Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, lúc trời vừa sáng, có một du sĩ ngoại đạo2 tên Ti-lô3 từ thành Xá- vệ đi đến chỗ Phật, cung kính đảnh lễ rồi ngồi sang một bên. Đức Phật vì du sĩ Ti-lô mà thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ.4 Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho Ti-lô hoan hỷ rồi, đức Phật an trú tĩnh lặng.
Ti-lô đã được đức Phật thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính đảnh lễ, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lui ra.
Khi ấy, lúc trời vừa sáng, Phạm chí Sanh Văn5 ngồi trên cỗ xe màu trắng rất đẹp, cùng năm trăm đệ tử ra khỏi thành Xá-vệ, đến nơi thanh vắng để dạy đệ tử đọc tụng kinh thư. Phạm chí Sanh Văn trông thấy du sĩ Ti-lô từ xa đi đến, liền hỏi:
– Này Bà-ta!6 Mới sáng sớm ông đã đi đâu về vậy?
Ti-lô đáp:
– Thưa Phạm chí! Tôi đến bái kiến, kính lễ và cúng dường Thế Tôn rồi về đây.
Phạm chí Sanh Văn hỏi:
– Này Bà-ta! Ông có thể biết Sa-môn Cù-đàm ở nơi thanh tĩnh thành tựu trí tuệ như thế nào chăng?
Du sĩ Ti-lô đáp:
– Phạm chí! Ai có thể biết Thế Tôn ở nơi thanh tĩnh thành tựu trí tuệ như thế nào? Này Phạm chí, người có thể biết Thế Tôn ở nơi thanh tĩnh thành tựu trí tuệ thế nào thì phải ngang hàng với đức Thế Tôn. Thế nhưng, này Phạm chí, kinh thư mà tôi đã đọc có bốn dấu hiệu,7 do bốn dấu hiệu này mà tôi tin chắc Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện.
Phạm chí! Cũng như người thợ săn voi lành nghề rảo bước vào trong khu rừng vắng, ở giữa rừng cây bỗng thấy dấu chân voi rất lớn. Thấy rồi, người ấy tin chắc rằng con voi này phải rất lớn mới có dấu chân như vậy. Này Phạm chí, tôi cũng như vậy! Kinh thư mà tôi đã đọc có bốn dấu hiệu, do bốn dấu hiệu này mà tôi tin chắc rằng Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện.
[0656b09] Bốn dấu hiệu đó là gì? Này Phạm chí! Các luận sĩ Sát-lợi có trí tuệ, đa văn, tinh tế,8 có khả năng khuất phục người đời, không điều gì là không biết, đem những hiểu biết của mình sáng tác văn chương, lưu hành thế gian. Họ nghĩ như vầy: “Ta đến chỗ Sa-môn Cù-đàm chất vấn những việc như vầy, như vầy. Nếu ông ấy trả lời được thì ta lại hỏi tiếp, nếu không thể trả lời thì xem như bị ta khuất phục nên phải rời đi.” Thế rồi, họ nghe nói Thế Tôn đang trú tại một thôn ấp nào đó, liền tìm đến, nhưng khi đã gặp Thế Tôn rồi, họ còn không dám hỏi, huống là có thể khuất phục. Này Phạm chí! Nhờ đọc kinh thư nên tôi biết được dấu hiệu thứ nhất như thế. Nhân ý nghĩa này mà tôi tin chắc rằng Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện.
Cũng vậy, những luận sĩ Phạm chí, cư sĩ hay Sa-môn có trí tuệ, đa văn, tinh tế, có khả năng khuất phục người đời, không điều gì là không biết, đem những hiểu biết của mình sáng tác văn chương, lưu hành thế gian. Họ nghĩ như vầy: “Ta đến chỗ Sa-môn Cù-đàm chất vấn những việc như vầy, như vầy. Nếu ông ấy trả lời được thì ta lại hỏi tiếp, nếu không thể trả lời thì xem như bị ta khuất phục nên phải rời đi.” Thế rồi, họ nghe nói Thế Tôn đang trú tại một thôn ấp nào đó, liền tìm đến, nhưng khi đã gặp Thế Tôn rồi, họ còn không dám hỏi, huống là có thể khuất phục. Này Phạm chí! Nhờ đọc kinh thư nên tôi biết được dấu hiệu thứ tư như thế.9 Nhân ý nghĩa này mà tôi tin chắc rằng Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện. Này Phạm chí! Kinh thư mà tôi đã đọc có bốn dấu hiệu này, do bốn dấu hiệu này mà tôi tin chắc rằng Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện.
Phạm chí Sanh Văn hỏi rằng:
– Này Bà-ta! Có phải do nhân do duyên đó mà ông thành tâm cúng dường Sa-môn Cù-đàm và hoan hỷ phụng hành chăng?
[0656c01] Du sĩ Ti-lô đáp:
– Này Phạm chí! Đúng vậy, đúng vậy! Tôi đã chí thành cúng dường và cũng hết lòng khen ngợi Thế Tôn. Hết thảy thế gian cũng nên cúng dường như thế.
Bấy giờ, Phạm chí Sanh Văn nghe được ý nghĩa trên liền bước xuống xe, quỳ gối phải chấm đất, chắp tay hướng về Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc hành lễ ba lần: “Nam-mô đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.” Ba lần hành lễ như vậy xong, Phạm chí lên chiếc xe trắng đẹp tuyệt rồi thẳng đến Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Phạm chí đến nơi, lập tức dừng xe rồi đi bộ đến chỗ Phật, chào hỏi xong liền ngồi sang một bên.
Bấy giờ, Phạm chí Sanh Văn đem câu chuyện vừa thảo luận với du sĩ Ti-lô thuật lại tường tận với Phật. Thế Tôn nghe xong liền bảo:
– Này Phạm chí! Ti-lô nói ví dụ về dấu chân voi chưa được hoàn hảo, cũng chưa được đầy đủ. Để ví dụ về dấu chân voi được hoàn hảo, được đầy đủ hơn thì hôm nay Ta sẽ giảng nói cho ông. Hãy khéo lắng nghe!
Phạm chí! Ví như thợ săn voi lành nghề rảo bước vào trong khu rừng vắng và nhìn thấy dấu chân voi to lớn ở giữa rừng cây. Thấy rồi, thợ săn tin chắc rằng con voi kia phải rất lớn mới có dấu chân như vậy. Này Phạm chí, thợ săn voi lành nghề ấy cũng chưa vội tin, vì trong khu rừng này còn có loài voi cái tên Ca-lê-nậu, thân hình rất cao lớn nên có dấu chân này. Thợ săn liền lần theo dấu chân voi, lại thấy có những dấu chân voi rất lớn, thấy rồi tin chắc rằng con voi này cũng rất lớn mới có dấu chân như vậy.
Này Phạm chí! Thợ săn voi lành nghề ấy cũng chưa vội tin, vì trong khu rừng này lại còn có loài voi cái tên Ca-la-lợi, thân hình rất cao lớn nên có dấu chân này. Thợ săn liền lần theo dấu chân voi, lại thấy có những dấu chân voi rất lớn, thấy rồi tin chắc rằng con voi này cũng phải rất lớn mới có dấu chân như vậy.
Phạm chí, thợ săn voi rành nghề ấy cũng chưa vội tin, vì trong khu rừng này còn có loài voi cái tên Bà-hòa-nậu, thân hình rất cao lớn nên có dấu chân này. Thợ săn liền lần theo dấu chân voi, lại thấy có dấu chân voi rất lớn, thấy rồi tin chắc rằng con voi này cũng phải rất lớn mới có dấu chân như vậy.
Thợ săn sau khi lần theo dấu vết, thấy dấu chân voi rất lớn, bàn chân vuông vức, rất dài, rất rộng, bao phủ mặt đất, lún sâu xuống đất và vị ấy còn tận mắt nhìn thấy con voi đực đang đi tới đi lui, hoặc dừng hoặc chạy, hoặc đứng hoặc nằm. Thấy con voi kia rồi, thợ săn liền nghĩ rằng: “Dấu chân này nhất định là của con voi đực10 kia.”
Này Phạm chí! Cũng vậy, nếu trên đời xuất hiện đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, Thế Tôn thì ngay đời này, giữa chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Sa-môn, Phạm chí, từ trời cho đến người, vị ấy tự biết tự ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu an trú và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Vị ấy thuyết pháp, phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần cuối cũng vi diệu, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh. Vị ấy thuyết pháp, hoặc cư sĩ hay con của cư sĩ nghe xong liền khởi phát niềm tin, ở trong giáo pháp11 của Như Lai có được niềm tin rồi, họ liền nghĩ rằng: “Tại gia chật hẹp, là nơi trói buộc; xuất gia học đạo, thanh thoát phóng khoáng. Ta nay sống tại gia, chịu nhiều trói buộc, không thể trọn đời tịnh tu Phạm hạnh. Vậy ta hãy từ bỏ tài sản nhỏ cho đến tài sản lớn, từ giã họ hàng xa cho đến họ hàng gần, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.”
[0657a09] Thế rồi, vị ấy từ bỏ tài sản nhỏ cho đến tài sản lớn, từ giã họ hàng xa cho đến họ hàng gần, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Vị ấy xuất gia rồi, từ giã quan hệ thân quyến, lãnh thọ yếu pháp Tỳ-kheo, tu tập theo giới cấm, giữ gìn giới giải thoát,12 lại còn khéo thâu nhiếp oai nghi lễ tiết, thấy lỗi nhỏ lòng đã lo sợ và thường thọ trì học giới.
Vị ấy lìa bỏ sát sanh, đoạn trừ sát sanh, vứt bỏ dao gậy, biết hổ biết thẹn, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả, cho đến các loài côn trùng nhỏ nhít. Đối với việc sát sanh, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy lìa bỏ trộm cướp, đoạn trừ trộm cướp, chỉ lấy khi được cho, vui nhận những gì được cho, thường ưa bố thí, hoan hỷ không tiếc, không mong báo đáp. Đối với việc trộm cướp, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa dâm dục,13 đoạn trừ dâm dục, siêng tu Phạm hạnh, gắng giữ hạnh lành, thanh tịnh không nhơ uế, lìa dục đoạn dâm. Đối với việc dâm dục, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối, nói lời chân thật, thích lời chân thật, an trú nơi sự thật, không dao động, những gì nói ra đều đáng tin, không dối gạt thế gian. Đối với việc nói dối, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa nói hai chiều, đoạn trừ nói hai chiều, không nói hai chiều, không phá hoại người: Không nghe chuyện người này rồi nói lại người kia với ý phá hoại người này, không nghe chuyện người kia rồi nói lại người này với ý phá hoại người kia, ai chia lìa thì làm cho họ hòa hợp, ai hòa hợp thì khiến họ hoan hỷ, không lập bè đảng, không ưa bè đảng, không khen bè đảng. Đối với việc nói hai chiều, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa nói thô ác, đoạn trừ nói thô ác. Nếu có lời lẽ thô lỗ cộc cằn, nặng nề khó nghe, khiến người không vui, khiến người không thích, khiến người khổ não, không thể định tĩnh thì vị ấy không nói những lời như vậy. Nếu có lời lẽ hòa nhã nhu thuận, nhẹ nhàng dễ nghe, đáng ưa đáng thích, khiến người an lạc, thanh âm rõ ràng, không làm người sợ, khiến người định tĩnh thì vị ấy nói những lời như vậy. Đối với việc nói thô ác, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa nói thêu dệt, đoạn trừ nói thêu dệt, nói đúng lúc, nói chân thật, nói về pháp, nói về nghĩa, lời nói từ tốn, thích nói từ tốn, đúng thời đúng phép, khéo dạy khéo răn. Đối với việc nói thêu dệt, tâm vị ấy đã trừ sạch.
[0657b06] Vị ấy xa lìa buôn bán, đoạn trừ buôn bán, từ bỏ cân lường và đấu hộc, cũng không nhận hàng hóa, không trói buộc người, không cân non đong thiếu, không vì lợi nhỏ mà lường gạt người. Đối với việc buôn bán, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa việc nhận quả phụ, thiếu nữ, đoạn trừ việc nhận quả phụ, thiếu nữ. Đối với việc thâu nhận quả phụ, thiếu nữ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa việc nhận tôi tớ, đoạn trừ việc nhận tôi tớ. Đối với việc nhận tôi tớ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, đoạn trừ việc nhận voi, ngựa, trâu, dê. Đối với việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa việc nhận gà, heo, đoạn trừ việc nhận gà, heo. Đối với việc nhận gà, heo, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa việc nhận ruộng đất, quán xá, đoạn trừ việc nhận ruộng đất, quán xá. Đối với việc nhận ruộng đất, quán xá, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa việc nhận nếp, lúa, đậu, đoạn trừ việc nhận nếp, lúa, đậu. Đối với việc nhận nếp, lúa, đậu, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa rượu, đoạn trừ rượu. Đối với việc uống rượu, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa việc nằm giường cao rộng, đoạn trừ việc nằm giường cao rộng. Đối với việc nằm giường cao rộng, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp, đoạn trừ việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp. Đối với việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa ca múa hát xướng cho đến đi xem nghe, đoạn trừ ca múa hát xướng cho đến đi xem nghe. Đối với việc ca múa hát xướng cho đến đi xem nghe, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa việc cất giữ vàng bạc, châu báu, đoạn trừ việc cất giữ vàng, bạc, châu báu. Đối với việc cất giữ vàng bạc, châu báu, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy xa lìa ăn quá ngọ, đoạn trừ ăn quá ngọ, thường ăn một bữa, không ăn ban đêm, tập ăn đúng thời. Đối với việc ăn quá ngọ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
[0657b27] Vị ấy khi đã thành tựu Thánh giới uẩn14 như trên, lại sống hết sức biết đủ, áo vừa đủ che thân, ăn chỉ nhằm nuôi mạng, đi đến đâu cũng mang theo y bát, sống không dính mắc, giống như chim ưng dang rộng đôi cánh bay lượn giữa hư không.
Vị ấy khi đã thành tựu Thánh giới uẩn và sống hết sức biết đủ rồi, lại phòng hộ các căn, thường nhớ đóng chặt các căn, vì mong muốn tỏ ngộ nên thủ hộ niệm tâm để được thành tựu. Thường xuyên tỉnh giác,15 khi mắt thấy sắc không vướng mắc vào tướng của sắc, không đắm nhiễm vào vị của sắc, vì ngăn ngừa tranh giành và oán giận nên giữ gìn nhãn căn. Giữ gìn nhãn căn là để trong tâm không sanh ra tham muốn, ưu não và các pháp xấu ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn nhãn căn. Với tai, mũi, lưỡi và thân cũng vậy. Ý nhận biết các pháp nhưng không vướng mắc vào tướng các pháp, cũng không bị đắm nhiễm vào vị của các pháp, vì ngăn ngừa tranh giành và oán giận nên giữ gìn ý căn. Giữ gìn ý căn là để trong tâm không sanh tham muốn, ưu não và các pháp xấu ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn ý căn.
[0657c09] Vị ấy khi đã thành tựu Thánh giới uẩn rồi thì hết sức biết đủ và gìn giữ các căn, lại còn tỉnh giác khi ra khi vào, luôn khéo quán sát, phân biệt; khi co duỗi, cúi ngước, dung mạo khoan thai; khi khoác y Tăng-già-lê, đắp y, ôm bát, đi đứng, ngồi nằm, ngủ thức, nói năng hay im lặng… thảy đều tỉnh giác như vậy.
Khi đã thành tựu Thánh giới uẩn này rồi, vị ấy hết sức biết đủ, thủ hộ các căn và tỉnh giác khi ra khi vào rồi, lại sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi thanh vắng, hoặc bên gốc cây, nương nơi yên vắng, hoặc trong hang núi, hoặc chỗ đất trống, hoặc ở giữa đồng, hoặc ở trong rừng, hoặc bãi tha ma. Vị ấy khi ở nơi thanh vắng, hoặc bên gốc cây, nương nơi vắng vẻ, trải tọa cụ, ngồi kiết già, thân tâm ngay thẳng, quay vào bên trong, tâm không hướng ngoại, đoạn trừ tham lam, tâm không tranh đoạt, thấy tiền của hay vật dụng người khác không khởi ý muốn trở thành của mình. Đối với tham lam, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Cũng vậy đối với sân hận, hôn trầm, trạo hối. Vị ấy đoạn nghi trừ hoặc, với các thiện pháp không còn do dự. Đối với sự nghi hoặc, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Vị ấy đoạn trừ năm thứ ngăn che16 như trên, là những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém; rồi ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, trải nghiệm hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc và an trú Thiền thứ nhất. Này Phạm chí, đó gọi là điều mà Như Lai đã khuất phục, Như Lai đã thực hành, Như Lai đã thành tựu. Thế nhưng, vị ấy không dựa vào đó để kết luận17 rằng: “Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện.”
Tiếp đến, vị ấy từ bỏ giác quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, trải nghiệm hỷ lạc do định sanh, chứng đắc và an trú Thiền thứ hai. Này Phạm chí, đó gọi là điều mà Như Lai đã khuất phục, Như Lai đã thực hành, Như Lai đã thành tựu. Thế nhưng, vị ấy không dựa vào đó để kết luận rằng: “Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện.”
[0658a01] Rồi vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, sở cầu của bậc Thánh, xả niệm lạc trú, chứng đắc và an trú Thiền thứ ba. Này Phạm chí, đó gọi là điều mà Như Lai đã khuất phục, Như Lai đã thực hành, Như Lai đã thành tựu. Thế nhưng, vị ấy không dựa vào đó để kết luận rằng: “Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện.”
Tiếp đến, vị ấy xả khổ lạc, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc và an trú Thiền thứ tư. Này Phạm chí, đó gọi là điều mà Như Lai đã khuất phục, Như Lai đã thực hành, Như Lai đã thành tựu. Thế nhưng, vị ấy không dựa vào đó để kết luận rằng: “Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện.”
Vị ấy đã đạt định tâm như vậy, thanh tịnh, không uế, không phiền, nhu hoà, an trú vững chãi, trụ tâm bất động, hướng đến chứng đắc Lậu tận trí thông. Vị ấy biết đúng như thật đây là khổ, đây là nguyên nhân gây ra khổ, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt. Vị ấy biết đúng như thật đây là lậu, đây là nguyên nhân sanh khởi lậu, đây là lậu diệt, đây là con đường đưa đến lậu diệt.
Vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát khỏi dục lậu, tâm giải thoát khỏi hữu lậu và vô minh lậu; giải thoát rồi thì biết mình đã giải thoát và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Này Phạm chí, đó gọi là điều mà Như Lai đã khuất phục, Như Lai đã thực hành, Như Lai đã thành tựu. Vị ấy dựa vào đó rồi kết luận rằng: “Thế Tôn là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác; pháp Thế Tôn thuyết giảng toàn thiện và Thánh chúng đệ tử Như Lai hướng đến chỗ chánh thiện.” Này Phạm chí, ý ông nghĩ sao? Ví dụ về dấu chân voi như vậy đã được trình bày đầy đủ chưa?
Phạm chí Sanh Văn thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con đã biết. Bạch Thiện Thệ! Con đã hiểu. Bạch Thế Tôn! Nay con xin nguyện quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, ngưỡng mong Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc! Kể từ hôm nay cho đến lúc qua đời, con nguyện trọn đời quy y!
Đức Phật dạy như vậy, Phạm chí Sanh Văn và du sĩ Ti-lô nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
1 Nguyên tác: Tượng tích dụ kinh 象跡喻經 (T.01. 0026.146. 0656a14). Tham chiếu: M. 27, Cūḷahatthipadopama Sutta (Tiểu kinh dụ dấu chân voi).
2 Nguyên tác: Dị học (異學, aññatitthiyā paribbājakā).
3 Ti-lô (卑盧, Pilotika). Theo Chú giải Kinh Trung bộ (MA. I. 393), đây là tên của một du sĩ trẻ thuộc bộ tộc Vacchāyana.
4 Nguyên tác: Khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ (勸發, 渴仰, 成就歡喜). Xem chú thích 7, kinh số 9, tr. 48.
5 Sanh Văn (生聞, Jāṇussoṇi).
6 Bà-ta (婆磋), họ của Ti-lô, phiên âm từ Vacchāyana.
7 Nguyên tác: Tứ cú nghĩa (四句義). Tham chiếu: M. 27: Samaṇne Gotame cattāri padāni (4 dấu chân của Sa-môn Gotama).
8 Nguyên tác: Quyết định (決定). Tham chiếu: M. 27: Nipuṇe (tế nhị, tinh tế).
9 Bản Hán này lược 2 sự việc thứ 2 và thứ 3. Nhưng sự việc thứ 4 lại trùng lặp với sự việc thứ nhất. Ở đây, có thể sắp lại thứ tự lần lượt như sau: 1. Các luận sĩ bị khuất phục; 2. Các luận sĩ trở thành đệ tử; 3. Các luận sĩ này xuất gia; 4. Một số vị đó đạt cứu cánh trong đời này.
10 Nguyên tác: Đại tượng (大象). Voi cái là mẫu tượng (母象).
11 Nguyên tác: Chánh pháp, Luật (正法律).
12 Nguyên tác: Tùng giải thoát (從解脫, Pāṭimokkha).
13 Nguyên tác: Phi Phạm hạnh (非梵行).
14 Nguyên tác: Thánh giới tụ (聖戒聚). Kinh văn Pāli gọi là Thánh giới uẩn (聖戒蘊).
15 Nguyên tác: Chánh tri (正知): Biết một cách chính xác. M. 27: Sampajāna (ý thức rõ ràng về hành động của mình, còn gọi là “tỉnh giác”).
16 Nguyên tác: Ngũ cái (五蓋). Xem chú thích 9, kinh số 19, tr. 112.
17 Nguyên tác: Bất dĩ thử vi ngật (不以此為訖). M. 27: Neva tāva niṭṭhaṃ gacchati (không đưa đến kết luận).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.