dừng lắng. Này Tỳ-kheo! Nếu tâm ý dừng lắng thì không chán ghét, không lo lắng, không mỏi mệt và không lo sợ. Vì sao như thế? Vì Tỳ-kheo ấy đã thành tựu pháp nên không còn chán ghét; đã không chán ghét thì không lo lắng, không lo lắng thì không sầu muộn, không sầu muộn thì không mỏi mệt; không mỏi mệt thì không lo sợ, do không lo sợ nên chứng đắc Niếtbàn, biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
[0692b05] Nghe Thế Tôn thuyết pháp này xong, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi xa lìa trần cấu, đạt được cái thấy chân thật đối với các pháp. Từ đây, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi đã thấy pháp, đắc pháp, ngộ pháp thanh tịnh, đoạn trừ nghi hoặc, thoát khỏi mê lầm, không thờ ai khác, không nương ai khác, không còn do dự, đã trụ quả chứng, nơi pháp Thế Tôn được Vô sở úy. Bấy giờ, Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi lạy sát chân Phật rồi thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con xin sám hối. Bạch Thiện Thệ! Con xin ăn năn. Con thật ngu si, như kẻ hồ đồ thiếu hiểu biết, không thể tự biết, không thấy ruộng phước lành! Vì sao như thế? Vì con đã dám gọi đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác là “Hiền giả.” Nguyện xin Thế Tôn cho con sám hối, con sám hối rồi thì về sau không tái phạm nữa.
Thế Tôn đáp:
– Này Tỳ-kheo! Thầy thật là mê muội, thầy thật là hồ đồ, thầy thật sự thiếu hiểu biết mới gọi đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác là “Hiền giả.” Này Tỳ-kheo! Nếu thầy có thể tự sám hối, đã thấy lỗi, tự phát lồ, giữ gìn không tái phạm nữa thì này Tỳ-kheo, ở trong giáo pháp của bậc Thánh, như vậy là được tăng ích chứ không tổn giảm, vì đã biết tự sám hối, đã thấy lỗi, tự phát lồ, giữ gìn không tái phạm nữa. Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
1 Nguyên tác: Phân biệt lục giới kinh 分別六界經 (T.01. 0026.162. 0690a19). Tham chiếu: Bình-sa vương ngũ nguyện kinh 萍沙王五願經 (T.14. 0511. 0779a06); M. 140, Dhātuvibhaṅga Sutta (Kinh giới phân biệt).
2 Phất-ca-la-sa-lợi (弗迦邏娑利, Pukkusāti), tên một Tôn giả xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn.
3 Nguyên tác: Quân (君): Bằng hữu, anh bạn, Hiền giả. Pāli: Āvuso. Tham chiếu: D. 16: Này Ānanda, vị Tỷ-kheo niên lão hãy gọi vị Tỷ-kheo niên thiếu hoặc bằng tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả (Āvuso). Vị Tỷ-kheo niên thiếu, hãy gọi vị Tỷ-kheo niên lão là Thượng tọa (Bhante) hay Ðại đức (HT. Thích Minh Châu dịch).
4 Nguyên tác: Thập bát ý hành (十八意行): 18 ý cận hành (意近行), gồm 6 hỷ cận hành (喜近行), 6 ưu cận hành (憂近行), 6 xả cận hành (捨近行). Tạp. 雜 (T.02. 0099.485. 0123c20) gọi là Thập bát thọ (十八受).
5 Nguyên tác: Tứ trụ xứ (四住處, caturādhiṭṭhāna): Bốn chỗ nương tựa.
6 Nguyên tác: Bất phóng dật tuệ (不放逸慧, paññaṃ nappamajjeyya).
7 Nguyên tác: Tam giác (三覺), chỉ cho 3 thọ, gồm lạc thọ (樂受), khổ thọ (苦受), không khổ không lạc thọ (不苦不樂受).
8 Bỉ Tỳ-kheo duy tồn ư xả, cực thanh tịnh dã (彼比丘唯存於捨, 極清淨也). “Xả” (捨) ở đây chỉ cho “xả niệm thanh tịnh” khi thành tựu Tứ thiền. Tham chiếu: Trú Độ thọ kinh 晝度樹經 (T.01. 0026.2. 0422b21): Không khổ không lạc, xả và niệm thanh tịnh, chứng đắc và an trú Thiền thứ tư (不苦不樂 捨念清淨,得第四禪成就).
9 Nguyên tác: Vô lượng không xứ (無量空處), còn gọi Không vô biên xứ, tức một trong 4 định Vô sắc (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ).
10 Nguyên tác: Thọ thân tối hậu giác (受身最後覺). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.969. 0249a28): Thân phân tề thọ giác (身分齊受覺). Ở đây, “phân tề” (分齊) chỉ cho giới hạn, phạm vi (指限界). M. 140: Kāyapariyantikaṃ (Giới hạn của thân).
11 Tham chiếu: S. 36.7 - IV. 210: Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: “Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân.” Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sanh mạng, vị ấy tuệ tri: “Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sanh mạng.” Vị ấy tuệ tri rằng: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu” (HT. Thích Minh Châu dịch).
12 Nguyên tác: Đắc bất di động (得不移動).
13 Nguyên tác: Đệ nhất chân đế xứ (第一真諦處). Tham chiếu: M. 140: Paramena saccādhiṭṭhānena (Nương tựa chân đế tối thắng). Ở đây, danh từ adhiṭṭhāna có nghĩa là chỗ nương tựa (依處).
14 Nguyên tác: Tận (盡, khaya): Dứt sạch.
15 Nguyên tác: Tự cử (自舉). Cử (舉) mang nghĩa tự mình chủ trương (稱,言說). Bản Pāli tương đương: Maññta, được hiểu là vọng tưởng, ảo tưởng (妄想, 幻想).
16 Nguyên tác: Đương hữu (當有): Tồn tại ở tương lai.
17 Nguyên tác: Phi hữu tưởng phi vô tưởng (非有想非無想, Nevasaññā nāsaññā), còn gọi là Phi tưởng phi phi tưởng (非想非非想).
18 Tham chiếu: Thế ký kinh 世記經 (T.01. 0001.30.10. 0141b11): Chấp ngã tồn tại là bị trói. Chấp ngã không tồn tại là bị trói. Chấp ngã có sắc là bị trói. Chấp ngã không phải sắc là bị trói. Chấp ngã vừa có sắc vừa không có sắc là bị trói. Chấp ngã có tưởng là bị trói. Chấp ngã không có tưởng là bị trói. Chấp ngã vừa có tưởng vừa không có tưởng là bị trói. (我當有為縛, 我當無為縛, 有色為縛, 無色為縛, 有 色無色為縛, 我有想為縛, 無想為縛, 有想無想為縛).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.