Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa giữa dân chúng Câu-lâu.
Bấy giờ, đức Thế Tôn ngồi trên nệm cỏ trong tịnh thất bậc nhất2 của Bà-la-bà.3 Khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y, ôm bát vào Kiếm-ma-sắt-đàm4 tuần tự khất thực. Sau khi thọ thực xong, Ngài thu dọn y bát, rửa tay chân, vắt tọa cụ lên vai rồi đi đến chỗ nghỉ ban ngày trong một khu rừng. Khi đã vào rừng, đức Thế Tôn đến bên gốc cây rồi trải tọa cụ và ngồi kiết-già.
[0670b05] Lúc ấy, cũng sau buổi trưa, ngoại đạo Man-nhàn-đề thong thả tản bộ đến tịnh thất bậc nhất của Bà-la-bà. Từ xa, ngoại đạo Man-nhàn-đề thấy trên nệm cỏ của tịnh thất ấy có dấu nằm nghiêng một bên hông, giống như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn hay của bậc Phạm hạnh. Trông thấy vậy, ngoại đạo Man-nhàn-đề hỏi Bà-la-bà:
– Này Bà-la-bà, ai đã nằm trên nệm cỏ trong tịnh thất bậc nhất này mà để lại dấu vết nghiêng một bên hông giống như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn hay của bậc Phạm hạnh nào thế?
Phạm chí Bà-la-bà đáp:
– Này Man-nhàn-đề, có Sa-môn Cù-đàm con dòng họ Thích, lìa xa Thích tộc, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng giác. Ở trên nệm cỏ trong tịnh thất đó, có dấu nằm nghiêng một bên hông giống như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn hay của bậc Phạm hạnh, chính là của Sa-môn Cù-đàm.
Ngoại đạo Man-nhàn-đề nói:
– Này Bà-la-bà, nay ta phải thấy cảnh không đáng thấy, phải nghe theo điều không đáng nghe, đó là phải thấy chỗ nằm của Sa-môn Cù-đàm. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm ấy là kẻ phá hoại.5 Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng.
Bà-la-bà nói:
– Này Man-nhàn-đề, ông không nên dùng những lời như vậy mà phỉ báng Sa-môn Cù-đàm. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm là bậc có trí tuệ hơn hẳn trí tuệ của những vị Sát-lợi, Phạm chí, cư sĩ hay trí tuệ của Sa-môn. Người nào giảng thuyết về trí tuệ thảy đều đã chứng đắc Thánh trí. Này Man-nhàn-đề, tôi muốn thuật lại điều này với Sa-môn Cù-đàm có được chăng?
Man-nhàn-đề đáp:
– Này Bà-la-bà, nếu ông muốn nói thì hãy tùy ý, tôi không ngăn cấm. Này Bà-la-bà, nếu gặp Sa-môn Cù-đàm thì tôi cũng nói như thế. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm là kẻ phá hoại. Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng.
Bấy giờ, đức Thế Tôn ở chỗ nghỉ ban ngày, bằng thiên nhĩ thanh tịnh hơn hẳn người thường nên Ngài đã nghe Phạm chí Bà-la-bà cùng ngoại đạo Man-nhàn-đề đang bàn luận về điều ấy. Nghe như vậy rồi, vào lúc xế chiều, đức Thế Tôn rời nơi tĩnh tọa, đi đến tịnh thất bậc nhất của Bà-la-bà, trải tọa cụ lên nệm cỏ rồi ngồi kiết-già. Phạm chí Bà-la-bà từ xa trông thấy Thế Tôn ngồi trên nệm cỏ,6 đoan chánh rạng ngời như vầng trăng giữa các vì sao, tỏa sáng rực rỡ tựa như núi vàng, tướng tốt vẹn toàn, uy nghiêm sừng sững, các căn vắng lặng, không bị ngăn che, thành tựu điều phục, tâm tư tĩnh lặng. Sau khi trông thấy, Phạm chí ấy đi đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi nhau xong, ngồi sang một bên.
[0670c05] Đức Thế Tôn hỏi:
– Này Bà-la-bà, phải chăng ông đã cùng với Man-nhàn-đề bàn luận về chỗ nệm cỏ này?
Phạm chí Bà-la-bà đáp:
– Đúng như vậy, thưa Cù-đàm! Con cũng định thưa sự việc này với Ngài, nhưng chưa kịp nói mà Cù-đàm đã biết. Vì sao như vậy? Vì Ngài là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
Đức Thế Tôn và Phạm chí Bà-la-bà cùng bàn luận về vấn đề này. Sau đó, ngoại đạo Man-nhàn-đề tản bộ đến tịnh thất bậc nhất ấy. Từ xa, đức Thế Tôn trông thấy ngoại đạo Man-nhàn-đề đi đến, sau khi ông ấy đến nơi, Ngài bảo:
– Này Man-nhàn-đề, nếu không chế ngự nhãn căn, không giữ gìn miên mật và không tu tập thì chắc chắn thọ quả báo khổ. Đối với nhãn căn, Sa-môn Cù-đàm khéo tự điều phục, khéo giữ gìn miên mật và khéo tu tập, cho nên chắc chắn được phước quả an vui. Này Man-nhàn-đề, có phải vì thế mà ông bảo rằng: “Sa-môn Cù-đàm là kẻ phá hoại, kẻ phá hoại là kẻ vô dụng” chăng?
Man-nhàn-đề trả lời:
– Đúng như vậy, Cù-đàm!
– Này Man-nhàn-đề, đối với các căn như tai, mũi, lưỡi, thân thì cũng như vậy; cho đến đối với ý căn cũng vậy, nếu không chế ngự, không giữ gìn miên mật và không tu tập thì chắc chắn phải thọ quả báo khổ. Đối với các căn ấy, Sa-môn Cù-đàm khéo chế ngự, khéo giữ gìn miên mật và khéo tu tập, cho nên chắc chắn được phước quả an vui. Này Man-nhàn-đề, có phải vì thế mà ông bảo rằng: “Sa-môn Cù-đàm là kẻ phá hoại, kẻ phá hoại là kẻ vô dụng” chăng?
Man-nhàn-đề đáp:
– Đúng như vậy, Cù-đàm!
Đức Thế Tôn hỏi:
– Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người khi chưa xuất gia học đạo, với con mắt, vị ấy biết sắc đáng yêu, đáng nhớ, vừa ý, vui thích, tương ưng với tham dục. Một thời gian sau, vị ấy xả bỏ sắc được biết bởi mắt, rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Vị ấy thấy, biết đúng như thật về sự tập khởi của sắc được biết bởi mắt, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa và sự giải thoát khỏi sắc ấy, được an trú với nội tâm tịch tĩnh. Vị ấy thấy những người chưa xa lìa sắc dục, bị sự tham muốn sắc nhai nuốt, bị hơi nóng của sắc thiêu đốt. Đối với sắc được biết bởi mắt đáng yêu, đáng nhớ, vừa ý, vui thích, tương ưng với tham dục, sau khi thực hành và thấy như vậy, vị ấy không khen ngợi sắc, không ưa thích sắc ấy. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có sự vui thích này, do ái, do sắc, khi vui với niềm vui này, vì chúng thấp hèn cho nên không khen ngợi, vì chúng thấp hèn cho nên không ưa thích. Này Man-nhàn-đề, đối với người này, ông có luận bàn gì chăng?
[0671a02] – Không có, thưa Cù-đàm!
– Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người khi chưa xuất gia cũng vậy, đối với tiếng được biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân, đều đáng yêu, đáng nhớ, vừa ý, vui thích, tương ưng với tham dục. Một thời gian sau, vị ấy xả bỏ xúc được biết bởi thân rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Vị ấy thấy biết như thật về sự tập khởi của xúc, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa và sự giải thoát khỏi xúc, được an trú nơi nội tâm tịch tĩnh. Vị ấy thấy những người chưa lìa bỏ xúc dục, bị sự tham muốn xúc nhai nuốt, bị hơi nóng của xúc thiêu đốt. Đối với xúc được biết bởi thân đáng yêu, đáng nhớ, vừa ý, vui thích, tương ưng với dục, sau khi thực hành và thấy như vậy, vị ấy không khen ngợi, không ưa thích. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có sự vui thích này, do ái, do sắc, khi vui với niềm vui này, vì chúng thấp hèn cho nên không khen ngợi, vì chúng thấp hèn cho nên không ưa thích. Này Man-nhàn-đề, đối với người này, ông có luận bàn gì chăng?
– Không có, thưa Cù-đàm!
Đức Thế Tôn bảo:
– Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người khi chưa xuất gia học đạo, đối với năm loại dục đáng yêu, đáng nhớ, vừa ý, vui thích, tương ưng với tham dục. Một thời gian sau, người ấy buông bỏ năm loại dục, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, thấy như thật về sự tập khởi của năm dục, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa và sự giải thoát khỏi năm dục, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Vị ấy thấy những người chưa lìa dục, bị sự ham muốn dục nhai nuốt, bị lửa dục thiêu đốt. Đối với năm loại dục đáng yêu, đáng nhớ, vừa ý, vui thích, tương ưng với dục, sau khi thực hành và thấy như vậy, vị ấy không khen ngợi, không ưa thích năm dục. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có sự vui thích này, do ái, do sắc, khi vui với niềm vui này, vì chúng thấp hèn cho nên không khen ngợi, vì chúng thấp hèn cho nên không ưa thích. Này Man-nhàn-đề, đối với người này, ông có luận bàn gì chăng?
– Không có, thưa Cù-đàm!
– Này Man-nhàn-đề, lúc Ta chưa xuất gia học đạo, hưởng thụ năm dục dễ dàng, không khó, đáng yêu, đáng nhớ, vừa ý, vui thích, tương ưng với dục. Sau đó, Ta không còn đắm trước năm dục, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Ta thấy như thật về sự tập khởi của năm dục, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa và giải thoát khỏi năm dục, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Ta thấy những người chưa lìa dục, bị sự ham muốn dục nhai nuốt, bị lửa dục thiêu đốt. Đối với năm dục đáng yêu, đáng nhớ, vừa ý, vui thích, tương ưng với dục, sau khi thực hành và thấy như vậy, Ta không khen ngợi, không ưa thích năm dục. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có sự vui thích này, do ái, do sắc, khi vui với niềm vui này, Ta thấy chúng thấp hèn cho nên không khen ngợi, vì chúng thấp hèn cho nên Ta không ưa thích. Này Man-nhàn-đề, đối với Ta, ông có luận bàn gì chăng?
[0671b04] – Không có, thưa Cù-đàm!
Đức Thế Tôn bảo:
– Này Man-nhàn-đề, giống như cư sĩ hay con của cư sĩ rất giàu có, của cải vô lượng, vật nuôi vô số, phong hộ thực ấp và tất cả vật dụng sinh sống thảy đều sung túc. Người ấy dễ dàng hưởng thụ năm dục chứ không khó, lại thành tựu các diệu hạnh của thân, diệu hạnh của miệng và diệu hạnh của ý. Lúc sắp qua đời, vị ấy không muốn buông xả năm dục vui thích; sau khi qua đời thì đi đến cõi lành, sanh lên cõi trời, hưởng đầy đủ năm dục. Này Man-nhàn-đề, chư thiên hoặc thiên tử ấy lẽ nào có thể buông bỏ năm dục ở cõi trời mà ưa thích dục lạc ở nhân gian và vui vẻ khi nghĩ về chúng chăng?
Man-nhàn-đề đáp:
– Không thể, thưa Cù-đàm! Vì sao như vậy? Vì dục lạc ở nhân gian vốn ô uế, bất tịnh, rất đáng ghê tởm, không đáng nghĩ tưởng, gây ra oán ghét và tranh đoạt, khổ đau cùng cực. Thưa Cù-đàm, so với dục lạc ở thế gian thì dục lạc cõi trời là tối thượng, tối diệu, tối thắng. Nếu chư thiên hay thiên tử đã buông bỏ năm dục ở cõi trời mà ưa thích dục lạc ở thế gian và vui vẻ khi nghĩ về chúng thì điều đó không thể xảy ra.
– Cũng vậy, này Man-nhàn-đề, Ta đoạn tuyệt dục lạc nhân gian, vượt khỏi dục lạc cõi trời, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, thấy như thật về sự tập khởi của năm dục kia, cùng sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa và giải thoát khỏi chúng, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Ta thấy những người chưa lìa dục, bị sự ham muốn dục nhai nuốt, bị lửa dục thiêu đốt. Đối với năm dục đáng yêu, đáng nhớ, vừa ý, vui thích, tương ưng với dục, sau khi thực hành và thấy như vậy, Ta không khen ngợi, không ưa thích năm dục. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có sự vui thích này, do ái, do sắc, khi vui với niềm vui này, Ta thấy chúng thấp hèn cho nên không khen ngợi, vì chúng thấp hèn cho nên Ta không ưa thích. Này Man-nhàn-đề, đối với Ta, ông có luận bàn gì chăng?
– Không có, thưa Cù-đàm!
– Này Man-nhàn-đề, giống như người bị bệnh hủi, thân thể lở loét, bị trùng đục khoét. Người ấy gãi, cào rách các mụt ghẻ, hơ lên bếp lửa. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu người bị bệnh hủi, thân thể lở loét, bị trùng đục khoét lại gãi, cào rách các mụt ghẻ rồi hơ lên bếp lửa, như vậy liệu việc trị bệnh có kết quả, không làm tổn thương các căn, được thoát khỏi bệnh hủi, thân thể khỏe mạnh và hoàn toàn bình phục như cũ được chăng?
[0671c01] Man-nhàn-đề đáp:
– Không thể, thưa Cù-đàm! Vì sao như vậy? Vì người mắc bệnh hủi, thân thể lở loét, bị trùng đục khoét lại gãi, cào rách các mụt ghẻ rồi hơ trên bếp lửa, như vậy chỉ làm cho các mụt ghẻ lở loét hơn trước mà thôi, nhưng người bệnh thì lấy việc cào gãi mụt ghẻ làm vui thích.
– Này Man-nhàn-đề, như người mắc bệnh hủi, thân thể lở loét, bị trùng đục khoét lại gãi, cào rách các mụt ghẻ rồi hơ trên bếp lửa, như vậy chỉ làm cho các mụt ghẻ lở loét hơn trước mà thôi, nhưng người bệnh thì lấy việc cào gãi mụt ghẻ làm vui thích. Này Man-nhàn-đề, chúng sanh chưa lìa dục cũng vậy, bị sự ham muốn dục nhai nuốt, bị lửa dục đốt cháy mà cứ chạy theo dục.
Này Man-nhàn-đề, chúng sanh ấy vì chưa lìa dục nên bị sự ham muốn dục nhai nuốt, bị lửa dục đốt cháy mà còn chạy theo dục thì chỉ làm cho dục tăng trưởng, làm cho ái lớn mạnh thêm mà thôi, nhưng chúng sanh ấy thì lại lấy ái dục làm sự vui thích. Nếu chúng sanh đó không đoạn dục, không lìa dục ái mà cho rằng đã an trụ, sẽ an trụ hay đang an trụ với nội tâm tịch tĩnh thì điều đó không thể xảy ra. Vì sao như vậy? Vì đó không phải là đạo lý để đoạn dục, để lìa dục ái mà là cách sống chạy theo dục.
Này Man-nhàn-đề, cũng như vua và đại thần hưởng thụ năm dục dễ dàng chứ không khó khăn. Nếu các vị ấy không đoạn dục, không lìa dục ái mà nói đã an trụ, sẽ an trụ hay đang an trụ với nội tâm tịch tĩnh thì điều đó không thể xảy ra. Vì sao như vậy? Vì đó không phải là đạo lý để đoạn dục, để lìa dục ái mà là cách sống chạy theo dục. Cũng vậy, này Man-nhàn-đề, chúng sanh chưa lìa dục bị sự ham muốn dục nhai nuốt, bị lửa dục thiêu đốt mà còn chạy theo dục, thì này Man-nhàn-đề, chúng sanh ấy chỉ làm cho dục tăng trưởng, làm cho dục ái lớn mạnh thêm mà thôi; nhưng chúng sanh ấy thì lại lấy dục ái làm sự vui thích. Nếu chúng sanh không đoạn dục, không lìa dục ái mà nói đã an trụ, đang an trụ và sẽ an trụ với nội tâm tịch tĩnh thì điều đó không thể xảy ra. Vì sao như vậy? Vì đó không phải là đạo lý để đoạn dục, để lìa dục ái mà là cách sống chạy theo dục.
Này Man-nhàn-đề, giống như người mắc bệnh hủi, thân thể lở loét, bị trùng đục khoét, lại cào gãi khiến các mụt ghẻ bị rách, rồi còn hơ lên bếp lửa. Có người với tâm xót thương kẻ đó nên tìm cách đem lại lợi ích cho họ, mong họ được yên ổn an vui nên đưa cho họ một loại thuốc hay. Khi được cho loại thuốc hay đó, trị bệnh có hiệu quả, không làm hư hoại các căn, hết bệnh cùi hủi, thân thể tráng kiện, người kia bình phục như cũ. Sau khi lành bệnh, nếu thấy ai mắc bệnh, thân thể lở loét, bị trùng đục khoét, lại cào gãi rách các mụt nhọt, rồi cũng hơ lên bếp lửa như thế, thì này Man-nhàn-đề, người ấy có hoan hỷ ngợi khen chăng?
[0672a03] Man-nhàn-đề đáp:
– Không phải vậy, thưa Cù-đàm! Vì sao như thế? Vì có bệnh mới phải dùng thuốc, nếu không bệnh thì không cần dùng.
– Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Như người mắc bệnh hủi kia chữa bệnh có kết quả, không hư hoại các căn, thoát khỏi bệnh hủi, thân thể khỏe mạnh, bình phục hoàn toàn như cũ, nếu có hai người lực sĩ bắt người ấy hơ trên bếp lửa, người ấy sẽ hoảng hốt né tránh vì nóng. Này Man-nhàn-đề, ý ông nghĩ sao, bếp lửa bây giờ nóng hơn, khiến người ấy khổ sở, nguy hiểm hơn trước nhiều lắm chăng?
– Không phải vậy, thưa Cù-đàm! Trước kia, còn mắc bệnh hủi, thân thể lở loét, bị trùng đục khoét, lại cào gãi khiến rách mụt ghẻ và hơ lên bếp lửa. Đối với cái khổ nóng bức của lửa, người bệnh lại cảm thấy vui thích, ấy là do tâm mê loạn nên có tưởng điên đảo. Thưa Cù-đàm, trái lại bây giờ bệnh đã trị lành, không hư hoại các căn, thoát khỏi bệnh hủi, thân thể khỏe mạnh, bình phục hoàn toàn như cũ thì người ấy cảm thấy khổ sở đối với cái khổ nóng bức của lửa, đó là do tâm bình thường, không có tưởng điên đảo.
– Này Man-nhàn-đề, người mắc bệnh hủi, thân thể lở loét, bị trùng đục khoét, lại cào gãi làm rách mụt ghẻ, rồi hơ trên bếp lửa; đối với sự khổ nóng bức do lửa, người bệnh lại cảm thấy vui thích, là do tâm người ấy mê loạn nên có tưởng điên đảo. Này Man-nhàn-đề, chúng sanh không lìa dục thì cũng như thế, họ bị sự ham muốn dục nhai nuốt, bị lửa dục đốt cháy mà chạy theo dục. Những kẻ ấy đối với sự khổ do dục lại có tưởng dục là vui, là do tâm người ấy mê loạn nên có ý tưởng điên đảo.
Này Man-nhàn-đề, như người bệnh đã trị lành, không hư hoại các căn, đã khỏi bệnh cùi hủi, thân thể khỏe mạnh, bình phục hoàn toàn như cũ thì cảm thấy khổ sở đối với sự khổ nóng bức do lửa, nhờ tâm đã được bình thường, không còn ý tưởng điên đảo. Cũng vậy, này Man-nhàn-đề, Ta đối với sự khổ do dục thì có tưởng đúng như thật về sự khổ do dục, không có tưởng điên đảo. Vì sao như vậy? Này Man-nhàn-đề, vì dục quá khứ là bất tịnh, ô uế, rất đáng ghê tởm, không đáng nghĩ tưởng, gây ra sự oán ghét tranh giành và cảm thọ khổ; dục tương lai và hiện tại cũng bất tịnh, ô uế, rất đáng ghê tởm, không đáng nghĩ tưởng, gây ra sự oán ghét tranh giành và cảm thọ khổ. Thế nên, này Man-nhàn-đề, đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác nói rằng: “Không bệnh lợi bậc nhất, Niết-bàn vui tối thượng.”7
Ngoại đạo Man-nhàn-đề thưa:
– Thưa Cù-đàm, tôi cũng đã từng nghe các bậc Tôn đức, Trưởng lão kỳ cựu, thuần thục Phạm hạnh nói rằng: “Không bệnh lợi bậc nhất, Niết-bàn vui tối thượng.”
[0672b02] Đức Thế Tôn hỏi:
– Nếu ông đã từng nghe các bậc Tôn đức, Trưởng lão kỳ cựu, thuần thục Phạm hạnh nói rằng: “Không bệnh lợi bậc nhất, Niết-bàn vui tối thượng” thì này Man-nhàn-đề, thế nào là không bệnh? Thế nào là Niết-bàn?
Bấy giờ, ngoại đạo Man-nhàn-đề tuy cho rằng, thân tức là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là rắn độc, là vô thường, là khổ, là không, là chẳng phải tự ngã, nhưng lại xoa hai tay mà nói rằng:
– Thưa Cù-đàm, đây là không bệnh, đây là Niết-bàn.
Đức Thế Tôn bảo:
– Này Man-nhàn-đề, cũng như người mù bẩm sinh nghe người có mắt nói: “Trắng tinh, không nhơ uế! Trắng tinh, không nhơ uế!” Nghe như vậy, người mù liền đi tìm vật trắng ngần. Có người lừa dối, vì không muốn giúp đỡ người mù kia, vì không muốn để người mù được ý nghĩa và lợi ích, được an ổn và hân hoan nên đem chiếc áo dơ bẩn, không sạch sẽ đưa cho người mù rồi nói: “Ông nên biết, đây là chiếc áo trắng tinh, không nhơ uế. Ông hãy cung kính đưa hai tay nhận lấy mà khoác lên thân.” Người mù ấy liền hoan hỷ đưa hai tay cung kính thọ nhận, khoác lên thân và bảo: “Trắng tinh, không nhơ uế! Trắng tinh, không nhơ uế!” Này Man-nhàn-đề, người mù ấy tự mình biết mà nói như thế, hay không tự biết mà nói như thế? Tự mình thấy mà nói như thế, hay không tự thấy mà nói như thế?
Man-nhàn-đề ngoại đạo đáp:
– Thưa Cù-đàm, người ấy nói như vậy nhưng quả thật không biết, không thấy gì cả.
Đức Thế Tôn nói:
– Cũng vậy, này Man-nhàn-đề, ông như người mù không có mắt. Thân chính là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là rắn độc, là vô thường, là khổ, là không, là không phải tự ngã, thế mà ông lại xoa hai tay rồi nói: “Thưa Cù-đàm, đây là không bệnh, đây là Niết-bàn.” Này Man-nhàn-đề, thế nào là không bệnh mà ông còn không biết, huống gì thấy biết Niết-bàn? Nếu nói ông thấy biết Niết-bàn thì điều này không thể xảy ra. Này Man-nhàn-đề, đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác nói rằng:
Không bệnh, lợi bậc nhất,
Niết-bàn, vui tối thượng,
Trong những con đường tu,
Bát chánh, đường bất tử.8
Bấy giờ, nhiều người trong chúng đều được nghe bài kệ này. Trong chúng có số đông ngoại đạo sau khi nghe bài kệ này xong, họ liền truyền cho nhau nghe nhưng do không hiểu rõ nghĩa lý nên muốn tìm hiểu giáo nghĩa. Thế nhưng, do tất cả đều ngu si nên trở lại tự lừa dối lẫn nhau. Thân bốn đại hiện tại của họ là do cha mẹ sanh ra, được nuôi lớn nhờ ăn uống, thường được mặc y phục, xoa bóp, tắm rửa và chiều chuộng này là pháp hủy hoại, là pháp tan rã nhưng họ lại thấy là ngã, chấp thủ là ngã, duyên nơi chấp thủ nên có hữu, duyên nơi hữu nên có sanh, duyên nơi sanh nên có già chết, duyên nơi già chết nên có buồn rầu, khóc than, lo lắng, khổ sở, sầu não. Như thế, toàn bộ khối khổ lớn này sanh khởi.
[0672c02] Khi ấy, ngoại đạo Man-nhàn-đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai, chắp tay hướng về đức Phật và bạch:
– Thưa đức Cù-đàm, nay con hoàn toàn tin tưởng Sa-môn Cù-đàm. Mong Ngài thuyết pháp cho con nghe, để con được biết: “Đây là không bệnh, đây là Niết-bàn.”
Đức Thế Tôn bảo:
– Này Man-nhàn-đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông chưa được thanh tịnh thì dù Ta có thuyết giảng cho nghe về không bệnh, về Niết-bàn thì ông cũng không thể nào hiểu được, chỉ nhọc công cho Ta mà thôi. Này Man-nhàn-đề, ví như người mù bẩm sinh, nghe người khác đến bảo: “Ông nên biết, đây là màu xanh, đây là màu vàng, đây là màu đỏ, đây là màu trắng” thì này Man-nhàn-đề, người mù ấy chỉ nghe người khác nói, vậy có biết các màu xanh, vàng, đỏ hay trắng chăng?
Man-nhàn-đề đáp:
– Không thể biết, thưa Cù-đàm!
– Cũng vậy, này Man-nhàn-đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông chưa được thanh tịnh thì dù Ta có thuyết giảng cho ông nghe về không bệnh, về Niết-bàn thì ông cũng không thể nào hiểu được, chỉ nhọc công Ta mà thôi. Này Man-nhàn-đề, Ta sẽ vì ông mà chỉ bày một loại thuốc hay giống như thế để cho Thánh tuệ nhãn chưa được thanh tịnh của ông liền được thanh tịnh. Này Man-nhàn-đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông được thanh tịnh, ông sẽ tự biết: “Đây là không bệnh, đây là Niết-bàn.”
Này Man-nhàn-đề, giống như người mù bẩm sinh có người thân thương yêu vì muốn cho anh ta được ý nghĩa và lợi ích, vì muốn cho anh ta được an ổn và hân hoan nên đã tìm cầu thầy chữa mắt. Thầy chữa mắt trị liệu bằng nhiều cách, hoặc khiến nôn ra ở trên, hoặc khiến bài tiết ở dưới, hoặc nhỏ thuốc vào mũi, hoặc rửa ở dưới, hoặc chích ở mạch, hoặc khiến chảy nước mắt ra. Này Man-nhàn-đề, giả sử trúng thuốc thì hai mắt được sáng. Này Man-nhàn-đề, nếu hai mắt người ấy được sáng thì tự mình thấy được đây là màu xanh, đây là màu vàng, đây là màu đỏ hay đây là màu trắng. Người ấy thấy cái áo dơ bẩn, không sạch sẽ kia liền khởi niệm: “Người kia là oan gia của ta, từ lâu đã đem cái áo dơ bẩn, không sạch sẽ này để dối gạt ta” rồi liền khởi tâm oán ghét. Này Man-nhàn-đề, người ấy có thể sẽ sát hại kẻ kia. Cũng vậy, này Man-nhàn-đề, Ta sẽ vì ông mà chỉ bày một loại thuốc hay giống như thế để cho Thánh tuệ nhãn chưa được thanh tịnh của ông liền được thanh tịnh. Này Man-nhàn-đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông được thanh tịnh, ông sẽ tự biết: “Đây là không bệnh, đây là Niết-bàn.”
Này Man-nhàn-đề, có bốn pháp khiến người Thánh tuệ nhãn chưa thanh tịnh liền được thanh tịnh. Là bốn pháp nào? Một là cung kính thừa sự và thân cận thiện tri thức. Hai là nghe thiện pháp. Ba là khéo tư duy. Bốn là hướng về pháp và tuần tự thực hành.9 Này Man-nhàn-đề, ông nên học tập như vầy: Cung kính thừa sự và thân cận thiện tri thức, nghe thiện pháp, khéo tư duy, hướng về pháp và tuần tự thực hành. Này Man-nhàn-đề, ông nên học tập như vậy.
Này Man-nhàn-đề, ông đã cung kính thừa sự và thân cận thiện tri thức rồi thì được nghe thiện pháp, đã nghe thiện pháp thì hãy khéo tư duy, đã khéo tư duy rồi thì hãy hướng về pháp và tuần tự thực hành, đã hướng về pháp và tuần tự thực hành thì biết như thật rằng: Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt và đây là con đường đưa đến khổ diệt.
[0673a06] Thế nào là biết như thật về khổ? Đó là, biết sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ, yêu thương chia lìa là khổ, mong cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn10 là khổ. Đó gọi là biết như thật về khổ.
Thế nào là biết như thật về nguyên nhân của khổ? Đó là biết rằng khát ái này sẽ dẫn đến sự hiện hữu ở tương lai, đi cùng với hỷ và tham rồi đắm trước chỗ này chỗ kia. Đó gọi là biết như thật về nguyên nhân của khổ.
Thế nào là biết như thật về khổ diệt? Đó là biết rằng khát ái này sẽ dẫn đến sự hiện hữu ở tương lai, đi cùng với hỷ và tham rồi đắm trước chỗ này chỗ kia đều được đoạn trừ hoàn toàn, đã xả ly, đã nhổ bỏ, đã trừ sạch, vô dục, tịch diệt, vắng lặng, ngưng nghỉ. Đó gọi là biết như thật về khổ diệt.
Thế nào là biết như thật về con đường diệt khổ? Đó là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó gọi là biết như thật về con đường đưa đến khổ diệt.
Sau khi nghe nói pháp này, ngoại đạo Man-nhàn-đề xa lìa trần cấu, đạt được cái thấy như thật đối với các pháp. Bấy giờ, ngoại đạo Man-nhàn-đề thấy pháp, đắc pháp, ngộ pháp thanh tịnh, đoạn trừ nghi hoặc, thoát khỏi mê lầm, không thờ ai khác, không nương ai khác, không còn do dự, đã trụ quả chứng, nơi pháp Thế Tôn, được Vô sở úy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật rồi bạch:
– Thưa đức Thế Tôn, cúi mong Ngài cho con được xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, được làm Tỳ-kheo.
Đức Thế Tôn bảo:
– Hãy đến đây, Tỳ-kheo! Hãy tu hành Phạm hạnh.
Ngoại đạo Man-nhàn-đề liền xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, được làm Tỳ-kheo. Sau khi xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, biết được pháp rồi thực hành như trên, Man-nhàn-đề liền chứng quả A-la-hán.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả Man-nhàn-đề nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.11
Chú thích:
1 Nguyên tác: Man-nhàn-đề kinh 鬚閑提經 (T.01. 0026.153. 0670a26). Tham chiếu: M. 75, Māgaṇḍiya Sutta (Kinh Māgaṇḍiya).
2 Đệ nhất tĩnh thất (第一靜室, agyāgāra): Ngôi nhà thờ lửa.
3 Bà-la-bà (婆羅婆, Bhāradvāja).
4 Kiếm-ma-sắt-đàm (釰摩瑟曇, Kammassadhamma). Xem chú thích 3, kinh số 54, tr. 309.
5 Bại hoại địa (敗壞地). Tham chiếu: M. 75: Bhūnahuno (kẻ phá hoại mầm sống).
6 Nguyên tác: Tại thọ lâm gian (在樹林間): Ở giữa rừng cây. Tuy nhiên, lúc ấy Thế Tôn đã vào ngồi trên nệm cỏ trong ngôi nhà thờ lửa.
7 Nguyên tác: Vô bệnh đệ nhất lợi, Niết-bàn đệ nhất lạc (無病第一利, 涅槃第一樂). Tham chiếu: M. 75: Ārogyaparamā lābhā, nibbānaṃ paramaṃ sukhaṃ (Không bệnh lợi tối thắng, Niết-bàn lạc tối thắng), HT. Thích Minh Châu dịch.
8 Nguyên tác: Cam lộ (甘露), chỉ cho cõi bất tử, giải thoát (amata).
9 Nguyên tác: Thân cận thiện tri thức, cung kính thừa sự; văn thiện pháp; thiện tư duy; thú hướng pháp thứ pháp (親近善知識,恭敬承事;聞善法;善思惟;趣向法次法). Tham chiếu: SĀ. 843: Thân cận thiện nam tử; thính Chánh pháp; nội chánh tư duy; pháp thứ pháp hướng (親近善男子,聽正法,內正思惟,法次法向); Tăng. 增 (T.02. 0125.25.2. 0631b12): Đệ nhất pháp giả đương thân cận thiện tri thức; đệ nhị giả đương văn pháp; đệ tam giả đương tri pháp; đệ tứ giả đương pháp pháp tương minh (第一法者當親近善知識,第二者當聞法,第三者當知法,第四者當法法相明); D. 33: Cattāri sotāpattiyaṅgāni - suppurisa-saṃsevo, saddhammasavanaṃ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti (Thiện nhân thân cận, Diệu pháp thính thọ, như lý tác ý, pháp tùy pháp hành), HT. Thích Minh Châu dịch.
10 Nguyên tác: Ngũ thạnh ấm (五盛陰). Xem chú thích 8, kinh số 13, tr. 75.
11 Bản Hán, hết quyển 38.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.