Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

156. KINH PHẠM BA-LA-DIÊN1

 

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, vào lúc xế trưa, có số đông Phạm chí nước Câu-sa-la đi đến chỗ đức Phật, chào hỏi nhau xong, ngồi sang một bên và thưa:
– Thưa Cù-đàm! Chúng tôi có điều muốn hỏi, Ngài có cho phép chăng? Đức Thế Tôn đáp: – Các ông muốn hỏi gì thì cứ tùy ý.
Lúc đó, các Phạm chí liền hỏi:
– Thưa Cù-đàm! Hiện nay các Phạm chí có còn học pháp Phạm chí thuở xưa hay là đã bỏ qua pháp đó rồi?
[0678b01] Đức Thế Tôn đáp:
– Hiện nay không còn Phạm chí nào học pháp Phạm chí thuở xưa. Các Phạm chí đã bỏ qua pháp đó từ lâu rồi. Các Phạm chí lại hỏi:
– Thưa Cù-đàm! Tại sao hiện nay không còn Phạm chí học pháp Phạm chí thuở xưa? Các Phạm chí đã bỏ qua pháp đó từ bao giờ?
Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng kệ trả lời:


Xưa có pháp Phạm chí,
Sống tự chế, khổ hạnh,2
Bỏ hưởng thụ năm dục,
Tu Phạm hạnh thanh tịnh.
Phạm hạnh và giới hạnh,
Dẫn đến tâm nhu hòa,
Tâm rộng lượng, vô hại,
Nhẫn nhục, giữ tâm mình.
Thuở xưa có pháp ấy,
Phạm chí chẳng giữ gìn,
Đã không giữ gìn pháp,
Còn sở hữu tiền tài.
Tụng tập là tài sản,
Phạm chí giữ kho này:
Áo nhiều màu đủ loại,
Cùng nhà cửa sàng tòa.
Chốn giàu sang, các nước,
Học Phạm chí như vầy:
Chớ hại Phạm chí này,
Vì họ giữ các pháp.
Đi đến cửa nhà người,
Không ai ngăn cản họ,
Pháp khất thực cư gia,
Nhận ăn theo từng bữa.

Phạm chí khi tại gia,
Thấy khất thực, bố thí,
Đến tuổi bốn tám tròn,
Liền tu hạnh thanh tịnh.
Cầu chứng Minh và Hạnh,
Là hạnh Phạm chí xưa,
Họ không trộm của cải,
Cũng chẳng lo sợ gì.
Thương mến đùm bọc nhau,
Cùng sống chung hòa hợp,
Không tạo điều phiền não,
Chẳng theo pháp oán, dâm.
Có những bậc Phạm chí,
Không hay làm như vậy,
Nếu có hạnh bậc nhất,
Phạm chí quyết mong cầu.
Các việc dâm dục kia,
Không làm dù trong mộng,
Nhân hạnh trong sạch đó,
Mà xưng “Ta là Phạm.”
Biết họ có hạnh ấy,
Bậc trí sẽ nghe danh,
Giường thưa, y áo mỏng,
Cơm, sữa cốt sinh tồn.
Khất cầu đều như pháp,
Hành bố thí, lập đàn,3
Khi tế đàn, không xin,
Cúng tài vật tự có.
Lúc lập đàn bố thí,
Người ấy không giết bò,
Xem bò như anh em,
Cha mẹ, người thân khác.
Người, bò quý như nhau,
Do đây sanh khoái lạc,
Ăn uống cốt khỏe thân,
Nhờ vậy mà yên ổn.
Biết được nghĩa lý này,
Không ưa giết hại bò,
Thân cao to mềm mại,
Thần sắc đáng ngợi khen.
Ân cần tự cầu lợi,
Thuở xưa Phạm chí hành,
Phạm chí vì lợi mình,
Biết nên làm, phải tránh.
Cõi này, trong tương lai,
Người ấy tất giải thoát,
Nhưng ngày tháng trôi qua,
Tâm họ hướng nơi khác.
Đêm đến thường rong chơi,
Với người nữ chưng diện,
Đàn bò quây trước mặt,
Vợ đẹp luôn cận kề.
Dục nhân gian vi diệu,
Phạm chí thường ước mong,
Ngựa xe trang bị đủ,
Tài nghệ giỏi vá may.
Hôn nhân và nhà cửa,
Phạm chí thường ước mong,
Họ tạo triền phược ấy,
Chúng tôi từ đó ra.
Đại vương lập tế đàn,
Mong đừng mất tài lợi,
Tài vật lúa gạo nhiều
Lại có thêm tiền của.
Vua cũng chỉ bằng đây,
Phạm chí cùng xe cộ,
Tế voi và tế ngựa,
Tế ngựa được suốt thông.4
Tụ tập làm tế thí,
Tài vật cúng Phạm chí,
Họ từ đó được lợi,
Càng mê đắm tài vật.
Vì khơi dậy lòng dục,
Nên ái càng lớn thêm,
Giống như ao nước rộng,
Chứa vô lượng tiền tài.
Cũng vậy, người có bò,
Các vật dụng sinh sống,
Tự tạo trói buộc ấy,
Chúng tôi từ đó ra.
Đại vương lập tế đàn,
Mong đừng mất tài lợi,
Tài vật lúa gạo nhiều,
Ông có thêm nhiều bò.
Vua cũng chỉ bằng đây,
Phạm chí cùng xe cộ,
Bò vô lượng trăm ngàn,
Vì tế tự mà giết.
Bò heo thời xưa kia,
Đầu, sừng không phiền nhiễu,
Lại giữ chặt sừng bò,
Dùng dao bén giết hại.
La-sát tên là Hương,
Gọi bò và gọi cha,
Hắn kêu gào phi pháp,
Rồi dùng dao đâm bò.
Tế tự theo cách ấy,
Vượt qua pháp tổ tiên,
Không việc gì phải giết,
Nên bỏ pháp suy này.
Thời xưa có ba bệnh,
Dục vọng, đói và già,
Do thù nghịch với bò,
Khởi chín mươi tám bệnh.
Như vậy là oán thù,
Bậc trí vốn rất ghét,
Nếu ai cũng thấy vậy,
Thì đâu có oán thù.
Đời này làm như thế,
Hạ tiện còn ngu si,
Vì dục mà ganh ghét,
Như vợ phỉ báng chồng.
Nữ Sát-lợi, Phạm chí,
Và chấp giữ chủng tánh,
Vi phạm pháp tiền nhân,
Cuốn trôi theo dục vọng.


[0679a18] Như vậy, này Phạm chí, hiện tại không còn Phạm chí nào học pháp Phạm chí xưa, các Phạm chí đã bỏ qua pháp Phạm chí xưa từ lâu rồi.
Bấy giờ, số đông Phạm chí nước Câu-sa-la thưa:
– Bạch Thế Tôn! Chúng con đã biết. Bạch Thiện Thệ! Chúng con đã rõ. Nay chúng con nguyện quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, cúi xin đức Thế Tôn nhận chúng con làm ưu-bà-tắc! Kể từ hôm nay đến lúc qua đời, chúng con nguyện quy y Tam bảo!
Đức Phật dạy như vậy, số đông Phạm chí nước Câu-sa-la và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.5

Chú thích:

1 Nguyên tác: Phạm Ba-la-diên kinh 梵波羅延經 (T.01. 0026.156. 0678a23). Tham chiếu: Sn. 50.
2 Nguyên tác: Nhiệt hành (熱行). Pāli: Tāpasa (người sống theo khổ hạnh). 
3 Nguyên tác: Trai (齋), chỉ cho hoạt động cúng tế, tế tự. Pāli: Yañña. Tham chiếu: Sn. 190: Tato jātena āyena, mahāyaññamakappayī (Với tài sản thâu thập, tổ chức tế đàn lớn), HT. Thích Minh Châu dịch; (Với thu nhập phát sinh từ nơi ấy, vị Bà-la-môn đã sắp đặt một cuộc tế lễ vĩ đại), Tỳ-khưu Indacanda dịch.
4 Nguyên tác: Mã trai (馬齋): Dùng ngựa để tế tự theo truyền thống. Trong Rig Veda (1.162-163) gọi là Aśvamedha theo ngôn ngữ Sanskrit, trong Pāli gọi là Assamedha.
5 Bản Hán, hết quyển 39.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.