Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Đông Viên, giảng đường Lộc Tử Mẫu.
Bấy giờ, có hai người thuộc dòng Phạm chí tên là Bà-tư-tra2 và Bà-la-bà,3 cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Các Phạm chí khác thấy vậy đã chỉ trích họ dữ dội, nói những lời rất gay gắt và cay nghiệt: “Dòng dõi Phạm chí là hơn hết, ngoài ra không dòng tộc nào bằng. Dòng dõi Phạm chí da trắng, ngoài ra đều là da đen. Phạm chí được thanh tịnh, ngoài ra đều không được thanh tịnh. Phạm chí là con của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên hóa sanh. Các ông bỏ nơi thù thắng mà đi vào chỗ thấp hèn, bỏ trắng theo đen. Những Sa-môn đầu trọc kia bị trói buộc vào nơi đen tối, đoạn dứt giống nòi, không có con cái. Thế nên, các ông đã làm chuyện cực ác, phạm sai lầm cực lớn.”
Khi ấy, vào buổi chiều, đức Thế Tôn rời nơi tĩnh tọa, từ trên giảng đường đi xuống kinh hành nơi khoảnh đất trống trong bóng mát của giảng đường rồi nói pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo. Tôn giả Bà-tư-tra từ xa trông thấy đức Thế Tôn đã rời nơi tĩnh tọa, từ trên giảng đường đi xuống kinh hành nơi khoảnh đất trống trong bóng mát của giảng đường rồi nói pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo. Thấy như vậy rồi, Tôn giả Bà-tư-tra liền nói:
– Này Hiền giả Bà-la-bà, thầy có biết chăng, vừa rồi đức Thế Tôn đã rời nơi tĩnh tọa, từ trên giảng đường đi xuống kinh hành nơi khoảnh đất trống trong bóng mát của giảng đường rồi nói pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo. Này Hiền giả Bà-la-bà, chúng ta nên đến chỗ đức Phật, có thể nhân đây mà được nghe Ngài nói pháp.
Khi ấy, Bà-tư-tra và Bà-la-bà liền đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ rồi đi kinh hành theo sau Ngài.
Đức Thế Tôn quay lại rồi bảo hai vị này:
– Bà-tư-tra, hai thầy vốn dòng dõi Phạm chí, nay từ bỏ dòng Phạm chí, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Các Phạm chí khác thấy vậy có chỉ trích các thầy không?
Hai vị này liền thưa:
– Thưa có, bạch Thế Tôn! Các Phạm chí thấy vậy nên đã chỉ trích dữ dội, nói những lời rất gay gắt và cay nghiệt.
Đức Thế Tôn hỏi:
– Này Bà-tư-tra, các Phạm chí thấy vậy đã chỉ trích dữ dội, nói những lời rất gay gắt và cay nghiệt như thế nào?
[0673c01] Bà-tư-tra thưa:
– Bạch đức Thế Tôn, các Phạm chí thấy chúng con như vậy thì nói thế này: “Dòng dõi Phạm chí là hơn hết, ngoài ra không dòng tộc nào bằng. Dòng dõi Phạm chí da trắng, ngoài ra đều là da đen. Phạm chí được thanh tịnh, ngoài ra đều không được thanh tịnh. Phạm chí là con của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên hóa sanh. Các ông bỏ nơi thù thắng mà đi vào chỗ thấp hèn, bỏ trắng theo đen. Những Sa-môn đầu trọc kia bị trói buộc vào nơi đen tối, đoạn dứt giống nòi, không có con cái. Thế nên, các ông đã làm chuyện cực ác, phạm sai lầm cực lớn!” Bạch Thế Tôn, các Phạm chí thấy chúng con như vậy nên đã chỉ trích dữ dội, nói những lời rất gay gắt và cay nghiệt như thế.
Đức Thế Tôn bảo:
– Này Bà-tư-tra, những lời của các Phạm chí quá độc ác, bất chấp đạo lý. Vì sao như vậy? Vì họ ngu si, không khéo hiểu rõ, không biết ruộng phước, không tự biết mình do đó mới nói: “Phạm chí chúng ta là con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên hóa sanh.” Vì sao như vậy? Này Bà-tư-tra, chính Ta, với sự chứng đắc Minh hạnh Vô thượng này, đã không chủ trương thọ sanh là ưu thắng, không chủ trương chủng tộc, không nói lời kiêu mạn rằng: “Điều ấy vừa lòng ta, hoặc không vừa lòng ta, vì được chỗ ngồi, vì có nước uống,4 vì học tập kinh thư.” Này Bà-tư-tra, nơi nào có sự hôn nhân thì nơi đó nói về thọ sanh, nói về chủng tộc, nói lời kiêu mạn, bảo rằng: “Điều ấy vừa lòng ta, hoặc không vừa lòng ta, vì được chỗ ngồi, vì có nước uống, vì học tập kinh thư.”
Này Bà-tư-tra, nếu ai chấp thủ về thọ sanh, chấp thủ về chủng tộc và chấp thủ về kiêu mạn thì người ấy cách biệt quá xa đối với sự chứng đắc Minh hạnh Vô thượng của Ta.
Này Bà-tư-tra, ai chủ trương về thọ sanh, chủ trương về chủng tộc, chủ trương về kiêu mạn, bảo rằng: “Điều ấy vừa lòng ta, hoặc không vừa lòng ta, vì được chỗ ngồi, vì có nước uống và vì học tập kinh thư” thì người ấy cách biệt với sự chứng đắc Minh hạnh Vô thượng của Ta.
Lại nữa, này Bà-tư-tra, ở đây có ba giai cấp, có thể không phải là tất cả, cùng tranh luận với nhau, thiện xen lẫn bất thiện, được các bậc Thánh khen ngợi hoặc không khen ngợi. Ba giai cấp đó là dòng dõi Sát-lợi, dòng dõi Phạm chí và dòng dõi Tỳ-xá.5
Này Bà-tư-tra, ý thầy thế nào? Dòng dõi Sát-lợi có người sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến. Dòng dõi Tỳ-xá cũng vậy, còn dòng dõi Phạm chí không làm những việc đó chăng?
Bà-tư-tra thưa:
– Bạch Thế Tôn, dòng Sát-lợi có người sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến. Dòng dõi Phạm chí và Tỳ-xá cũng lại như vậy.
Đức Thế Tôn hỏi:
– Này Bà-tư-tra, ý thầy thế nào? Chỉ có dòng dõi Phạm chí mới xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối,... (cho đến) xa lìa tà kiến, được chánh kiến, còn dòng dõi Sát-lợi và Tỳ-xá thì không như vậy chăng?
Bà-tư-tra thưa:
– Bạch đức Thế Tôn, Phạm chí cũng có người xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối,... (cho đến) xa lìa tà kiến, được chánh kiến và dòng dõi Sát-lợi hay Tỳ-xá cũng vậy.
[0674a02] Đức Thế Tôn hỏi:
– Này Bà-tư-tra, ý thầy thế nào? Nếu có vô lượng pháp xấu ác, bất thiện thì đó chỉ là việc làm của dòng dõi Sát-lợi và Tỳ-xá chứ không phải Phạm chí chăng? Và nếu có vô lượng pháp thiện thì đó chỉ là việc làm của dòng dõi Phạm chí chứ chẳng phải dòng dõi Sát-lợi hay Tỳ-xá chăng?
Bà-tư-tra thưa:
– Bạch đức Thế Tôn, nếu có vô lượng pháp xấu ác, bất thiện thì dòng dõi Sát-lợi hay Tỳ-xá kia cũng có thể làm và Phạm chí cũng như vậy. Nếu có vô lượng pháp thiện thì dòng dõi Phạm chí cũng có thể làm và Sát-lợi hay Tỳ-xá cũng lại như vậy.
– Này Bà-tư-tra, nếu có vô lượng pháp xấu ác, bất thiện mà tuyệt đối chỉ có dòng dõi Sát-lợi hay Tỳ-xá làm, chứ không phải Phạm chí làm và nếu có vô lượng pháp thiện mà tuyệt đối chỉ có dòng dõi Phạm chí làm chứ không phải Sát-lợi hay Tỳ-xá làm thì các Phạm chí kia có thể nói như thế này: “Phạm chí chúng ta là con của Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên hóa sanh.” Vì sao như vậy? Này Bà-tư-tra, người ta thấy cô gái Phạm chí vừa mới lấy chồng, sau khi lấy chồng thì mang thai. Sau thời gian mang thai thì thấy nàng sanh ra bé trai hoặc bé gái. Này Bà-tư-tra, như vậy, các Phạm chí cũng y theo pháp thế gian, được sanh ra từ sản đạo, thế mà họ lại nói dối, vu khống và hủy báng Phạm thiên khi cho rằng: “Phạm chí chúng ta là con của Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên hóa sanh.”
Này Bà-tư-tra, nếu một thiện nam, bất luận chủng tộc hay dòng họ nào mà từ bỏ chủng tộc và dòng họ, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, theo Ta học đạo thì có thể nói như vầy: “Phạm chí chúng tôi là con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên hóa sanh.” Vì sao như vậy? Này Bà-tư-tra, vì thiện nam ấy vào trong giáo pháp của Ta, đã thọ lãnh giáo pháp, đến được bờ bên kia, đoạn trừ nghi hoặc, thoát khỏi mê lầm, không còn do dự nơi pháp Thế Tôn, được Vô sở úy. Thế nên, người ấy xứng đáng nói như vầy: “Phạm chí chúng ta là con của Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên hóa sanh.”
Này Bà-tư-tra, vị Phạm thiên đó chính là đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Bởi vì Phạm là Như Lai, mát mẻ là Như Lai, không phiền não, không nóng bức, không lìa Như, đó chính là Như Lai.6
Này Bà-tư-tra, ý thầy thế nào? Những người họ Thích có khiêm tốn, yêu quý, kính trọng, cúng dường và phụng sự Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la chăng?
Bà-tư-tra thưa:
– Thưa có, bạch Thế Tôn.
Đức Thế Tôn hỏi:
– Này Bà-tư-tra, ý thầy thế nào? Nếu những người họ Thích khiêm tốn, yêu quý, kính trọng, cúng dường và phụng sự Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la thì như vậy, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đối với bản thân Ta có khiêm tốn, yêu quý, kính trọng, cúng dường và phụng sự Ta chăng?
[0674b04] – Bạch Thế Tôn! Những người họ Thích mà khiêm tốn, yêu quý, kính trọng, cúng dường và phụng sự Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la thì việc này không có gì lạ. Nếu Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la mà khiêm tốn, yêu quý, kính trọng, cúng dường và phụng sự Thế Tôn thì việc này rất kỳ lạ.
Đức Thế Tôn bảo:
– Này Bà-tư-tra, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đối với bản thân Ta mà khiêm tốn, yêu quý, kính trọng, cúng dường và phụng sự Ta, không phải với ý nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm thuộc chủng tộc cao, còn ta thuộc chủng tộc thấp; Sa-môn Cù-đàm tài bảo quá nhiều, còn ta tài bảo quá ít; Sa-môn Cù-đàm hình sắc quá đẹp, còn ta hình sắc quá kém; Sa-môn Cù-đàm có oai thần lớn, còn ta oai thần quá ít; Sa-môn Cù-đàm có trí tuệ cao thượng còn ta có trí tuệ yếu kém.” Này Bà-tư-tra, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la chỉ vì yêu kính Pháp, tôn trọng Pháp, cúng dường Pháp và vì phụng sự Pháp nên đối với bản thân Ta, nhà vua đã khiêm tốn, yêu quý, kính trọng, cúng dường và phụng sự Ta.
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Tỳ-kheo rằng:
– Này Bà-tư-tra, có thời kỳ mà tất cả thế gian này đều hoại diệt. Khi thế gian này hoại diệt, các chúng sanh sanh vào cõi trời Hoảng Dục.7 Ở trong cõi ấy, họ có sắc tướng vi diệu do ý hóa sanh, tất cả tay chân và các căn đều đầy đủ, họ dùng hỷ làm thức ăn, thân thể sáng chói, bay giữa hư không, sống mãi trong tịnh sắc.
Này Bà-tư-tra, có thời kỳ mà trái đất này tràn ngập nước. Do gió thổi đến, khiến mặt nước khuấy động tạo thành một lớp bọt rồi kết tinh lại, hòa hợp giống như sữa đặc đóng váng, kết hợp lại thành tinh chất. Này Bà-tư-tra, như thế, có thời kỳ trái đất này tràn ngập nước. Do gió thổi đến, khiến mặt nước khuấy động tạo thành một lớp bọt hòa hợp rồi kết tinh lại, từ đó sanh ra vị của đất, có sắc, có hương, có vị. Sắc ấy như thế nào? Giống như sắc của sanh tô và sắc của thục tô. Vị của đất như thế nào? Như vị của mật ong.
Này Bà-tư-tra, rồi có thời kỳ, thế giới này trở lại thời kỳ hình thành, có những chúng sanh sống ở cõi trời Hoảng Dục, khi mạng tận, nghiệp hết, phước mãn rồi qua đời, sanh trở lại làm người ở cõi này. Sau khi sanh vào cõi này với sắc tướng đẹp đẽ, do ý hóa sanh, tất cả tay chân và các căn đều đầy đủ, họ dùng hỷ lạc làm thức ăn, thân tự phát sáng, bay giữa hư không, sống mãi trong tịnh sắc.
Này Bà-tư-tra, bấy giờ ở trong thế giới đó không có mặt trời, mặt trăng, cũng chẳng có các vì sao, không có ngày đêm, không có một tháng hay nửa tháng, không có ngày giờ cũng chẳng có năm. Này Bà-tư-tra, lúc ấy họ không có cha, không có mẹ, không có nam hay nữ, lại cũng không có chủ nhân và tôi tớ, chỉ có một loại chúng sanh như nhau mà thôi. Rồi có một chúng sanh tham ăn, không liêm khiết, đã nghĩ như vầy: “Vị của đất như thế nào? Ta hãy thử dùng ngón tay chấm một ít đất này nếm thử.” Bấy giờ, chúng sanh ấy liền dùng ngón tay chấm một ít đất đó mà nếm thử. Như vậy, chúng sanh đã biết vị của đất, lại muốn được ăn. Lúc ấy, chúng sanh này lại nghĩ: “Sao lại phải nếm vị của đất bằng ngón tay cho nhọc sức, ta hãy dùng tay vốc lấy vị đất này mà ăn.” Chúng sanh ấy liền dùng tay vốc lấy vị đất này mà ăn. Trong số các chúng sanh kia, lại có những chúng sanh thấy các chúng sanh này đều dùng tay vốc lấy vị đất mà ăn, liền nghĩ: “Việc này thật là hay, việc này thật là thích, chúng ta cũng có thể dùng tay vốc lấy vị đất này để ăn.” Rồi họ liền dùng tay vốc lấy vị đất này mà ăn. Khi họ đã dùng tay vốc lấy vị đất này để ăn và cứ như thế, thân họ trở nên thô kệch, trở nên nặng nề, trở nên cứng chắc. Nếu trước kia họ có sắc thân sáng bóng thì bây giờ bị mất, tự nhiên trở nên tăm tối.
Này Bà-tư-tra, pháp của thế gian tự nhiên có điều này: Nếu sự tối tăm đã sanh khởi thì mặt trời, mặt trăng chắc chắn xuất hiện. Mặt trời, mặt trăng đã xuất hiện thì các vì sao cũng xuất hiện. Các vì sao đã xuất hiện, liền thành ra có ngày và đêm; có ngày và đêm rồi, liền có một tháng hay nửa tháng, có ngày có giờ và có năm. Bấy giờ, chúng sanh ăn vị của đất và sống rất lâu.
[0674c20] Này Bà-tư-tra, nếu chúng sanh nào ăn vị của đất nhiều thì sắc da trở nên thô xấu, nếu ăn ít thì có sắc da đẹp đẽ, từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu sắc, do màu sắc hơn kém cho nên các chúng sanh có lời khinh chê lẫn nhau: “Sắc da của ta đẹp hơn, sắc của ông không bằng.” Do màu sắc hơn kém mà sanh ra sự khinh chê và các điều xấu ác, cho nên vị của đất liền mất. Khi vị của đất đã mất, các chúng sanh kia liền tụ tập lại, khóc lóc não nề và nói: “Vị của đất đâu rồi? Vị của đất đâu rồi?” Cũng như người đời nay ngậm tan một vật ngon, nhưng do không diễn tả bằng căn ngữ,8 tuy tiếp nhận và giữ gìn nhưng không biết được ý nghĩa. Sự quán sát về ý nghĩa này cũng giống như vậy.
Này Bà-tư-tra, sau khi vị của đất biến mất thì thế giới của chúng sanh đó sanh ra một loại chất béo của đất9 có đủ sắc, hương và vị. Sắc đó như thế nào? Như sắc của sinh tô và thục tô. Vị ấy như thế nào? Như vị của mật ong. Chúng sanh kia ăn chất béo của đất mà tồn tại trong một thời gian lâu dài.
[0675a01] Này Bà-tư-tra, nếu chúng sanh nào ăn nhiều chất béo của đất thì sắc da trở nên thô xấu, nếu ăn ít thì có sắc da đẹp đẽ. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu da, do màu da hơn kém cho nên các chúng sanh có lời khinh chê lẫn nhau: “Sắc da của ta đẹp hơn, sắc da của ông không bằng.” Do màu da hơn kém mà sanh ra sự khinh chê và các điều xấu ác cho nên chất béo của đất liền tiêu mất. Khi chất béo của đất tiêu mất, các chúng sanh kia liền nhóm họp nhau lại, khóc lóc não nề và nói: “Chất béo của đất đâu rồi? Chất béo của đất đâu rồi?” Cũng như người đời nay bị người khác trách mắng, do không diễn tả bằng căn ngữ nên tuy tiếp nhận và giữ gìn nhưng không biết được ý nghĩa. Sự quán sát về ý nghĩa này cũng giống như vậy.
Này Bà-tư-tra, sau khi chất béo của đất tiêu mất thì thế giới của chúng sanh đó sanh ra một loại bà-la10 có đầy đủ sắc, hương và vị. Sắc đó như thế nào? Như sắc hoa đàm. Vị ấy như thế nào? Như vị mật ong tinh chất. Chúng sanh kia ăn bà-la này mà tồn tại ở thế gian trong thời gian lâu dài.
Này Bà-tư-tra, nếu chúng sanh nào ăn bà-la nhiều thì sắc da trở nên thô xấu, nếu ăn ít thì có sắc da đẹp đẽ. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu da. Do sắc có hơn kém cho nên chúng sanh đó khinh chê nhau rằng: “Sắc của ta đẹp hơn, sắc của ông không bằng.” Do sắc có hơn kém mà sanh ra sự khinh chê và các điều xấu ác, cho nên bà-la liền tiêu mất. Khi bà-la đã tiêu mất, các chúng sanh kia liền nhóm họp nhau lại, khóc lóc não nề và nói: “Bà-la đâu rồi? Bà-la đâu rồi?” Cũng như người đời nay khi va chạm nhiều đau khổ, do không diễn tả bằng căn ngữ nên tuy tiếp nhận và giữ gìn nhưng không biết được ý nghĩa. Sự quán sát về nghĩa lý này cũng giống như vậy.
Này Bà-tư-tra, sau khi bà-la diệt mất thì thế giới của chúng sanh đó sanh ra một lúa loại gạo tự nhiên trắng sạch,11 không có vỏ cũng không có cám, hạt dài bốn tấc, sáng sớm thu hoạch thì xế chiều lại sanh, xế chiều thu hoạch thì sớm mai lại sanh, lúa chín có vị mặn, không có mùi sống, chúng sanh ăn loại gạo tự nhiên này. Sau khi họ ăn loại gạo tự nhiên này, tức thì sanh ra sự khác nhau về thân hình. Hoặc có chúng sanh trở thành thân nam, hoặc có chúng sanh trở thành thân nữ. Sau khi các chúng sanh này trở thành thân nam và thân nữ, họ thấy nhau liền nói: “Chúng sanh xấu ác ra đời! Chúng sanh xấu ác ra đời!”
Này Bà-tư-tra, “chúng sanh xấu ác ra đời”, đó là nói về người nữ. Khi chúng sanh kia đã trở thành thân nam và thân nữ thì họ nhìn ngắm nhau; nhìn ngắm nhau rồi thì nhìn kỹ nhau bằng mắt; nhìn kỹ nhau bằng mắt rồi thì họ lại đắm nhiễm nhau; đắm nhiễm nhau rồi, liền có bứt rứt; có bứt rứt rồi thì họ luyến ái nhau; luyến ái nhau rồi thì họ hành dục. Nếu bắt gặp họ hành dục, người ta liền dùng cây, đá, gậy hoặc đất cục mà đánh, mà ném rồi mắng: “Chúng sanh xấu xa làm việc phi pháp! Tại sao chúng sanh cùng nhau làm điều như vậy?” Cũng như người thời nay khi rước vợ mới, người ta rải hoa, hay rải xuống những tràng hoa và nói như vầy: “Chúc cô dâu bình an! Chúc cô dâu bình an!” Đó là việc mà xưa kia thì người ta ghét bỏ, còn ngày nay thì người ta yêu thích.
Này Bà-tư-tra, cũng có chúng sanh ghét điều bất tịnh, nhờm gớm, nhục nhã, biết hổ, biết thẹn, liền rời bỏ đám đông từ một ngày, hai ngày,... (cho đến) sáu bảy ngày, nửa tháng, một tháng… rồi cho đến một năm.
Này Bà-tư-tra, nếu có chúng sanh muốn làm việc bất tịnh này thì người ấy liền làm nhà và nói: “Ta làm điều xấu ở trong này! Ta làm điều xấu ở trong này!” Này Bà-tư-tra, đó là nhân duyên đầu tiên trong thế gian có pháp dựng nhà, đây là người có trí kỳ cựu bậc nhất, làm đúng pháp, chứ chẳng phải làm không đúng pháp. Đúng như pháp là điều tôn quý giữa loài người.
[0675b13] Trong đó có chúng sanh lười biếng nên nghĩ: “Tại sao đến bữa ăn ta mới đi lấy gạo tự nhiên? Sao ta không lấy cho đủ ăn một ngày?” Người ấy liền lấy gạo đủ ăn cho một ngày. Khi ấy, có một chúng sanh khác bảo người ấy rằng:
“Này ông, cùng đi lấy gạo với tôi không?”
Vị ấy trả lời:
“Tôi đã lấy đủ rồi. Ông hãy đi lấy một mình.”
Chúng sanh kia nghe rồi, liền nghĩ: “Người kia thật là khôn, thật là lanh! Ta cũng nên lấy gạo đủ ăn cho ngày mai chăng?” Người này liền lấy gạo cho ngày mai. Lại có một chúng sanh khác nói với người này rằng:
“Này chúng sanh kia! Ông đi lấy gạo với tôi không?”
Người này đáp:
“Tôi đã lấy gạo cho ngày mai rồi, ông hãy đi một mình.”
Chúng sanh ấy nghe rồi, liền nghĩ: “Người kia thật là khôn, thật là lanh! Bây giờ, ta nên lấy gạo đủ ăn trong bảy ngày chăng?” Rồi người này liền lấy gạo đủ ăn trong bảy ngày. Khi chúng sanh này lấy gạo tự nhiên để tích chứa nhiều thì số gạo được cất chứa ấy sanh ra vỏ trấu và cám, thu hoạch để dành cho đến bảy ngày cũng sanh vỏ trấu và cám. Thu hoạch đến đâu thì chỗ ấy lúa gạo không còn mọc nữa.
Bấy giờ, các chúng sanh liền cùng nhau nhóm họp, than khóc thống thiết rồi nói: “Chúng ta đã làm phát sanh pháp xấu ác, bất thiện, do vì chúng ta cất chứa gạo để lâu. Vì sao như vậy? Bởi lẽ, chúng ta vốn có sắc tướng đẹp đẽ, do ý hóa sanh; tất cả tay chân và các căn đều đầy đủ, dùng hỷ làm thức ăn, tự thân phát sáng, bay giữa hư không, sống mãi với tịnh sắc. Chúng ta đã làm phát sanh ra vị của đất có đầy đủ sắc, hương và vị. Sắc của đất thế nào? Sắc của đất như sắc của sinh tô, thục tô. Vị của đất thế nào? Vị của đất như vị mật ong. Chúng ta ăn vị của đất và tồn tại một thời gian lâu dài. Chúng ta nếu ăn nhiều vị của đất thì sắc da trở nên thô xấu, nếu ăn ít thì có sắc da đẹp đẽ, từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu da. Do màu da hơn kém mà chúng ta đã nói lời khinh chê lẫn nhau: ‘Sắc của ta đẹp hơn, sắc của ông không bằng.’ Do sắc có hơn kém mà sanh ra khinh chê và các điều xấu ác, cho nên vị của đất liền mất.
Sau khi vị của đất tiêu mất thì chất béo của đất được sanh ra cho chúng ta với đầy đủ sắc, hương và vị. Sắc của chất béo thế nào? Sắc của chất béo như sắc của sinh tô, thục tô. Vị của chất béo thế nào? Vị của chất béo như vị mật ong. Chúng ta ăn chất béo của đất mà tồn tại lâu dài ở thế gian. Người nào ăn chất béo của đất nhiều thì sắc da trở nên thô xấu, người ăn ít thì có sắc da đẹp đẽ, từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu sắc. Vì sắc có hơn kém, cho nên chúng ta đã nói lời khinh chê lẫn nhau: ‘Sắc ta đẹp hơn, sắc ngươi không bằng.’ Vì sắc hơn kém mà sanh ra tâm khinh chê và các điều xấu ác, cho nên chất béo của đất liền tiêu mất.
Sau khi chất béo của đất tiêu mất thì có loại bà-la sanh ra cho chúng ta với đầy đủ sắc, hương và vị. Sắc của bà-la thế nào? Sắc của bà-la như hoa ưu-đàm. Vị của bà-la thế nào? Vị như vị của mật ong tinh chất. Chúng ta ăn bà-la mà tồn tại lâu dài ở thế gian. Người nào ăn bà-la nhiều thì sắc da trở nên thô xấu, người ăn bà-la ít thì có sắc da đẹp đẽ. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về màu sắc. Do sắc có hơn kém cho nên chúng ta lại nói lời khinh chê lẫn nhau: ‘Sắc ta đẹp hơn, sắc ngươi không bằng.’ Do sắc hơn kém mà sanh ra tâm khinh chê và các điều xấu ác, cho nên bà-la liền tiêu mất.
Sau khi bà-la tiêu mất thì có loại gạo tự nhiên được sanh ra cho chúng ta, không vỏ trấu cũng không cám, hạt dài bốn tấc, sáng thu hoạch thì chiều sanh, chiều thu hoạch thì sáng sanh, lúa chín có vị mặn, không có mùi sống. Chúng ta ăn lúa gạo tự nhiên này. Khi chúng ta tích chứa lúa gạo tự nhiên nhiều thì lúa được cất liền sanh ra vỏ trấu và cám, thu hoạch để dành cho đến bảy ngày cũng sanh vỏ trấu và cám, thu hoạch đến đâu thì lúa gạo chỗ đó không còn mọc trở lại nữa. Vậy chúng ta phải làm ruộng và cắm mốc ư?”
[0675c29] Rồi các chúng sanh ấy làm ruộng và cắm mốc. Khi đó có một chúng sanh đã có lúa của mình lại còn vào ruộng người khác mà lấy trộm lúa. Người chủ ruộng kia thấy vậy liền nói: “Này chúng sanh xấu ác kia, vì sao ngươi làm như vậy? Ngươi đã có lúa rồi mà sao lại còn vào ruộng của người khác trộm lúa. Ngươi hãy đi đi, về sau đừng làm như vậy nữa!”
Tuy nhiên, chúng sanh kia vẫn đi lấy trộm lúa của người khác hai, ba lần nữa. Người chủ ruộng cũng bắt gặp đến hai, ba lần, liền dùng tay đánh chúng sanh kia, kéo đến chỗ đông người rồi nói với mọi người:
“Chúng sanh này đã có lúa của mình mà lại còn vào ruộng của tôi trộm cắp lúa.”
Chúng sanh kia cũng nói với mọi người:
“Chúng sanh này đã dùng tay đánh tôi, còn kéo tôi đến chỗ đông người.”
[0676a08] Khi ấy, các chúng sanh kia cùng nhau nhóm họp, khóc lóc não nề và nói:
“Chúng ta đã sanh pháp xấu ác, bất thiện, gọi đó là giữ ruộng. Vì sao như vậy? Vì canh giữ ruộng cho nên mới tranh cãi nhau, có mất mát, có cạn kiệt, có nói lý lẽ với nhau, có đánh nhau bằng nắm tay. Trong số đông này, chúng ta hãy cử ra một người có dung mạo đoan chánh, đẹp đẽ bậc nhất để lập làm điền chủ.12 Nếu người nào đáng quở trách thì để ông ấy quở trách, nếu người nào đáng đuổi thì để ông ấy đuổi đi. Còn lúa của chúng ta sau khi thu được thì nên đúng như pháp trích một phần hiến tặng cho13 ông ấy.
Bấy giờ, trong số chúng sanh kia có một người dung mạo đoan chánh, đẹp đẽ bậc nhất, họ liền cử ra rồi lập làm điền chủ. Nếu có ai đáng quở trách thì ông ấy quở trách, nếu có ai đáng đuổi thì ông ấy đuổi đi. Nếu có lúa thì họ đúng như pháp trích một phần hiến cho điền chủ. Vị điền chủ này được gọi là Sát-lợi,14 là người khiến cho chúng sanh được an lạc đúng pháp, là người bảo hộ và thực hành pháp luật15 và cũng là người lãnh đạo. Người lãnh đạo này được gọi là vua16 vậy.
Này Bà-tư-tra, đó là nhân duyên đầu tiên của dòng Sát-lợi trong thế gian, là người có trí bậc nhất và kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không đúng như pháp. Đúng như pháp là pháp tôn quý giữa loài người.
Khi ấy, có chúng sanh cho rằng sự thủ hộ là bệnh, thủ hộ là ung nhọt, thủ hộ là mũi tên đâm, liền từ bỏ sự thủ hộ, nương nơi thanh vắng, làm nhà lá để ở và học thiền. Người ấy từ nơi thanh vắng, mỗi buổi sáng vào thôn ấp hay vương thành mà khất thực. Số đông chúng sanh kia thấy vậy liền bố thí, cung kính, tôn trọng và nói: “Chúng sanh dị thường này cho rằng thủ hộ là bệnh, thủ hộ là ung nhọt, thủ hộ là mũi tên đâm nên đã từ bỏ thủ hộ, nương nơi thanh vắng, làm nhà lá để ở và học thiền. Các ngài này đã xả bỏ tổn hại và các pháp xấu ác, bất thiện, là bậc Phạm chí.” Do cầu sanh về cõi Phạm nên gọi họ là Phạm chí.
[0676b01] Chúng sanh kia học thiền mà không đạt được thiền, học khổ hạnh mà không có được khổ hạnh, học viễn ly mà không thể viễn ly, học nhất tâm mà không được nhất tâm, học tinh tấn mà không được tinh tấn, liền bỏ nơi thanh vắng, trở về thôn ấp, vương thành, làm nhà bốn trụ, tạo lập kinh sách. Các chúng sanh kia thấy vậy nên không bố thí nữa, cũng không cung kính, tôn trọng nữa và nói: “Chúng sanh khác thường này trước kia xem thủ hộ là bệnh, thủ hộ là ung nhọt, thủ hộ là mũi tên đâm, liền từ bỏ sự thủ hộ, nương nơi thanh vắng, làm nhà lá để ở và học thiền, nhưng không thể đạt được thiền, học khổ hạnh mà không có được khổ hạnh, học viễn ly mà không thể viễn ly, học nhất tâm mà không được nhất tâm, học tinh tấn mà không được tinh tấn, liền bỏ nơi thanh vắng, trở về thôn ấp, vương thành, làm nhà bốn trụ, tạo lập kinh sách. Các ngài này đều trở lại sự học bác văn chứ không học thiền nữa nên gọi là hàng bác văn.” Vì nghe hiểu uyên bác cho nên gọi là bác văn.
Này Bà-tư-tra, đó là nhân duyên đầu tiên của dòng dõi Phạm chí trong thế gian, là người có trí đệ nhất và kỳ cựu, đúng như pháp chứ chẳng phải không đúng như pháp. Đúng như pháp là pháp tôn quý giữa loài người.
Bấy giờ, các chúng sanh khác đến các phương để làm ruộng. Người thì đi về phương này, người thì đi về phương kia. Đây gọi là dòng Phệ-xá. Này Bà-tư-tra, đó là nhân duyên đầu tiên có dòng dõi Phệ-xá trong đời, là người có trí bậc nhất và kỳ cựu, như pháp chứ chẳng phải không như pháp. Đúng như pháp là pháp tôn quý giữa loài người.
Này Bà-tư-tra, khi thế gian xuất hiện đủ ba chủng tánh này rồi thì liền biết có dòng dõi thứ tư là Sa-môn. Vì sao trong thế gian có ba chủng tánh này rồi liền biết có dòng dõi thứ tư là Sa-môn? Vì trong dòng tộc Sát-lợi có những người thiện nam hay tự quở trách mình, chán ghét pháp xấu ác, bất thiện. Do chán ghét pháp xấu ác, bất thiện nên vị ấy cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo và suy nghĩ: “Ta nên làm Sa-môn, tu theo Phạm hạnh.” Vị ấy liền trở thành Sa-môn và tu theo Phạm hạnh. Trong dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá cũng vậy, cũng có những người thiện nam tự quở trách mình, chán ghét pháp bất thiện. Do chán ghét pháp xấu ác, bất thiện nên các vị ấy cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo và cũng nghĩ: “Ta nên làm Sa-môn, tu theo Phạm hạnh”, rồi liền trở thành Sa-môn và tu theo Phạm hạnh.
Như vậy, này Bà-tư-tra, trong thế gian xuất hiện đủ ba chủng tánh như thế rồi, liền biết có dòng dõi thứ tư là Sa-môn.
[0676c01] Này Bà-tư-tra, nay Ta giảng nói rõ về ba chủng tánh này. Giảng nói rõ về ba chủng tánh này thế nào? Nếu một người thiện nam thuộc chủng tộc Sát-lợi mà thân làm điều bất thiện, miệng nói lời bất thiện và ý nghĩ pháp bất thiện thì sau khi qua đời, người đó nhất định phải thọ khổ. Người thiện nam dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá thì cũng như vậy, nếu thân làm điều bất thiện, miệng nói lời bất thiện và ý nghĩ pháp bất thiện thì sau khi qua đời cũng nhất định phải thọ khổ.
Này Bà-tư-tra, người thiện nam thuộc dòng tộc Sát-lợi mà thân làm điều thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ pháp thiện thì sau khi qua đời, người đó nhất định sẽ thọ lạc. Người thiện nam dòng tộc Phạm chí và dòng tộc Phệ-xá thì cũng như vậy, nếu thân làm điều thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ pháp thiện thì sau khi qua đời cũng nhất định sẽ thọ lạc.
Này Bà-tư-tra, người thiện nam thuộc dòng tộc Sát-lợi, thân làm cả việc lành lẫn việc ác17 và bảo vệ cho hành động đó, miệng nói cả lời thiện lành lẫn lời ác và ý nghĩ cả điều lành lẫn điều ác và bảo vệ cho hành động đó thì sau khi qua đời sẽ thọ khổ và lạc. Này Bà-tư-tra, người thiện nam thuộc dòng tộc Phạm chí hay Phệ-xá cũng như vậy, thân làm cả việc lành lẫn việc ác và bảo vệ cho hành động đó, miệng nói cả lời thiện lành lẫn lời ác và ý nghĩ cả điều lành lẫn điều ác và bảo vệ cho hành động đó thì sau khi qua đời cũng sẽ thọ khổ và lạc.
Này Bà-tư-tra, người thiện nam dòng tộc Sát-lợi tu pháp bảy giác chi, khéo tư duy và quán sát, biết như vậy, thấy như vậy, tâm thoát khỏi tất cả dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu; giải thoát rồi liền biết đã giải thoát và biết như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Người thiện nam dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá cũng như vậy, khi tu pháp bảy giác chi, khéo tư duy và quán sát, biết như vậy, thấy như vậy nên tâm thoát khỏi tất cả dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, giải thoát rồi liền biết đã giải thoát và biết như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Như vậy, này Bà-tư-tra, Ta đã giảng nói tường tận về ba chủng tánh này. Vua của cõi trời Phạm thiên có nói bài kệ về việc này:
Với ai tin chủng tánh,
Hai chân, Sát-lợi hơn,
Ai cầu Minh và Hạnh,
Được cả trời, người tôn.
Này Bà-tư-tra, vua của cõi trời Phạm thiên khéo nói bài kệ này chứ không phải không khéo, khéo ca ngợi và phúng tụng chứ không phải không khéo, khéo ngâm vịnh và diễn đạt chứ không phải không khéo, vì đã nói như vầy:
Với ai tin chủng tánh,
Hai chân, Sát-lợi hơn,
Ai cầu Minh và Hạnh,
Được cả trời, người tôn.
Vì sao như vậy? Vì Ta cũng nói như thế:
Với ai tin chủng tánh,
Hai chân, Sát-lợi hơn,
Ai cầu Minh và Hạnh,
Được cả trời, người tôn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tôn giả Bà-tư-tra, Bà-la-bà và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
1 Quyển 39. Nguyên tác: Bà-la-bà đường kinh 婆羅婆堂經 (T.01. 0026.154. 0673b04). Tham chiếu: Tiểu duyên kinh 小緣經 (T.01. 0001.5. 0036b28); D. 27, Aggañña Sutta (Kinh khởi thế nhân bổn).
2 Bà-tư-tra (婆私吒, Vāseṭṭha).
3 Bà-la-bà (婆羅婆, Bhāradvāja).
4 Nguyên tác: Nhân tọa nhân thủy (因坐因水): Nhân chỗ ngồi, nhân nước uống. Theo D. 3, chỗ ngồi (āsanaṃ) và nước uống (udakaṃ) là 2 trong những dấu hiệu thể hiện sự tôn trọng một vị Bà-la-môn.
5 Nguyên tác: Cư sĩ ( 居士), chỉ cho dòng Tỳ-xá (毘舍, Vessā).
6 Tham chiếu: D. 27: Tathāgatassa hetaṃ, vāseṭṭha, adhivacanaṃ ‘dhammakāyo’ itipi, ‘brahmakāyo’ itipi, ‘dhammabhūto’ itipi, ‘brahmabhūto’ itipi. (Này Vāseṭṭha, vì là những chữ đồng nghĩa với Như Lai là Pháp thân, là Phạm thân, là Pháp thể, là Phạm thể), HT. Thích Minh Châu dịch.
7 Hoảng Dục thiên (晃昱天, Ābhassara).
8 Nguyên tác: Bổn tự (本字). Sa-môn Nhất Hạnh 沙門一行 (683-727) trong tác phẩm Đại Tỳ-lô-giá-na thành Phật kinh sớ 大毘盧遮那成佛經疏 (T.39. 1796.17. 0754c2) đã giải thích: Tiếng Phạn có hai âm. Thứ nhất gọi là A-sát-la (阿剎羅, Aksharas), tức là chữ căn bản. Thứ 2 là Lý-tỳ-bỉ, là chữ bổ nghĩa. Căn bản tức là bổn tự. (梵有二音. 一名阿剎羅也是根本字也. 二者哩比鞞. 是增加字也. 根本者即是本字).
9 Nguyên tác: Địa phì (地肥). D. 27: Bhūmipappaṭaka (một loại nấm đất).
10 Bà-la (婆羅) phiên âm từ chữ badālatā, chỉ cho một loại dây leo. Theo Chúng hứa Ma-ha-đế kinh 眾許摩訶帝經 (T.03. 0191.1. 0933b17) gọi là “lâm đằng” (林藤), một loại thực vật có hình sắc rất đẹp và mùi vị ngọt ngào, tuyệt hảo như thức ăn của cõi trời (林藤,色相殊妙其味甘善,亦如天食).
11 Nguyên tác: Tự nhiên canh mễ (自然粳米). D. 27: Akaṭṭhapāko sāli (một loại gạo ngon tự nhiên, không cần phải nấu).
12 Điền chủ (田主, khettasāmika).
13 Nguyên tác: Thâu (輸) có nghĩa là quyên góp, hiến tặng (謂捐獻), nghĩa ở đây là nộp một phần.
14 Sát-lợi (剎利, Khattiya).
15 Nguyên tác: Thủ hộ hành giới (守護行戒).
16 Nguyên tác: Vương (王, Rāja).
17 Nguyên tác: Nhị hạnh (二行). D. 27: Dvayakārī (2 loại hành động chỉ cho 2 việc thiện và ác).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.