Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Đông Viên, giảng đường Lộc Tử Mẫu.
Bấy giờ, vào lúc xế trưa, Toán số Mục-kiền-liên2 thong dong tản bộ đến chỗ đức Phật, cùng thăm hỏi nhau xong, ngồi sang một bên và bạch:
Thưa Cù-đàm! Tôi có điều muốn hỏi, nếu Ngài cho phép thì mới dám trình bày.
Thế Tôn bảo:
Này Mục-kiền-liên, ông muốn hỏi gì thì cứ hỏi, xin đừng nghi ngại.
Toán số Mục-kiền-liên liền bạch:
Thưa đức Cù-đàm! Giảng đường Lộc Tử Mẫu này được xây dựng tuần tự, dần dần rồi sau đó hoàn thành. Thưa Cù-đàm, với bậc thang trong giảng đường Lộc Tử Mẫu này, đầu tiên xây lên một bậc, rồi đến hai bậc, ba bậc, bốn bậc. Thưa Cù-đàm, như vậy giảng đường Lộc Tử Mẫu này lần lượt theo thứ tự đi lên.
Thưa Cù-đàm! Sự thuần phục loài voi là do nhờ móc câu nên đã thuần phục tuần tự, dần dần cho đến khi thuần thục hoàn toàn. Thưa Cù-đàm! Sự thuần phục loài ngựa là do nhờ dây cương nên đã thuần phục tuần tự, dần dần cho đến khi thuần thục hoàn toàn. Thưa Cù-đàm! Dòng Sát-lợi do nắm chắc cung và tên nên đã tuần tự, dần dần đến khi thuần thục hoàn toàn. Thưa Cù-đàm! Các vị Phạm chí cũng do sự học tập kinh sách nên đã tuần tự, dần dần đến khi thuần thục hoàn toàn. Thưa Cù-đàm! Chúng tôi học toán số, dùng nghề toán số để nuôi sống, cũng phải tuần tự, dần dần cho đến khi thuần thục hoàn toàn. Nếu có đệ tử nam hoặc nữ bắt đầu được dạy đếm từng con số một, hai, ba, mười, trăm, ngàn, vạn,... theo thứ tự mà đếm lên. Thưa Cù-đàm! Như vậy chúng tôi học toán số, dùng nghề toán số để nuôi sống, cũng phải tuần tự, dần dần cho đến khi thuần thục hoàn toàn. Thưa Sa-môn Cù-đàm! Trong giáo pháp[2] này, phải thực hành tuần tự, dần dần như thế nào cho đến khi thành tựu hoàn toàn?
Thế Tôn bảo:
Này Mục-kiền-liên! Nếu nói một cách chân chánh thì có sự thực hành tuần tự, dần dần cho đến khi thành tựu hoàn toàn. Này Mục-kiền-liên, đó gọi là nói một cách chân chánh theo giáo pháp của Ta. Vì sao như vậy? Này Mụckiền-liên, vì trong giáo pháp của Ta có sự thực hành tuần tự, dần dần cho đến khi thành tựu hoàn toàn.
Này Mục-kiền-liên! Như có Tỳ-kheo niên thiếu vừa đến học đạo, lúc mới vào trong giáo pháp này thì trước hết Như Lai dạy rằng: “Tỳ-kheo, thầy hãy đến đây! Hãy phòng hộ thân bằng việc nuôi sống thanh tịnh.[3] Hãy phòng hộ miệng và ý bằng việc nuôi sống thanh tịnh.”
Này Mục-kiền-liên! Nếu Tỳ-kheo nào đã phòng hộ thân bằng việc nuôi sống thanh tịnh rồi, đã phòng hộ miệng và ý bằng việc nuôi sống thanh tịnh rồi, Như Lai sẽ dạy thêm: “Tỳ-kheo, thầy hãy đến đây! Hãy quán nội thân đúng như thân, cho đến quán thọ, quán tâm và quán pháp đúng như pháp.”
Này Mục-kiền-liên! Nếu Tỳ-kheo nào đã quán nội thân đúng như thân, cho đến quán thọ, quán tâm và quán pháp đúng như pháp[4] rồi, Như Lai sẽ dạy thêm: “Tỳ-kheo, hãy đến đây! Hãy quán nội thân đúng như thân, đừng niệm tưởng những niệm tương ưng với dục; cho đến quán thọ, quán tâm và quán pháp đúng như pháp, đừng niệm tưởng phi pháp, những niệm tương ưng với dục.”
[0652b08] Này Mục-kiền-liên! Khi Tỳ-kheo đã quán nội thân đúng như thân, không niệm tưởng những niệm tương ưng với dục rồi, cho đến quán thọ, quán tâm và quán pháp đúng như pháp, không niệm tưởng phi pháp, những niệm tương ưng với dục niệm rồi, Như Lai sẽ dạy thêm: “Tỳ-kheo, hãy đến đây! Hãy phòng hộ các căn, thường nghĩ đến việc đóng chặt các căn, lòng mong tỏ ngộ nên phải phòng hộ và giữ tâm trong chánh niệm để được thành tựu. Thường xuyên tỉnh giác,[5] mắt thấy sắc nhưng không nắm giữ tướng của sắc, không thích thú7 với sắc, là vì tránh sự oán giận, tranh cãi. Phòng hộ nhãn căn là để trong tâm không sanh ra tham muốn, ưu não và các pháp ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn nhãn căn. Đối với nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn cũng như vậy; ý nhận biết các pháp nhưng không nắm giữ tướng của các pháp, cũng không thích thú với các pháp, là vì tránh sự oán giận, tranh cãi. Giữ gìn ý căn là để trong tâm không sanh tham muốn, ưu não và các pháp ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn ý căn.”
Này Mục-kiền-liên! Khi Tỳ-kheo đã phòng hộ các căn, thường nghĩ đến việc đóng chặt các căn, lòng mong tỏ ngộ nên phải phòng hộ và giữ tâm trong chánh niệm để được thành tựu. Thường xuyên tỉnh giác, mắt thấy sắc nhưng không nắm giữ tướng của sắc, không thích thú với sắc, là vì tránh sự oán giận, tranh cãi. Phòng hộ nhãn căn là để trong tâm không sanh ra tham muốn, ưu não và các pháp ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn nhãn căn. Đối với nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn cũng như vậy; ý nhận biết các pháp nhưng không nắm giữ tướng của các pháp, cũng không thích thú với các pháp, là vì tránh sự oán giận, tranh cãi. Giữ gìn ý căn là để trong tâm không sanh tham muốn, ưu não và các pháp ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn ý căn rồi, Như Lai sẽ dạy thêm: “Tỳ-kheo, hãy đến đây! Thầy hãy tỉnh giác khi ra lúc vào, khéo léo quán sát, phân biệt, co duỗi, cúi ngước, dung mạo khoan thai, khi khoác y Tăng-già-lê, lúc đắp y ôm bát, khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói năng, im lặng… thảy đều tỉnh giác.”
Này Mục-kiền-liên! Vị Tỳ-kheo đã tỉnh giác khi ra lúc vào, khéo léo quán sát, phân biệt, co duỗi, cúi ngước, dung mạo khoan thai, khi khoác y Tăng-giàlê, lúc đắp y ôm bát, khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói năng, im lặng… thảy đều tỉnh giác rồi, Như Lai sẽ dạy thêm: “Tỳ-kheo, hãy đến đây! Thầy hãy sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi thanh vắng, hoặc dưới gốc cây, hoặc nơi yên tĩnh, hoặc vách núi, hang đá, nơi đất trống, bụi cây, hoặc ở trong rừng, hoặc bãi tha ma. Sau khi thầy đã sống nơi vắng vẻ, nương bên gốc cây hay nơi yên vắng, trải tọa cụ, ngồi kiết-già, thân tâm ngay thẳng,[6] quay vào bên trong, tâm không hướng ngoại, đoạn trừ tham lam, tâm không tranh đoạt, thấy tài của cải hay vật dụng của người khác thì không khởi ý muốn trở thành của mình. Đối với tâm tham lam, thầy nên tịnh trừ tâm đó. Cũng vậy đối với sân hận, hôn trầm, loạn động, đoạn nghi trừ hoặc, đối với các pháp thiện không còn do dự. Đối với sự nghi hoặc, thầy nên tịnh trừ tâm đó. Thầy nên đoạn trừ năm thứ ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, phải lìa dục, lìa pháp ác bất thiện,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú.”
Này Mục-kiền-liên! Nếu Tỳ-kheo nào lìa dục, lìa bỏ các pháp ác, bất thiện,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú thì này Mục-kiền-liên, Như Lai đã đem lại nhiều ích lợi cho các Tỳ-kheo niên thiếu, nghĩa là khéo dạy dỗ, khéo khuyên răn và khéo khiển trách. Này Mục-kiền-liên! Nếu có Tỳ-kheo thượng tôn, Trưởng lão, Phạm hạnh đã thuần thục,9 Như Lai sẽ dạy thêm khiến họ đoạn dứt hết thảy các pháp hữu lậu để thành tựu rốt ráo.
[0652c16] Toán số Mục-kiền-liên lại hỏi:
Thưa Sa-môn Cù-đàm! Tất cả đệ tử đều được giảng dạy như vậy, khuyên bảo như vậy, có chắc đều đạt đến Cứu cánh trí, chứng Niết-bàn chăng?
Thế Tôn đáp:
Này Mục-kiền-liên, không hẳn là như vậy! Cũng có người đạt được, cũng có người không đạt được.
Toán số Mục-kiền-liên lại hỏi:
Thưa Cù-đàm, ở nơi đây do nhân gì, duyên gì mà có Niết-bàn, có con đường đưa đến Niết-bàn? Và hiện tại Sa-môn Cù-đàm là bậc thầy chỉ đường, giáo huấn cho các Tỳ-kheo như vậy, khuyên bảo như vậy, nhưng vì sao lại có người đạt đến cứu cánh Niết-bàn, có người lại không đạt đến Niết-bàn?
Thế Tôn lại bảo:
Này Mục-kiền-liên! Ta hỏi lại ông, hãy tùy theo sự hiểu biết của mình mà đáp. Này Mục-kiền-liên, ý ông nghĩ sao? Ông biết rõ thành Vương Xá ở đâu và thông thạo các con đường đến đó chăng?
Toán số Mục-kiền-liên đáp:
Thưa vâng! Tôi biết rõ thành Vương Xá ở đâu và thông thạo các con đường đến đó.
Thế Tôn hỏi:
Này Mục-kiền-liên! Nếu có một người muốn đến thành Vương Xá để yết kiến vua, người ấy hỏi ông: “Tôi muốn đi đến thành Vương Xá để yết kiến vua. Toán số Mục-kiền-liên biết rõ thành Vương Xá ở đâu và thông thạo các con đường chính, đường tắt, có thể chỉ cho tôi chăng?” Ông bảo người ấy rằng: “Từ đây đi về phía Đông đến thôn nọ, rồi từ thôn nọ đến ấp kia, cứ đi lần lượt như thế sẽ đến thành Vương Xá. Những gì có ở bên ngoài thành Vương Xá, nào là khu vườn đẹp đẽ, đất đai bằng phẳng, lầu đài, ao tắm, đủ loại hoa cỏ, có con sông dài, lại có dòng suối trong, thảy đều thấy hết, biết hết.” Sau khi nghe sự chỉ dẫn của ông rồi, người ấy bắt đầu đi từ đây về hướng Đông, đi không bao lâu liền bỏ con đường chính mà theo con đường nhầm lẫn rồi quay trở lại. Những gì có ở bên ngoài thành Vương Xá, nào là khu vườn đẹp đẽ, đất đai bằng phẳng, lầu đài, ao tắm, đủ loại hoa cỏ, có con sông dài, lại có dòng suối trong, nhưng người ấy hoàn toàn không thấy, không biết gì hết.
[0653a08] Lại có một người khác muốn đi đến thành Vương Xá để yết kiến vua. Người ấy hỏi ông rằng: “Tôi muốn đi đến thành Vương Xá để yết kiến vua. Toán số Mục-kiền-liên có biết rõ thành Vương Xá ở đâu và thông thạo các con đường chính, đường tắt, có thể chỉ cho tôi chăng?” Ông nói với người ấy rằng: “Từ đây đi về hướng Đông đến thôn nọ, từ thôn nọ sẽ đến ấp kia, cứ đi lần lượt như vậy sẽ đến thành Vương Xá. Những gì có ở bên ngoài thành Vương Xá, nào là khu vườn đẹp đẽ, đất đai bằng phẳng, lầu đài, ao tắm, đủ loại hoa cỏ, có con sông dài, lại có dòng suối trong, thảy đều thấy hết, biết hết.” Sau khi nghe sự chỉ dẫn của ông, người ấy liền đi từ đây về hướng Đông, đến thôn kia, rồi từ thôn kia đi đến ấp nọ, cứ đi lần lượt như vậy cho đến thành Vương Xá. Những gì có ở bên ngoài thành Vương Xá, nào là khu vườn đẹp đẽ, đất đai bằng phẳng, lầu đài, ao tắm, đủ loại hoa cỏ, có con sông dài, lại có dòng suối trong, người ấy thảy đều thấy hết, biết hết.
Này Toán số Mục-kiền-liên! Ở đây do nhân gì, duyên gì mà trong khi có thành Vương Xá, có con đường dẫn đến thành Vương Xá và ông hiện tại là người chỉ đường đó, nhưng người thứ nhất nghe lời chỉ dẫn của ông, đi không bao lâu đã bỏ con đường chính mà theo con đường nhầm lẫn rồi quay trở lại, nên những gì có ở bên ngoài thành Vương Xá, nào là khu vườn đẹp đẽ, đất đai bằng phẳng, lầu đài, ao tắm, đủ loại hoa cỏ, có con sông dài, lại có dòng suối trong mà người ấy hoàn toàn không thấy, không biết gì hết? Còn người thứ hai theo lời chỉ dẫn của ông, đi theo con đường chính rồi đi lần hồi đến thành Vương Xá. Những gì có ở bên ngoài thành Vương Xá, nào là khu vườn đẹp đẽ, đất đai bằng phẳng, lầu đài, ao tắm, đủ loại hoa cỏ, có con sông dài, lại có dòng suối trong thì người ấy thảy đều thấy hết, biết hết?
Toán số Mục-kiền-liên đáp:
Thưa Cù-đàm, tôi hoàn toàn vô can! Có thành Vương Xá kia, có con đường dẫn đến thành Vương Xá, tôi hiện tại chỉ là người chỉ đường. Người thứ nhất không theo sự chỉ dẫn của tôi, bỏ con đường chính mà theo con đường nhầm lẫn rồi quay trở lại. Cho dù những gì có ở bên ngoài thành Vương Xá, nào là khu vườn đẹp đẽ, đất đai bằng phẳng, lầu đài, ao tắm, đủ loại hoa cỏ, có con sông dài, lại có dòng suối trong, nhưng người ấy thảy đều không thấy, không biết gì cả. Còn người thứ hai kia do nghe theo lời chỉ dẫn của tôi, từ con đường chính lần lượt đi đến thành Vương Xá, nên những gì có ở bên ngoài thành Vương Xá, nào là khu vườn đẹp đẽ, đất đai bằng phẳng, lầu đài, ao tắm, đủ loại hoa cỏ, có con sông dài, lại có dòng suối trong, người ấy thảy đều thấy hết, biết hết.
[0653b06] Thế Tôn bảo:
Cũng vậy, này Mục-kiền-liên, Ta cũng vô can! Có Niết-bàn đó, có con đường dẫn đến Niết-bàn và Ta chỉ là bậc thầy chỉ đường, giáo huấn các Tỳ-kheo như vậy, khuyên bảo như vậy, có vị đạt đến cứu cánh Niết-bàn nhưng có vị thì không. Này Mục-kiền-liên! Ta chỉ tùy theo sự thực hành của mỗi Tỳ-kheo mà ghi nhận sự thực hành ấy, cho đó là cứu cánh Niết-bàn vậy!
Toán số Mục-kiền-liên bạch:
Thưa Cù-đàm! Con đã hiểu. Thưa Cù-đàm! Con đã rõ. Thưa Cù-đàm, ví như trên mảnh đất tốt có rừng sa-la, trong đó có người giữ rừng sa-la sáng suốt, không lười biếng, đối với gốc rễ của cây sa-la, tùy theo thời mà cuốc xới, san phẳng chỗ cao, lấp đầy chỗ thấp, quét dọn rác, tưới nước, không để sai thời. Nếu bên cạnh gốc cây có cỏ mọc um tùm thì người giữ rừng nhổ bỏ hết. Nếu có những cây đâm ngang, khiến cây mọc không ngay thẳng thì người ấy uốn lại cho thẳng hay tỉa đi. Nếu có cây mọc ngay thẳng rất đẹp thì người ấy chăm sóc giữ gìn, thường cuốc xới, quét dọn rác, tưới nước, không để sai thời. Như vậy, trên mảnh đất tốt, rừng cây sa-la ngày càng sum suê.
Bạch Cù-đàm! Cũng vậy, có người dua nịnh, dối trá, không biết thi ân, không có niềm tin, biếng nhác, không niệm, không định, tuệ yếu kém, tâm cuồng, các căn rối loạn, trì giới lơ là, không siêng tu hạnh Sa-môn. Thưa Cùđàm! Những người như vậy không thể cộng sự. Vì sao như vậy? Thưa Ngài, những người như vậy sẽ làm ô uế Phạm hạnh. Thưa Cù-đàm! Nếu lại có người không dua nịnh, cũng không dối trá, biết thi ân, có niềm tin, siêng năng không biếng nhác, có niệm, có định, cũng có trí tuệ, rất cung kính giới, siêng tu tập hạnh Sa-môn. Thưa Cù-đàm! Người như vậy có thể cộng sự. Vì sao như vậy? Thưa Cù-đàm! Những người như vậy là bậc Phạm hạnh thanh tịnh.
Thưa Cù-đàm! Ví như trong các loại hương từ rễ[7] thì trầm hương[8] là bậc nhất. Vì sao như vậy? Thưa Cù-đàm! Vì trầm hương là loại gỗ quý nhất trong các loại hương từ rễ. Thưa Cù-đàm! Cũng như trong các loại hương từ lõi[9] thì chiên-đàn đỏ là bậc nhất. Vì sao như vậy? Thưa Cù-đàm! Vì trong các loại hương từ lõi thì chiên-đàn đỏ là bậc nhất. Thưa Cù-đàm! Cũng như trong các loại hoa sống trong nước thì hoa sen xanh là bậc nhất. Vì sao như vậy? Thưa Cù-đàm! Vì trong các loại hoa mọc trong nước thì hoa sen xanh là tối thượng. Thưa Cù-đàm! Cũng như các loại hoa mọc trên đất thì hoa tu-ma-na là bậc nhất. Vì sao như vậy? Thưa Cù-đàm! Vì trong tất cả các loài hoa mọc trên đất thì hoa tu-ma-na là tối thượng. Thưa Cù-đàm! Cũng như trong thế gian, giữa các luận sĩ, Sa-môn Cù-đàm là bậc nhất. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm là một luận sĩ có thể khuất phục tất cả các du sĩ ngoại đạo vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng, cúi mong Ngài chấp nhận con được làm ưu-bà-tắc. Kể từ hôm nay cho đến lúc qua đời, con nguyện trọn đời quy y!
[0653c09] Đức Phật dạy như vậy, Toán số Mục-kiền-liên và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.[10]
[1] Nguyên tác: Toán số Mục-kiền-liên kinh 算數目揵連經 (T.01. 0026.144. 0652a07). Tham chiếu: Số kinh 數經 (T.01. 0070. 0875a11); M. 107, Gaṇakamoggallāna Sutta (Kinh Gaṇaka Moggallāna). 2 Toán số Phạm chí Mục-kiền-liên (算數梵志目揵連, Gaṇakamoggallāna Brāhmaṇa), vị này có thể là một nhà toán học.
[2] Nguyên tác: Pháp (法, Dhamma), Luật (律, Vinaya).
[3] Nguyên tác: Thân hộ mạng thanh tịnh (身護命清淨). Tham chiếu: Điều ngự địa kinh 調御地經
(T.01. 0026.198. 0758a29): Thầy nên phòng hộ thân bằng việc nuôi mạng sống thanh tịnh (汝當護身及命清淨).
[4] Nguyên tác: Quán nội thân như thân,… chí… quán giác…, … tâm…, … pháp như pháp (觀內身如身,… 至觀覺… 心… 法如法). Xem chú thích 3, kinh số 41, tr. 272 và chú thích 5, kinh số 98, tr. 653.
[5] Nguyên tác: Chánh tri (正知): Biết một cách chính xác. M. 107: Sampajānakārī (ý thức rõ ràng về hành động của mình), còn gọi là tỉnh giác. 7 Nguyên tác: Vị (味): Thú vị (趣味).
[6] Nguyên tác: Chánh thân chánh nguyện (正身正願). 9 Nguyên tác: Cựu học Phạm hạnh (舊學梵行).
[7] Nguyên tác: Căn hương (根香): Hương liệu từ rễ cây.
[8] Nguyên tác: Trầm hương (沈香), tên một loại hương liệu quý, rất thơm và nặng, bỏ xuống nước thì chìm.
[9] Nguyên tác: Sa-la thọ hương (娑羅樹香), loại hương bằng lõi cây. Tham chiếu: M. 107: Sāragandhā (hương lõi cây).
[10] Bản Hán, hết quyển 35.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.