Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, sau khi đức Phật nhập Niết-bàn không lâu, Tôn giả A-nan du hóa tại thành Vương Xá.
Lúc đó, đại thần nước Ma-kiệt-đà là Vũ-thế[2] đang sửa sang thành Vương Xá để phòng thủ dân Bạt-kỳ.[3] Khi ấy, đại thần Vũ-thế sai Cù-mặc Mục-kiềnliên, một người làm ruộng,[4] đi đến Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa.[5]
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Tôn giả A-nan đắp y, ôm bát vào thành Vương Xá khất thực. Thế rồi, Tôn giả A-nan chợt nghĩ: “Hãy tạm gác việc khất thực trong thành Vương Xá lại, ta nên đến chỗ người làm ruộng Cù-mặc Mục-kiền-liên.” Rồi Tôn giả A-nan đi đến chỗ người làm ruộng ấy.
[0654a01] Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên từ xa trông thấy Tôn giả A-nan đi đến, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục, chắp tay hướng về Tôn giả A-nan và bạch:
Kính chào ngài A-nan! Lâu nay không đến đây, mời ngài ngồi vào chỗ này.
Tôn giả A-nan liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sau khi Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên chào hỏi Tôn giả A-nan xong, ngồi sang một bên và thưa:
Bạch ngài A-nan! Tôi có điều muốn hỏi, ngài cho phép tôi hỏi chăng?
Tôn giả A-nan đáp:
Này Mục-kiền-liên! Ông muốn hỏi gì thì cứ hỏi, ta nghe xong sẽ suy nghĩ.
Mục-kiền-liên liền hỏi:
Bạch ngài A-nan! Có Tỳ-kheo nào sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?
Trong lúc Tôn giả A-nan và Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên cùng thảo luận vấn đề này thì Vũ-thế, đại thần nước Ma-kiệt-đà đang đi thăm và an ủi những người làm ruộng[6] rồi đến chỗ của Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên. Từ xa trông thấy Tôn giả A-nan đang ở chỗ người làm ruộng Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên, đại thần Vũ-thế liền đi đến chỗ Tôn giả A-nan, chào hỏi thăm nhau rồi ngồi sang một bên và thưa:
Bạch ngài A-nan! Vừa rồi ngài với Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên cùng thảo luận vấn đề gì? Vì sự kiện gì mà cùng hội họp ở đây?
Tôn giả A-nan đáp:
Này Vũ-thế! Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên có hỏi tôi: “Thưa ngài
A-nan! Có Tỳ-kheo nào sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?” Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
Thưa A-nan! Ngài trả lời Phạm chí ấy như thế nào?
Tôn giả A-nan đáp:
Này Vũ-thế! Hoàn toàn không có một Tỳ-kheo nào sánh bằng với Thế Tôn.
Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
Vâng, thưa ngài A-nan! Hoàn toàn không có một Tỳ-kheo nào sánh bằng với Thế Tôn. Thế nhưng, có Tỳ-kheo nào được Sa-môn Cù-đàm khi còn ở đời xác lập rằng: “Sau khi Ta diệt độ, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các thầy.” Và ngày nay, vị ấy là nơi nương tựa của các thầy chăng?
Tôn giả A-nan đáp:
Này Vũ-thế! Hoàn toàn không có một Tỳ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Kiến, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trong lúc còn ở đời đã xác lập rằng: “Sau khi Ta diệt độ, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các thầy.” Và ngày nay, vị ấy đang là nơi nương tựa của chúng tôi.
Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
Đúng thế, thưa ngài A-nan! Hoàn toàn không có một Tỳ-kheo nào sánh bằng với Sa-môn Cù-đàm, cũng không có một Tỳ-kheo nào được Sa-môn Cùđàm trong lúc còn ở đời đã xác lập rằng: “Sau khi Ta nhập Niết-bàn, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo.” Và ngày nay, vị ấy đang là nơi nương tựa của các thầy. Thế nhưng, có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hợp và suy tôn rằng: “Sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các thầy.” Và hôm nay, vị ấy đang là nơi nương tựa của các thầy chăng?
[0654b02] Tôn giả A-nan đáp:
Này Vũ-thế! Cũng không có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hợp và suy tôn rằng: “Sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các thầy.” Và hôm nay, vị ấy đang là nơi nương tựa cho chúng tôi.
Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
Đúng thế, thưa ngài A-nan! Hoàn toàn không có Tỳ-kheo nào sánh bằng với Sa-môn Cù-đàm, cũng không có Tỳ-kheo nào được Sa-môn Cù-đàm trong lúc còn ở đời đã xác lập rằng: “Sau khi Ta nhập Niết-bàn, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo.” Và ngày nay, vị ấy đang là nơi nương tựa của các thầy; cũng không có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hợp và suy tôn rằng: “Sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các thầy.” Và hôm nay, vị ấy đang là nơi nương tựa của các thầy. Bạch ngài A-nan! Nếu như vậy thì hiện nay các thầy không có ai nương tựa, nhưng vẫn sống hòa hợp, sống an ổn, không tranh cãi, cùng học một giáo pháp, hòa hợp như sữa hòa với nước, sống an lạc thảnh thơi như khi Sa-môn Cù-đàm còn tại thế chăng?
Tôn giả A-nan đáp:
Này Vũ-thế! Ông chớ nên nói: “Chúng tôi không có chỗ nương tựa.” Vì sao như vậy? Vì chúng tôi đã có chỗ nương tựa rồi!
Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà thưa:
Bạch ngài A-nan! Những lời đã nói trước và sau sao lại không phù hợp nhau? Ngài vừa nói như vầy: “Không có Tỳ-kheo nào sánh bằng với Thế Tôn, cũng không Tỳ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Kiến, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác khi còn sống ở đời đã xác lập rằng: ‘Sau khi Ta nhập Niếtbàn, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo.’ Và ngày nay, vị ấy đang là nơi nương tựa của chúng tôi; cũng không có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hợp và suy tôn rằng: ‘Sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo.’ Và hôm nay, vị ấy đang là nơi nương tựa của chúng tôi.” Thế nhưng thưa ngài A-nan! Do nhân gì, duyên gì mà hôm nay ngài lại nói: “Chúng tôi đã có chỗ nương tựa rồi?” Tôn giả A-nan đáp:
Này Vũ-thế! Chúng tôi không nương tựa nơi người mà chúng tôi nương tựa nơi Pháp. Này Vũ-thế, chúng tôi cùng nhau nương tựa nơi thôn ấp mà sống, vào ngày rằm cùng nhóm họp một chỗ để thuyết giới. Nếu có Tỳ-kheo nào biết Pháp thì chúng tôi thỉnh vị ấy thuyết pháp cho chúng tôi nghe. Nếu chúng Tăng ấy thanh tịnh thì tất cả chúng tôi đều hoan hỷ phụng hành theo Pháp mà Tỳkheo ấy đã nói. Nếu chúng Tăng ấy không thanh tịnh thì tùy theo Pháp được giảng mà chúng tôi khuyên bảo nên thực hiện như thế nào.
Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà thưa:
Bạch ngài A-nan! Chẳng phải các ngài khuyên bảo nên thực hiện như thế nào mà chính là do pháp khuyên bảo nên thực hiện như thế nào. Như vậy, A-nan! Ít pháp hay nhiều pháp đều có thể tồn tại lâu dài. Và như vậy, A-nan! Các ngài sống hòa hợp, sống an ổn, không tranh cãi, cùng học một giáo pháp, cùng hòa hợp như sữa hòa với nước, sống an lạc thảnh thơi như khi Sa-môn Cù-đàm còn tại thế.
[0654c03] Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
Bạch ngài A-nan! Có vị nào đáng được tôn kính chăng?
Tôn giả A-nan đáp:
Này Vũ-thế! Có vị xứng đáng được tôn kính.
Vũ-thế thưa:
Bạch A-nan! Những lời đã nói trước và sau sao lại không phù hợp nhau? Ngài vừa nói như vầy: “Không một Tỳ-kheo nào sánh bằng với Thế Tôn, cũng không có Tỳ-kheo nào được Thế Tôn khi còn sống ở đời đã xác lập rằng: ‘Sau khi Ta nhập Niết-bàn, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo.’ Và ngày nay, vị ấy đang là nơi nương tựa của chúng tôi; cũng không có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hợp và suy tôn rằng: ‘Sau khi Thế Tôn nhập Niếtbàn, Tỳ-kheo này sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo.’ Và hôm nay, vị ấy đang là nơi nương tựa của chúng tôi.” Nhưng này A-nan, do nhân gì duyên gì, hôm nay ngài lại nói có vị xứng đáng được tôn kính?
Tôn giả A-nan đáp:
Này Vũ-thế! Thế Tôn, bậc Tri Kiến, đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác có dạy về mười pháp đáng tôn kính.[7] Nếu chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào có mười pháp này thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Mười pháp ấy là gì? Này Vũ-thế! Tỳ-kheo tu tập giới cấm, giữ gìn giới cấm, lại khéo thu nhiếp oai nghi lễ tiết, thấy lỗi nhỏ nhặt thường sanh lòng lo sợ, thọ trì học giới. Này Vũ-thế, nếu chúng tôi thấy có Tỳ-kheo nào nỗ lực hành trì giới tăng thượng thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Lại nữa, này Vũ-thế! Tỳ-kheo học rộng nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích lũy sự đa văn, đối với những pháp phần đầu thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh; đối với các pháp như vậy, vị ấy học rộng nghe nhiều, tụng đọc, thực hành cho đến ngàn lần, chuyên tâm tư duy quán sát, thấy rõ, hiểu sâu.[8] Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào nỗ lực đa văn thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Lại nữa, này Vũ-thế! Tỳ-kheo nào xứng đáng là thiện tri thức, xứng đáng là bạn bè tốt, xứng đáng là người bạn đồng hành tốt. Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào thật sự xứng đáng là thiện tri thức thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Lại nữa, này Vũ-thế! Tỳ-kheo ưa thích đời sống viễn ly, thành tựu cả hai hạnh viễn ly là thân viễn ly và tâm viễn ly. Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳkheo nào thật sự rất ưa thích đời sống viễn ly thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
[0655a02] Lại nữa, này Vũ-thế! Tỳ-kheo ưa thích sự tĩnh tọa, nội tâm thực hành thiền chỉ,[9] cũng không rời thiền tọa,[10] thành tựu thiền quán,[11] tu tập tăng trưởng về pháp quán không.[12] Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào rất ưa thích sự tĩnh tọa thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Lại nữa, này Vũ-thế! Tỳ-kheo sống với hạnh biết đủ, áo vừa đủ che thân, ăn chỉ nhằm nuôi mạng, đi đến đâu đều mang theo y bát, ra đi không luyến tiếc, giống như con chim ưng với đôi cánh bay lượn giữa hư không. Cũng vậy, Tỳ-kheo sống với hạnh biết đủ, áo vừa đủ che thân, ăn chỉ nhằm nuôi mạng, đi đến đâu đều mang theo y bát, ra đi không luyến tiếc. Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào thật sự sống với hạnh biết đủ thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Lại nữa, này Vũ-thế! Tỳ-kheo thường hành chuyên niệm, thành tựu chánh niệm, những gì đã từng học tập từ lâu, những gì đã từng nghe từ lâu, thường ghi nhớ không quên. Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào thường có chánh niệm thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Lại nữa, này Vũ-thế! Tỳ-kheo thường hành tinh tấn, dứt trừ những xấu ác bất thiện, tu các pháp thiện, thường tự giữ tâm chuyên nhất vững chãi, vì gốc rễ của pháp thiện mà không từ bỏ một phương tiện nào. Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào thật sự hành tinh tấn thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Lại nữa, này Vũ-thế! Tỳ-kheo tu hạnh trí tuệ, quán sát sự thịnh suy của các pháp, chứng được trí như thật, thành tựu tuệ minh đạt của bậc Thánh, phân biệt rõ ràng, diệt sạch khổ đau hoàn toàn. Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào nỗ lực tu hạnh trí tuệ thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Lại nữa, này Vũ-thế! Khi Tỳ-kheo đã đoạn sạch mọi lậu hoặc, thành tựu vô lậu, được tâm giải thoát, được tuệ giải thoát, Tỳ-kheo ấy tự biết, tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trú và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào đã đoạn sạch mọi lậu hoặc thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Này Vũ-thế! Thế Tôn, bậc Tri Kiến, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã giảng thuyết mười pháp xứng đáng được tôn kính này. Này Vũ-thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nào thực hành mười pháp này thì chúng tôi sẽ cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, sùng phụng và lễ bái Tỳ-kheo ấy.
Ngay lúc đó, trong đại chúng đồng thanh lớn tiếng:[13]
Có thể tu tập con đường chánh trực, chứ không phải không thể tu. Nếu ai có thể tu con đường chánh trực, chứ không phải không thể tu thì vị ấy là A-lahán ở trong đời, xứng đáng được ái kính, tôn trọng, cúng dường và lễ bái. Nếu các ngài có thể tu tập theo con đường chánh trực thì ngay trong đời, các ngài là A-la-hán, xứng đáng được ái kính, tôn trọng, cúng dường và lễ bái.
[0655b05] Rồi đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà và quyến thuộc ấy hỏi rằng:
Thưa ngài A-nan, nay ngài đi du hóa nơi nào?
Tôn giả A-nan đáp:
Tôi đang du hóa tại thành Vương Xá này, hiện đang ở tinh xá Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa.
Bạch ngài A-nan, rừng Trúc trong vườn Ca-lan-đa thật là nơi rất đáng ưa thích, trang nghiêm, dễ chịu, ban ngày không huyên náo, ban đêm yên tĩnh, không có muỗi mòng, ruồi nhặng, thời tiết không lạnh cũng không nóng. Bạch A-nan, ngài có thích sống tại rừng Trúc vườn Ca-lan-đa chăng?
Tôn giả A-nan đáp:
Đúng vậy, Vũ-thế! Tinh xá Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa rất đáng ưa thích, trang nghiêm, thật dễ chịu, ban ngày không huyên náo, ban đêm yên tĩnh, không có muỗi mòng, ruồi nhặng, thời tiết không lạnh cũng không nóng. Này Vũ-thế, tôi rất thích sống ở tinh xá Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa ấy. Vì sao như vậy? Vì Thế Tôn cũng tán thành.
Lúc đó, Đại tướng Bà-nan14 cũng ở trong chúng ấy, thưa rằng:
Đúng vậy, Vũ-thế! Tinh xá Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa rất đáng ưa thích, trang nghiêm, rất dễ dịu, ban ngày không huyên náo, ban đêm yên tĩnh, không có muỗi mòng, ruồi nhặng, thời tiết không lạnh cũng không nóng. Tôn giả ấy ưa thích sống ở tinh xá Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa. Vì sao như vậy? Vì Tôn giả này thực hành thiền quán, ưa thích thiền quán.[14]
Nghe xong, đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà liền nói:
Này Đại tướng Bà-nan! Trước đây, khi Sa-môn Cù-đàm du hóa tại khu vườn khả ái của ngài Kim-tỳ-la,[15] này Đại tướng Bà-nan, lúc đó tôi nhiều lần đến thăm Sa-môn Cù-đàm. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm thực hành thiền quán, ưa thích thiền quán, khen ngợi tất cả thiền quán.
Tôn giả A-nan nghe xong, bảo rằng:
Vũ-thế, chớ nói rằng Sa-môn Cù-đàm khen ngợi tất cả thiền quán. Vì sao như vậy? Vì Thế Tôn có khi khen ngợi thiền quán, nhưng có khi không khen ngợi.
Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
A-nan, Sa-môn Cù-đàm không khen ngợi thiền quán, nhưng không khen ngợi thiền quán nào?
Tôn giả A-nan đáp:
Vũ-thế, nếu có người bị trói buộc bởi tham dục và phát khởi tham dục, không biết đúng như thật pháp xuất ly, vì người ấy đang bị chướng ngại bởi tham dục nên đối với thiền quán, cứ trầm ngâm thiền quán, chìm đắm thiền quán. Này Vũ-thế, đó gọi là thiền quán thứ nhất mà đức Thế Tôn không khen ngợi.
Lại nữa, này Vũ-thế, nếu có người nào bị trói buộc bởi sân hận, rồi phát khởi sân hận, không biết đúng như thật pháp xuất ly; vì vị ấy đang bị chướng ngại bởi sân hận nên đối với thiền quán, cứ trầm ngâm thiền quán, chìm đắm thiền quán. Này Vũ-thế, đó gọi là thiền quán thứ hai mà Thế Tôn không khen ngợi.
Lại nữa, này Vũ-thế, nếu người nào bị trói buộc bởi ngủ nghỉ và dấy khởi ngủ nghỉ, không biết đúng như thật pháp xuất ly; vì vị ấy đang bị chướng ngại bởi ngủ nghỉ nên đối với thiền quán, cứ trầm ngâm thiền quán, chìm đắm thiền quán. Này Vũ-thế, đó gọi là thiền quán thứ ba mà Thế Tôn không khen ngợi.
Lại nữa, này Vũ-thế, người nào bị trói buộc bởi nghi hoặc và phát khởi nghi hoặc, không biết đúng như thật pháp xuất ly; vì vị ấy đang bị chướng ngại bởi nghi hoặc, nên đối với thiền quán, cứ trầm ngâm thiền quán, chìm đắm thiền quán. Này Vũ-thế, đó gọi là thiền quán thứ tư mà Thế Tôn không khen ngợi. Này Vũ-thế! Đức Thế Tôn không khen ngợi bốn loại thiền quán này.
[0655c11] Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà bạch:
Bạch A-nan, bốn loại thiền quán này thật đáng ghét, là những trường hợp đáng ghét nên Sa-môn Cù-đàm không khen ngợi. Vì sao như vậy? Vì Ngài là bậc Chánh Đẳng Giác.
Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:
Bạch A-nan, những thiền quán nào được Sa-môn Cù-đàm khen ngợi?
Tôn giả A-nan đáp:
Vũ-thế, Tỳ-kheo lìa dục, lìa pháp ác bất thiện,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu an trú. Này Vũ-thế, Thế Tôn khen ngợi bốn loại thiền quán này.
Đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà bạch:
Bạch A-nan, bốn loại thiền quán này rất đáng khen ngợi, là những trường hợp đáng khen ngợi nên được Sa-môn Cù-đàm khen ngợi. Vì sao như vậy? Vì Ngài là bậc Chánh Đẳng Giác. Bạch ngài A-nan, tôi còn nhiều việc phải làm, xin phép cáo từ.
Tôn giả A-nan bảo:
Ngài muốn về thì cứ tùy ý.
Rồi đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà sau khi nghe Tôn giả A-nan nói xong, cẩn thận ghi nhớ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Tôn giả ba vòng rồi ra về.
Sau khi đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà đi không lâu, Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên bạch rằng:
Bạch A-nan, phải chăng những điều tôi hỏi đã không được trả lời?
Tôn giả A-nan đáp:
Mục-kiền-liên! Quả thật tôi đã không trả lời.
Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên bạch:
Tôi lại có điều muốn hỏi, ngài cho phép tôi hỏi chăng?
Tôn giả A-nan đáp:
Mục-kiền-liên! Ông cứ hỏi, tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.
Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên liền hỏi:
Bạch A-nan, sự giải thoát của Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác và tuệ giải thoát,[16] cũng như giải thoát của bậc A-la-hán thì ba loại giải thoát này có sai biệt gì và có sự hơn kém nào chăng?
[0656a01] Tôn giả A-nan đáp:
Này Mục-kiền-liên, sự giải thoát của Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác và tuệ giải thoát, cũng như giải thoát của bậc A-la-hán thì ba loại giải thoát này không có sự sai biệt và cũng không có sự hơn kém.
Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên bạch:
Bạch A-nan, mong ngài ở lại đây thọ trai.
Tôn giả A-nan im lặng nhận lời. Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên biết Tôn giả A-nan im lặng nhận lời rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự đi lấy nước rửa, rồi dâng lên đủ loại thức ăn tinh khiết, thơm ngon với các loại mềm và cứng rất thịnh soạn, tự tay dâng cúng cho đến khi no đủ. Thọ thực xong dọn dẹp bát, dùng nước rửa tay, rồi Phạm chí lấy một chiếc ghế thấp ngồi riêng bên cạnh nghe pháp. Tôn giả A-nan thuyết pháp cho Phạm chí nghe, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ.18 Sau khi bằng vô số phương tiện thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ xong, Tôn giả A-nan đứng dậy ra về.
Tôn giả A-nan dạy như vậy, đại thần Vũ-thế nước Ma-kiệt-đà cùng quyến thuộc và Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên nghe Tôn giả A-nan dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
[1] Quyển 36. Nguyên tác: Cù-mặc Mục-kiền-liên kinh 瞿默目揵連經 (T.01. 0026.145. 0653c20). Tham chiếu: M. 108, Gopakamoggallāna Sutta (Kinh Gopaka Moggallāna); S. 22.58 - III. 65.
[2] Vũ-thế (雨勢, Vassakāra), Tể tướng nước Ma-kiệt-đà (摩掲陀, Magadha).
[3] Nguyên tác: Vị phòng Bạt-kỳ (為防跋耆). Tham chiếu: M. 108: Rañño pajjotassa āsaṅkamāno (vì nghi ngờ Pajjota (Ðăng Quang vương), HT. Thích Minh Châu dịch. Ở đây, Pajjota gọi đủ là Candapajjota, là vị vua cai trị nước A-bàn-đề (阿槃提, Avanti) thời Phật. Theo DPPN, vị vua này có mối giao hảo với Vua Tần-bà-sa-la (頻毘娑羅, Bimbisāra) trong việc xin phép Tần-bà-sa-la cho ngự y Kỳ-bà (耆婆, Jīvaka) điều trị bệnh cho mình. Có sự khác biệt về địa danh này giữa MĀ. 154 và M. 108.
[4] Cù-mặc Mục-kiền-liên điền tác nhân (瞿默目犍連田作人). Tham chiếu: M. 108: Gopakamoggallāna sutta (Kinh Gopaka Moggallāna): Gopakamogallānassa brāhmaṇassa kammanto (chỗ làm việc của Bà-la-môn Gopaka Moggallāna).
[5] Chi tiết này không phù hợp với chi tiết tiếp theo.
[6] Ủy lạo điền tác nhân (慰勞田作人).
[7] Thập pháp nhi khả tôn kính (十法而可尊敬). Tham chiếu: M. 108: Dasa pasādaniyā dhammā (10 pháp khả hỷ).
[8] Ý sở duy quán, minh kiến thâm đạt (意所惟觀, 明見深達).
[9] Nguyên tác: Nội hành chánh chỉ (內行正止). A-ma-trú kinh 阿摩晝經 (T.01. 0001.20. 0082a06) gọi là “nội hành tịch diệt” (內行寂滅). Mã Ấp kinh 馬邑經 (T.01. 0026.183. 0725c16) gọi là “nội hành chỉ” (內行止), nghĩa là thực hành tu tập khiến cho nội tâm vắng lặng. Pāli: Samatha.
[10] Nguyên tác: Diệc bất ly tứ (亦不離伺). Xem Ngưu Giác Sa-la lâm kinh 牛角娑羅林經 (T.01. 0026.184. 0726c25): Bất phế tọa thiền (不廢坐禪). Pāli: Anirākatajjhāno.
[11] Nguyên tác: Thành tựu ư quán (成就於觀). Ở đây chỉ cho sự thành tựu tuệ minh sát. Pāli: Vipassanā.
[12] Nguyên tác: Không hành (空行): Các hành là không, chỉ cho phép tu “quán không” đối với các pháp. Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.273. 0072b20): Tỳ-kheo, phải biết các hành là không (比丘!於空諸行當知).
[13] Có lẽ là âm thanh của những người làm ruộng và quân lính đi theo, mà đoạn sau gọi là “quyến thuộc.” 14 Bà-nan (婆難, Upananda), vị đại tướng của vương triều Ma-kiệt-đà (摩竭陀, Magadha).
[14] Hành tứ lạc tứ (行伺樂伺). “Hành tứ” ở đây được hiểu là hành thiền. Tham chiếu: M. 108: Jhāyino ceva bhavanto jhānasīlino ca (xứng đáng với những người tu thiền và tánh thiên về thiền định).
[15] Kim-tỳ-la Lạc viên (金鞞羅樂園). Theo Trường Thọ Vương bổn khởi kinh 長壽王本起經 (T.01. 0026.72. 0532c09), khu rừng khả ái mà ba Tôn giả Kim-tỳ-la (金毘羅, Kimbila), Tôn giả A-na-luật-đà (阿那律陀, Anuruddha) và Tôn giả Nan-đề (難提, Nandiya) cùng ở, có tên là Ban-na-mạn-xà tự lâm (般那蔓闍寺林, Pācīnavaṃsadāya), thuộc nước Cetiya (支提).
[16] Nguyên tác: Tuệ giải thoát (慧解脫, Paññāvimuttā). Theo Tạp. 雜 (T.02. 0099.1207. 0328c19), khi lìa vô minh thì được tuệ giải thoát (離無明者慧解脫).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.