Viện Nghiên Cứu Phật Học

160. KINH A-LAN-NA1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, sau khi thọ thực, các Tỳ-kheo tập trung tại giảng đường rồi cùng bàn luận như vầy:
– Chư Hiền! Thật kỳ lạ, thật kỳ lạ! Đời người thật ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác, bởi thế hãy làm việc lành, hãy tu Phạm hạnh, vì không ai có thể tránh khỏi cái chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp nghĩa, việc làm thiện lành, việc làm tốt đẹp lại không tìm cầu, không tu trì.
Lúc ấy, Thế Tôn đang ở chỗ nghỉ trưa, bằng thiên nhĩ thanh tịnh hơn hẳn người thường, nghe các Tỳ-kheo sau khi thọ thực tụ họp tại giảng đường bàn luận thế này: “Chư Hiền! Thật kỳ lạ, thật kỳ lạ! Đời người thật ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác, bởi thế hãy làm việc lành, hãy tu Phạm hạnh, vì không ai có thể tránh khỏi cái chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp nghĩa, việc làm thiện lành, việc làm tốt đẹp lại không tìm cầu, không tu trì.” Nghe vậy rồi, vào lúc xế chiều, Thế Tôn rời nơi tĩnh tọa đi đến giảng đường, trải tọa cụ ngồi trước chúng Tỳ-kheo và hỏi:
– Các thầy đang bàn luận chuyện gì? Vì sao nhóm họp tại giảng đường này?
Bấy giờ, các Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Sau khi thọ thực, Tỳ-kheo chúng con tập hợp tại giảng đường bàn luận điều này: “Thật kỳ lạ, thật kỳ lạ! Đời người thật ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác, bởi thế hãy làm việc lành, hãy tu Phạm hạnh, vì không ai có thể tránh khỏi cái chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp nghĩa, việc làm thiện lành, việc làm tốt đẹp lại không tìm cầu, không tu trì.” Bạch Thế Tôn! Chúng con đã cùng nhau bàn luận việc ấy. Vì lý do đó mà chúng con tập hợp tại giảng đường này.
[0682c01] Thế Tôn khen ngợi:
– Lành thay! Lành thay! Tỳ-kheo! Các thầy bảo rằng: “Chư Hiền! Thật kỳ lạ, thật kỳ lạ! Đời người thật ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác, bởi thế hãy làm việc lành, hãy tu Phạm hạnh, vì không ai có thể tránh khỏi cái chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp nghĩa, việc làm thiện lành, việc làm tốt đẹp lại không tìm cầu, không tu trì.” Vì sao như thế? Vì Ta cũng nói như vầy: “Thật kỳ lạ, thật kỳ lạ! Đời người thật ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác, bởi thế hãy làm việc lành, hãy tu Phạm hạnh, vì không ai có thể tránh khỏi cái chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp nghĩa, việc làm thiện lành, việc làm tốt đẹp lại không tìm cầu, không tu trì.” Vì sao như thế? Này Tỳ-kheo! Vào thời quá khứ, chúng sanh thọ đến tám vạn tuổi. Này Tỳ-kheo, lúc con người thọ tám vạn tuổi, châu Diêm-phù này cực kỳ sung túc, châu báu dồi dào, thôn ấp gần nhau, khoảng bằng sức bay của con gà. Lúc ấy, con gái đến năm trăm tuổi mới lấy chồng và con người chỉ có những bệnh như lạnh, nóng, đại tiểu tiện, ham muốn, không ăn và già nua, ngoài ra không còn tai họa nào khác.
Này Tỳ-kheo! Lúc con người thọ tám vạn tuổi, có vua tên là Câu-lao-bà làm Chuyển Luân Vương, thông minh trí tuệ, đủ bốn binh chủng, cai trị thiên hạ, tùy ý tự tại, đúng pháp trị vì, thành tựu bảy báu. Bảy báu đó là bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và tướng quân báu. Vua còn có ngàn người con dung mạo đoan chánh, oai phong mạnh mẽ, đủ sức dẹp giặc, thống lĩnh hết thảy từ đất liền ra đến biển lớn mà không động đao binh, dùng pháp giáo hóa, khiến dân chúng được yên ổn.
Này Tỳ-kheo! Vua Câu-lao-bà có vị Phạm chí đại trưởng giả tên là A-lanna, được sanh ra trong một gia đình thuần tịnh, bảy đời cha mẹ luôn gìn giữ huyết thống, đời đời không bị pha tạp, học rộng hiểu nhiều, thông thuộc bốn bộ Vệ-đà, am tường năm thể tài ngôn ngữ là căn nguyên, chú giải, nghi quỹ, văn chương và cổ sử. Phạm chí A-lan-na có vô lượng trăm ngàn học trò trẻ tuổi.2 Ông thường ở nơi thanh vắng, truyền dạy kinh thư cho họ.
Có lần, Phạm chí A-lan-na sống một mình ở nơi yên vắng, tĩnh tọa tư duy, tâm khởi suy nghĩ: “Thật kỳ lạ, thật kỳ lạ! Đời người thật ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác, bởi thế hãy làm việc lành, hãy tu Phạm hạnh, vì không ai có thể tránh khỏi cái chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp nghĩa, việc làm thiện lành, việc làm tốt đẹp lại không tìm cầu, không tu trì. Có lẽ ta nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.”
Thế rồi, Phạm chí A-lan-na liền đi đến chỗ các học trò trẻ tuổi ở nhiều nơi khác nhau và nói: “Này các đệ tử! Ta sống một mình ở nơi yên vắng, tĩnh tọa tư duy, tâm khởi suy nghĩ: ‘Thật kỳ lạ, thật kỳ lạ! Đời người thật ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác, bởi thế hãy làm việc lành, hãy tu Phạm hạnh, vì không ai có thể tránh khỏi cái chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp nghĩa, việc làm thiện lành, việc làm tốt đẹp lại không tìm cầu, không tu trì. Có lẽ ta nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.’ Này các đệ tử! Hôm nay, ta muốn cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì các con dự định sẽ làm gì?”
[0683a10] Nghe vậy, số đông học trò trẻ tuổi ở các nơi khác nhau thưa rằng: “Thưa Tôn sư! Những gì chúng con hiểu biết đều nhờ ơn thầy chỉ dạy, nếu thầy cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì chúng con cũng cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, theo thầy xuất gia học đạo.” Thế rồi sau đó, Phạm chí A-lan-na cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Các học trò trẻ tuổi ở nhiều nơi khác ấy cũng đều cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, theo Tôn sư là Phạm chí A-lan-na xuất gia học đạo. Đó là sự xuất hiện về thanh danh3 của Tôn sư A-lan-na và các đệ tử.
Bấy giờ, Tôn sư A-lan-na thuyết pháp cho chúng đệ tử: “Này các đệ tử! Thật kỳ lạ, thật kỳ lạ! Đời người thật ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác, bởi thế hãy làm việc lành, hãy tu Phạm hạnh, vì không ai có thể tránh khỏi cái chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp nghĩa, việc làm thiện lành, việc làm tốt đẹp lại không tìm cầu, không tu trì.” Rồi Tôn sư A-lan-na lại thuyết pháp cho đệ tử như thế: “Thật kỳ lạ, thật kỳ lạ! Đời người thật ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác, bởi thế hãy làm việc lành, hãy tu Phạm hạnh, vì không ai có thể tránh khỏi cái chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp nghĩa, việc làm thiện lành, việc làm tốt đẹp lại không tìm cầu, không tu trì.”
Lại nữa, Tôn sư A-lan-na thuyết pháp cho chúng đệ tử như vầy: “Này đệ tử! Giống như giọt sương mai đọng trên ngọn cỏ, mặt trời vừa lên liền tan mất, tạm bợ chẳng bền lâu. Cũng vậy, này đệ tử, mạng sống con người như giọt sương mai, rất khó giữ được, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy.
Lại nữa, Tôn sư A-lan-na thuyết pháp cho đệ tử thế này: “Này đệ tử! Lúc trời mưa lớn, giọt mưa rơi xuống tạo thành bọt nước, thoạt nổi thoạt tan. Cũng vậy, này đệ tử, mạng người như bọt nước kia, rất khó giữ được, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy. Lại nữa, Tôn sư A-lan-na thuyết pháp cho đệ tử như vầy: “Này đệ tử! Như ném cây gậy xuống nước, nó vừa chìm xuống liền nổi rất nhanh. Cũng vậy, này đệ tử, mạng người như cây gậy, khi ném xuống nước liền nổi rất nhanh, rất khó giữ lâu, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy.
 Lại nữa, Tôn sư A-lan-na thuyết pháp cho đệ tử như vầy: “Này đệ tử! Giống như nhúng ngói vào bồn nước rồi đem để nơi nắng gió thì khô ráo ngay. Cũng vậy, này đệ tử, mạng người như viên ngói nhúng vào bồn nước kia, khô ráo rất nhanh, rất khó giữ lâu, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy. Tôn sư A-lan-na lại thuyết pháp cho đệ tử như vầy: “Này đệ tử! Giống như bỏ miếng thịt nhỏ vào nồi nước lớn, bên dưới lửa cháy hừng hực thì nó sẽ tiêu tan rất nhanh. Cũng vậy, này đệ tử, mạng người như miếng thịt kia, tiêu tan rất mau, rất khó giữ lâu, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy. Tôn sư A-lan-na lại thuyết pháp cho đệ tử thế này: “Này đệ tử! Giống như giặc cướp bị trói đưa đi hành quyết, mỗi bước chân đi là mỗi bước tiến gần đến chỗ chết, chấm hết sự sống của y. Cũng vậy, này đệ tử, mạng sống con người như tên cướp sắp bị đền tội kia, rất khó giữ lâu, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy.
Tôn sư A-lan-na lại thuyết pháp cho đệ tử như vầy: “Này đệ tử! Giống như gã đồ tể dẫn bò đến lò mổ, mỗi bước chân đi là mỗi bước tiến gần đến chỗ chết, chấm hết sự sống của nó. Cũng vậy, này đệ tử, mạng sống con người như bò bị dẫn đến lò mổ, rất khó giữ lâu, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy.
Tôn sư A-lan-na lại thuyết pháp cho đệ tử: “Này đệ tử! Giống như dệt vải trên khung cửi, tấm vải gần xong thì sợi chỉ dệt ngang cũng sắp kết thúc. Cũng vậy, này đệ tử, mạng sống con người cũng như sợi chỉ ngang sắp kết thúc kia, rất khó giữ lâu, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na thuyết pháp cho đệ tử như vậy.
Tôn sư A-lan-na lại thuyết pháp cho đệ tử thế này: “Này đệ tử! Giống như dòng nước trên núi đổ xiết chảy gấp, cuốn trôi nhiều thứ, dòng nước chảy nhanh, không phút nào ngừng. Cũng vậy, này đệ tử, mạng sống con người như dòng nước chảy nhanh ấy, rất khó giữ lại, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy.
[0683c11] Tôn sư A-lan-na lại thuyết pháp cho đệ tử như vầy: “Này đệ tử! Giống như lúc đêm tối đứng trên cao ném gậy xuống đất thì cây gậy ấy, hoặc đầu dưới đụng đất, hoặc đầu trên đụng đất, hoặc nằm ngang mặt đất, gậy ấy có khi rơi chỗ sạch, có khi rơi chỗ dơ. Cũng vậy, này đệ tử, chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái dục trói chặt, hoặc đọa vào địa ngục, súc sanh hay ngạ quỷ, hoặc sanh lên cõi trời, hoặc sanh vào cõi người. Cũng vậy, này đệ tử, mạng sống con người cũng như cây gậy ném xuống đất trong đêm tối, rất khó biết được, niềm vui rất ít, đau khổ quá nhiều, tai ương vô kể.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy.
Tôn sư A-lan-na lại thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: “Này đệ tử! Ngay trong đời này ta đoạn trừ tham lam, tâm không tranh đoạt, thấy tiền tài hay vật dụng của người khác không khởi tâm tham, muốn chiếm làm của mình. Đối với tâm tham lam, ta đã trừ sạch. Cũng vậy đối với sân hận, hôn trầm, loạn động và nghi, ngay đời này, ta đoạn trừ nghi, với các pháp thiện, ta không còn nghi ngờ. Đối với tâm nghi hoặc, ta đã trừ sạch. Này đệ tử! Ngay trong đời này, các ông cũng nên đoạn trừ tham lam, tâm không đua tranh, thấy tiền tài hay vật dụng của kẻ khác không nên khởi tâm tham, muốn chiếm làm của mình. Đối với tâm tham lam, các ông nên trừ sạch như thế. Cũng vậy đối với sân hận, hôn trầm, loạn động và nghi, ngay đời này, các ông nên đoạn trừ nghi hoặc, với các pháp thiện không nên nghi ngờ.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy.
Tôn sư A-lan-na cũng thuyết pháp cho đệ tử như vầy: “Này đệ tử! Tâm ta tương ưng với từ, đầy khắp một phương, thành tựu an trú, cứ như thế cho đến hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và phương trên, phương dưới, đầy khắp tất cả. Cũng như vậy, khéo tu tập để tâm tương ưng với từ, không gây thù kết oán, không sân hận tổn hại, rộng lớn vô cùng, khéo tu vô lượng, đầy khắp tất cả thế gian, thành tựu an trú. Đối với bi và hỷ cũng tu tập như vậy. Lại khéo tu tập để tâm tương ưng với xả, không gây thù kết oán, không sân hận tổn hại, rộng lớn vô cùng, khéo tu vô lượng, đầy khắp tất cả thế gian, thành tựu an trú. Này đệ tử! Các ông cũng nên thực hành tâm tương ưng với từ, đầy khắp một phương, thành tựu an trú, cứ như thế cho đến hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và phương trên, phương dưới, đầy khắp tất cả. Cũng như vậy, khéo tu tập để tâm tương ưng với từ, không gây thù kết oán, không sân hận tổn hại, rộng lớn vô cùng, khéo tu vô lượng, đầy khắp tất cả thế gian, thành tựu an trú. Đối với bi và hỷ cũng tu tập như vậy. Lại khéo tu tập để tâm tương ưng với xả, không gây thù kết oán, không sân hận tổn hại, rộng lớn vô cùng, khéo tu vô lượng, đầy khắp tất cả thế gian, thành tựu an trú.” Tôn sư A-lan-na đã thuyết pháp cho đệ tử như vậy.
[0684a12] Lại nữa, Tôn sư A-lan-na lại thuyết pháp Phạm Thế4 cho đệ tử. Khi Tôn sư A-lan-na thuyết pháp Phạm Thế cho các đệ tử, nếu vị nào không phụng hành pháp ấy đầy đủ thì sau khi qua đời, vị ấy sanh về cõi Tứ Thiên Vương hoặc sanh về cõi trời Đao-lợi, hoặc sanh về trời Diệm-ma, hoặc sanh về trời Đâu-suất-đà, hoặc sanh về trời Hóa Lạc, hoặc sanh về trời Tha Hóa Lạc. Nếu vị nào phụng hành pháp ấy đầy đủ, tu bốn Phạm thất,5 xả ly ái dục thì sau khi qua đời, vị ấy được sanh về cõi Phạm thiên. Bấy giờ, Tôn sư A-lan-na nghĩ rằng: “Đến đời sau, ta không nên sanh chung một nơi với chúng đệ tử. Vậy nay ta nên tu tăng thượng từ, tu tăng thượng từ rồi, khi qua đời sẽ được sanh về Hoảng Dục thiên.”6 Nghĩ vậy rồi, Tôn sư A-lan-na liền tu tăng thượng từ, sau khi tu tăng thượng từ rồi, lúc qua đời được sanh về cõi trời Hoảng Dục. Như vậy là Tôn sư A-lan-na và các đệ tử đã tu đạo một cách chân chánh nên được phước quả lớn.
Này Tỳ-kheo! Ý thầy nghĩ sao? Tôn sư A-lan-na thuở xưa ấy là ai khác chăng? Chớ nghĩ như vậy, vì sao như thế? Tỳ-kheo nên biết, vị đó chính là Ta đây. Lúc ấy, Ta là Tôn sư A-lan-na và có vô lượng trăm ngàn đệ tử. Ta đã thuyết pháp Phạm thế cho các đệ tử ấy. Khi Ta thuyết pháp Phạm thế cho các đệ tử ấy, có người không phụng hành đầy đủ nên sau khi qua đời được sanh về cõi Tứ Thiên Vương, hoặc sanh về cõi trời Đao-lợi, hoặc sanh về trời Diệm-ma, hoặc sanh về trời Đâu-suất-đà, hoặc sanh về trời Hóa Lạc, hoặc sanh về trời Tha Hóa Lạc. Có người phụng hành đầy đủ pháp ấy, tu bốn Phạm thất, xả ly ái dục thì sau khi qua đời được sanh về cõi Phạm Thiên. Bấy giờ, Ta lại nghĩ rằng: “Đến đời sau, Ta không nên sanh chung một cõi với chúng đệ tử. Vậy nay ta nên tu tăng thượng từ, tu tăng thượng từ rồi, khi qua đời sẽ được sanh về cõi trời Hoảng Dục.” Như vậy là Ta và các đệ tử khi ấy đã tu đạo một cách chân chánh nên được phước quả lớn.


[0684b11] Bấy giờ, Ta làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho người, cho nhiều người, thương xót thế gian, vì chư thiên và loài người mà mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn hân hoan. Thế nhưng lúc ấy, Ta thuyết pháp không đến chỗ rốt ráo, không rốt ráo thanh tịnh, không rốt ráo Phạm hạnh. Vì Phạm hạnh không rốt ráo nên lúc ấy Ta không lìa khỏi sanh, già, bệnh, chết, khóc than, ảo não, cũng chưa thể thoát khỏi mọi khổ đau. Này Tỳ-kheo, nay Ta là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc,7 Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,8 Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, là Thế Tôn.9 Nay Ta đã làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho người, cho nhiều người, thương xót thế gian, vì chư thiên và loài người mà mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn hân hoan. Nay Ta thuyết pháp đã đến chỗ rốt ráo, thanh tịnh rốt ráo, Phạm hạnh rốt ráo. Khi Phạm hạnh đã rốt ráo, Ta lìa khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, khóc than, ảo não và đã thoát khỏi mọi khổ đau.
Này các Tỳ-kheo! Có lời nói chân chánh như vầy:


Mạng người quá ngắn ngủi,
Thoáng chốc qua đời sau,
Việc thiện hãy làm mau,
Và siêng tu Phạm hạnh,
Với những gì đã sanh, Không có gì bất tử.10
 

 Này Tỳ-kheo! Đây là lời nói đúng đắn, vì sao như vậy? Ngày nay nếu có ai trường thọ thì quá lắm sống được một trăm năm, hoặc hơn vài năm nữa mà thôi. Nếu có ai trường thọ thì quá lắm sống được ba trăm mùa: Một trăm mùa xuân, một trăm mùa hạ và một trăm mùa đông; như vậy là sống được một ngàn hai trăm tháng: Bốn trăm tháng mùa xuân, bốn trăm tháng mùa hạ và bốn trăm tháng mùa đông. Sống một ngàn hai trăm tháng ấy, tức là sống hai ngàn bốn trăm nửa tháng: Tám trăm nửa tháng mùa xuân, tám trăm nửa tháng mùa hạ và tám trăm nửa tháng mùa đông. Sống hai ngàn bốn trăm nửa tháng ấy, tức là sống ba vạn sáu ngàn ngày đêm: Một vạn hai ngàn ngày mùa xuân, một vạn hai ngàn ngày mùa hạ và một vạn hai ngàn ngày mùa đông. Sống ba vạn sáu ngàn ngày đêm ấy, tức là sống với bảy vạn hai ngàn lần ăn uống và chướng ngại đối với ăn uống.
Chướng ngại đối với ăn uống đó là: Khổ không ăn, giận không ăn, bệnh không ăn, bận việc không ăn, đi đường không ăn, đến chỗ nhà vua không ăn, ngày trai không ăn, có những thứ không thể ăn được.
Tỳ-kheo! Đó là sự sống trong một trăm năm. Trong một trăm năm ấy có bấy nhiêu mùa, bấy nhiêu tháng, bấy nhiêu nửa tháng, bấy nhiêu ngày, bấy nhiêu đêm, bấy nhiêu lần ăn uống và bấy nhiêu lần chướng ngại đối với ăn uống như thế.
[0684c08] Tỳ-kheo! Nếu có bậc Tôn sư vì đệ tử mà khởi lòng từ ái, lòng thương tưởng, mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn hân hoan thì điều ấy nay Như Lai đã làm. Các thầy cũng nên làm như vậy, hãy đến nơi thanh vắng, bên gốc cây, ở nơi núi rừng, ở chỗ an ổn thanh nhàn mà tĩnh tọa tư duy, chớ nên buông lung, hãy cố gắng tinh cần, đừng để hối tiếc về sau. Đây là lời răn dạy của Như Lai, là lời giáo huấn của Như Lai.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.11

Chú thích:

1 Nguyên tác: A-lan-na kinh 阿蘭那經 (T.01. 0026.160. 0682b10). Tham chiếu: A. 7.73 - IV. 135; A. 7.74 - IV. 136.
2 Ma-nạp-ma (摩納磨, māṇava): Học trò trẻ tuổi.
3 Nguyên tác: Danh hiệu (名號): Danh tiếng tốt đẹp (名聲).
4 Phạm Thế pháp (梵世法): Pháp dẫn đến cộng trú với thế giới Phạm thiên.
5 Nguyên tác: Phạm thất (梵室, Brahmavihāra): Trú xứ của Phạm thiên. (S. 54.11): Brahmānaṃ sahabyatāya (tương đồng với Phạm thiên). Bốn Phạm thất gồm: từ (慈, mettā), bi (悲, karuṇā), hỷ (喜, muditā) và xả (捨, upekkhā).
6 Hoảng Dục thiên (晃昱天) còn gọi Quang Âm thiên (光音天) thuộc Nhị thiền, trời Sắc giới (色界).
7 Nguyên tác: Minh Hạnh Thành Vi (明行成為).
8 Nguyên tác: Đạo Pháp Ngự (道法御).
9 Nguyên tác: Chúng Hựu (眾祐).
10 Nguyên tác: Nhân mạng cực thiểu, yếu chí hậu thế, ưng hành thiện sự, ưng hành Phạm hạnh, sanh vô bất tử (人命極少, 要至後世, 應行善事, 應行梵行, 生無不死). Tham chiếu: A. 7.70 - IV. 136: Kattabbaṃ kusalaṃ, caritabbaṃ brahmacariyaṃ, natthi jātassa amaraṇaṃ (Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sinh, không có bất tử).
11 Bản Hán, hết quyển 40.

 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.