Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

142. KINH VŨ-THẾ1

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa thành Vương Xá, ngụ trong núi Thứu Nham.2

Bấy giờ, A-xà-thế, con bà Vi-đề-hy3 là vua nước Ma-kiệt-đà, do kết thù oán với nước Bạt-kỳ4 nên đã nhiều lần nói giữa quyến thuộc rằng: “Người dân nước Bạt-kỳ có sức mạnh lớn,5 có oai đức lớn, có phước lực lớn và có oai thần lớn, nhưng ta sẽ tiêu diệt giống người Bạt-kỳ, tàn phá đất nước ấy, khiến cho dân chúng nước Bạt-kỳ gặp vô số tai họa.” [0648b01] Khi ấy, A-xà-thế, con bà Vi-đề-hy, vua nước Ma-kiệt-đà, nghe tin đức Thế Tôn du hóa tại thành Vương Xá, ngụ ở núi Thứu Nham, liền bảo đại thần Vũ-thế:6

– Ta nghe tin Sa-môn Cù-đàm du hóa tại thành Vương Xá, hiện ngụ ở núi Thứu Nham. Này Vũ-thế! Khanh hãy đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, nhân danh ta thăm hỏi Thánh thể có được an vui, không bệnh, sức lực có được bình thường hay không? Rồi hãy thưa như vầy: “Kính bạch Sa-môn Cù-đàm, A-xà-thế, con bà Vi-đề-hy, vua nước Ma-kiệt-đà, kính thăm hỏi thánh thể có được an vui, không bệnh, sức lực có được bình thường chăng? Bạch Sa-môn Cù-đàm! A-xà- thế, con bà Vi-đề-hy, vua nước Ma-kiệt-đà kết thù oán với nước Bạt-kỳ nên thường ở giữa quyến thuộc nhiều lần nói rằng: ‘Người dân nước Bạt-kỳ có sức mạnh lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn và có oai thần lớn, nhưng ta sẽ tiêu diệt giống người Bạt-kỳ, tàn phá đất nước ấy, khiến cho dân chúng nước Bạt-kỳ gặp vô số tai họa.” Rồi tham vấn Sa-môn Cù-đàm xem Ngài dạy thế nào? Này Vũ-thế! Nếu Sa-môn Cù-đàm có dạy điều gì thì khanh hãy khéo ghi nhớ và thọ trì. Vì sao như vậy? Bởi vì những bậc như vậy không bao giờ nói sai.

Tuân lệnh vua, đại thần Vũ-thế liền cưỡi cỗ xe rất đẹp, cùng năm trăm cỗ xe khác đồng ra khỏi thành Vương Xá, đi đến núi Thứu Nham. Đến nơi, đại thần Vũ-thế xuống xe đi bộ đến chỗ đức Phật, chào hỏi đức Thế Tôn xong, ngồi sang một bên và thưa:

– Bạch đức Cù-đàm! A-xà-thế, con bà Vi-đề-hy, vua nước Ma-kiệt-đà kính thăm hỏi thánh thể có được an vui, không bệnh, sức lực có được bình thường chăng? Bạch Cù-đàm! A-xà-thế, con bà Vi-đề-hy, vua nước Ma-kiệt-đà kết thù oán với nước Bạt-kỳ nên thường ở giữa quyến thuộc nhiều lần nói rằng: “Người dân nước Bạt-kỳ có sức mạnh lớn, có oai đức lớn, có phước lực lớn và có oai thần lớn, nhưng ta sẽ tiêu diệt giống người Bạt-kỳ, tàn phá đất nước ấy, khiến cho dân chúng nước Bạt-kỳ gặp vô số tai họa.” Thưa Sa-môn Cù-đàm, việc này Ngài dạy như thế nào?

Nghe vậy, đức Thế Tôn bảo:
– Này Vũ-thế! Thuở xưa, Ta đã từng du hóa đến nước Bạt-kỳ. Nước ấy có ngôi tinh xá tên là Giá-hòa-la.7 Này Vũ-thế! Lúc ấy, Ta có giảng nói bảy pháp không suy thoái cho người nước Bạt-kỳ nghe. Người nước Bạt-kỳ có thể đã vâng giữ và thực hành bảy pháp không suy thoái đó. Này Vũ-thế! Nếu người dân nước Bạt-kỳ thực hành bảy pháp không suy thoái, không trái phạm thì nước Bạt-kỳ chắc chắn hùng mạnh, không thể suy yếu!

Đại thần Vũ-thế thưa:
– Bạch Sa-môn Cù-đàm! Về việc này Ngài chỉ nói sơ lược chứ không giải thích tường tận, chúng con không thể hiểu rõ nghĩa này. Kính xin Sa-môn Cù- đàm giảng nói tường tận để chúng con hiểu ý nghĩa này.

[0648c02] Đức Thế Tôn bảo:
– Này Vũ-thế! Hãy lắng nghe và khéo nhớ nghĩ, Ta sẽ giảng nói rộng rãi về ý nghĩa này cho ông nghe.

Đại thần Vũ-thế vâng lời lắng nghe.

Lúc ấy, Tôn giả A-nan đang cầm quạt đứng hầu Phật. Đức Thế Tôn quay lại và hỏi A-nan:
– Thầy có nghe người nước Bạt-kỳ thường xuyên hội họp và hội họp đông đủ chăng?

Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con có nghe người nước Bạt-kỳ thường xuyên hội họp và hội họp đông đủ.

Đức Thế Tôn liền bảo đại thần Vũ-thế:
– Nếu người Bạt-kỳ thường xuyên hội họp và hội họp đông đủ thì nước Bạt-kỳ chắc chắn hùng mạnh, không thể suy yếu được.

Đức Thế Tôn lại hỏi Tôn giả A-nan:
– Thầy có nghe người nước Bạt-kỳ cùng nhau hội họp, cùng nhau làm công việc của Bạt-kỳ và cùng nhau giải tán chăng?

Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch đức Thế Tôn! Con nghe người nước Bạt-kỳ cùng nhau hội họp, cùng nhau làm công việc của Bạt-kỳ và cùng nhau giải tán.

Đức Thế Tôn lại bảo đại thần Vũ-thế:
– Nếu người Bạt-kỳ cùng nhau hội họp, cùng nhau làm công việc của Bạt-kỳ và cùng nhau giải tán thì nước Bạt-kỳ sẽ được cường thịnh, không thể suy yếu.

Đức Thế Tôn lại hỏi Tôn giả A-nan:
– Thầy có nghe nước Bạt-kỳ không ban hành thêm những điều lệ chưa được ban hành, những điều lệ đã ban hành thì không thay đổi, những pháp lành cũ xưa thì nghiêm cẩn phụng hành chăng?

Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch đức Thế Tôn! Con có nghe nước Bạt-kỳ không ban hành thêm những điều lệ chưa được ban hành, những điều lệ đã ban hành thì không thay đổi, những pháp lành cũ xưa thì nghiêm cẩn phụng hành.

Đức Thế Tôn lại bảo đại thần Vũ-thế:
– Nếu nước Bạt-kỳ không ban hành thêm những điều lệ chưa được ban hành, những điều đã ban hành thì không thay đổi, nghiêm cẩn phụng hành những pháp lành cũ xưa thì nước Bạt-kỳ chắc chắn hùng mạnh, không thể suy yếu.

Đức Thế Tôn lại hỏi Tôn giả A-nan:
– Thầy có từng nghe người nước Bạt-kỳ không ỷ thế mà xâm phạm vợ người và con gái người khác chăng?

Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con có nghe người nước Bạt-kỳ không ỷ thế mà xâm phạm vợ người và con gái của người khác.

Đức Thế Tôn lại bảo đại thần Vũ-thế:
– Nếu người nước Bạt-kỳ không ỷ thế mà xâm phạm vợ người và con gái của người khác thì nước Bạt-kỳ chắc chắn hùng mạnh, không thể suy yếu.

Đức Thế Tôn lại hỏi Tôn giả A-nan:
– Thầy có từng nghe người nước Bạt-kỳ nếu có những bậc danh đức đáng tôn trọng thì họ rất tôn kính, đảnh lễ, cúng dường chăng? Và họ có nghe theo lời dạy của những vị ấy chăng?

Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con có nghe người nước Bạt-kỳ nếu có những bậc danh đức đáng tôn trọng thì họ đều rất tôn kính, đảnh lễ, cúng dường và nghe theo lời dạy của những vị ấy.

Đức Thế Tôn lại bảo đại thần Vũ-thế:
– Này Vũ-thế! Nếu người nước Bạt-kỳ có những bậc danh đức đáng tôn trọng thì họ đều rất tôn kính, đảnh lễ, cúng dường và nghe theo lời dạy của những vị ấy thì nước Bạt-kỳ chắc chắn hùng mạnh, không thể suy yếu.

[0649a03] Đức Thế Tôn lại hỏi Tôn giả A-nan:
– Thầy có từng nghe nước Bạt-kỳ, nếu có ngôi tháp cổ nào thì người nước Bạt-kỳ cùng nhau tu bổ, giữ gìn, cúng dường, lễ bái; những lễ nghi đã có từ xưa thì không bỏ phế, những tập tục đã có thì không hạn chế, dẹp bỏ chăng?

Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con có nghe nước Bạt-kỳ nếu có ngôi tháp cổ nào thì người nước Bạt-kỳ cùng nhau tu bổ, giữ gìn, cúng dường, lễ bái; những lễ nghi đã có từ xưa thì không bỏ phế, những tập tục đã có thì không hạn chế, dẹp bỏ.

Đức Thế Tôn lại bảo đại thần Vũ-thế:
– Nếu nước Bạt-kỳ có ngôi tháp cổ nào thì người nước Bạt-kỳ cùng nhau tu bổ, giữ gìn, cúng dường, lễ bái; những lễ nghi đã có từ xưa thì không bỏ phế, những tập tục đã có thì không hạn chế, dẹp bỏ thì nước Bạt-kỳ chắc chắn hùng mạnh, không thể suy yếu.

Đức Thế Tôn lại hỏi Tôn giả A-nan:
– Thầy có từng nghe nước Bạt-kỳ thảy đều ủng hộ và vô cùng kính mến các vị A-la-hán, thường mong muốn các vị A-la-hán chưa đến thì sẽ đến, các vị đã đến rồi thì ưa thích ở lại lâu dài, thường cúng dường cho các vị ấy những vật dụng sinh hoạt hằng ngày như y áo, thức ăn, giường nệm và thuốc thang được đầy đủ chăng?

Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con có nghe nước Bạt-kỳ thảy đều ủng hộ và vô cùng kính mến các vị A-la-hán, thường mong muốn các vị A-la-hán chưa đến thì sẽ đến, các vị đã đến rồi thì ưa thích ở lại lâu dài, thường cúng dường cho các vị ấy những vật dụng nuôi sống như y áo, thức ăn, giường nệm và thuốc thang đầy đủ không để thiếu thốn.

Đức Thế Tôn lại bảo đại thần Vũ-thế:
– Nếu nước Bạt-kỳ thảy đều ủng hộ và vô cùng kính mến các vị A-la-hán, thường mong muốn các vị A-la-hán chưa đến thì sẽ đến, các vị đã đến rồi thì ưa thích ở lại lâu dài, thường cúng dường cho các vị ấy những vật dụng nuôi sống như y áo, thức ăn, giường nệm và thuốc thang đầy đủ thì nước Bạt-kỳ chắc chắn hùng mạnh, không bị suy yếu.

Này Vũ-thế! Nước Bạt-kỳ đã thực hành bảy pháp không suy thoái này. Nếu nước ấy đã vâng giữ bảy pháp không suy thoái này thì chắc chắn hùng mạnh, không thể nào suy yếu.

Khi ấy, đại thần Vũ-thế liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai phải, chắp tay hướng Phật và thưa:
– Bạch Cù-đàm! Dù cho nước Bạt-kỳ chỉ thành tựu một pháp không suy thoái thì A-xà-thế, con bà Vi-đề-hy, vua nước Ma-kiệt-đà đã không thể hàng phục được họ, huống gì họ thực hành đầy đủ cả bảy pháp không suy thoái? Bạch đức Cù-đàm! Việc nước còn nhiều, con xin phép Ngài được trở về.

Đức Thế Tôn bảo:
– Ông muốn về thì cứ tùy ý!

Lúc đó, đại thần Vũ-thế nghe lời Phật dạy, dốc lòng ghi nhớ, đứng dậy nhiễu quanh đức Thế Tôn ba vòng rồi ra về.

[0649b01] Sau khi đại thần Vũ-thế ra về không lâu, đức Thế Tôn quay lại bảo Tôn giả A-nan:
– Này A-nan! Nếu những Tỳ-kheo nào hiện đang sống rải rác ở núi Thứu Nham, thầy hãy báo cho tất cả nhóm họp tại giảng đường. Khi tất cả đã nhóm họp xong, thầy hãy trở lại báo cho Ta biết.

Tôn giả A-nan liền vâng lời Phật dạy:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn!

Ngay lúc ấy, Tôn giả A-nan đi thông báo ý chỉ của Phật: “Các Tỳ-kheo nào hiện đang sống rải rác ở núi Thứu Nham, hãy nhóm họp tại giảng đường.”

Sau khi các Tỳ-kheo đã tập hợp tại giảng đường rồi, Tôn giả A-nan trở về chỗ đức Phật, cúi đầu đảnh lễ rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Chúng Tỳ-kheo đang sống rải rác ở núi Thứu Nham đã tập hợp tại giảng đường, kính mong Thế Tôn biết đã hợp thời.

Bấy giờ, đức Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đi đến giảng đường, trải tọa cụ ngồi trước chúng Tỳ-kheo, rồi Ngài dạy:
– Nay Ta sẽ giảng nói cho các thầy nghe về bảy pháp không suy thoái. Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy ngẫm.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật:
– Kính vâng, thưa Thế Tôn!

Đức Phật dạy:
– Là bảy pháp nào? Nếu chúng Tỳ-kheo nào thường xuyên hội họp, hội họp đông đủ thì chúng Tỳ-kheo ấy chắc chắn sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo cùng nhau hội họp trong thanh tịnh, cùng nhau làm việc của chúng Tăng và cùng nhau giải tán thì chúng Tỳ-kheo ấy chắc chắn sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào không ban hành thêm điều lệ chưa được ban hành, không thay đổi những điều lệ đã được ban hành; những giới luật do Ta nói ra được thực hành nghiêm cẩn thì chúng Tỳ-kheo ấy chắc chắn sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào không bị chi phối bởi khát ái dẫn đến sự hiện hữu ở tương lai, đi cùng với hỷ và tham, đưa đến sự đắm trước nơi này, nơi kia8 thì chúng Tỳ-kheo ấy chắc chắn sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu trong chúng Tỳ-kheo có bậc Trưởng lão thượng tôn đồng học Phạm hạnh, các Tỳ-kheo thảy đều tôn kính, đảnh lễ, cúng dường và vâng lời chỉ dạy của các vị ấy thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào ưa thích sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận ngồi yên, thường an trú trong niềm hỷ lạc thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào thảy đều ủng hộ, chí thành cung kính, tôn trọng các vị Phạm hạnh, thường mong muốn các vị Phạm hạnh chưa đến thì mau đến, đã đến rồi thì hằng mong ở lại lâu dài, thường cúng dường các vị ấy đầy đủ vật dụng nuôi sống như y áo, thức ăn, giường nệm, thuốc thang, không để thiếu thốn thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào thực hành bảy pháp không suy thoái này và thọ trì không trái phạm thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

[0649c01] Lúc ấy, đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
– Ta sẽ nói thêm cho các thầy nghe về bảy pháp không suy thoái. Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy ngẫm.

Các Tỳ-kheo thưa:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn!

Đức Phật dạy:
– Bảy pháp ấy là gì? Nếu chúng Tỳ-kheo nào đối với Tôn sư mà dốc lòng cung kính, cúng dường, phụng sự thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào đối với Pháp, Tăng, Giới, đối với sự không buông lung, đối với việc chu cấp và đối với định9 mà hết lòng cung kính, cúng dường, phụng sự thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào thực hành bảy pháp không suy thoái này và thọ trì không trái phạm thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
– Ta sẽ nói tiếp cho các thầy nghe về bảy pháp không suy thoái. Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy ngẫm.

Các Tỳ-kheo thưa:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn!

Đức Phật dạy:
– Bảy pháp ấy là gì? Nếu chúng Tỳ-kheo nào không làm việc thế sự, không ưa thích làm việc thế sự, không thân cận thế sự thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào không làm việc phiếm luận, không ưa thích phiếm luận, không thân cận phiếm luận thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.10

Nếu chúng Tỳ-kheo nào không tổ chức tụ hội, không ưa thích tụ hội, không thân cận nơi tụ hội thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào không tổ chức kết hợp hỗn tạp, không ưa thích kết hợp hỗn tạp, không thân cận sự kết hợp hỗn tạp thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào không ham ngủ nghỉ, không ưa thích ngủ nghỉ, không thân cận ngủ nghỉ thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào không vì lợi dưỡng, không vì tiếng khen, không vì người khác mà tu hành Phạm hạnh thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào không vì quả vị thấp, không vì quả vị cao hay ở nửa chừng gián đoạn, mà chỉ nỗ lực tiến lên quả vị thù thắng thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào thực hành bảy pháp không suy thoái này và thọ trì không trái phạm thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
– Ta sẽ nói thêm cho các thầy nghe về bảy pháp không suy thoái. Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy ngẫm.

Các Tỳ-kheo thưa:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn!

Đức Phật dạy:
– Bảy pháp ấy là gì? Nếu chúng Tỳ-kheo nào thành tựu bảy thứ tài sản, bao gồm: Niềm tin, giới hạnh, tự thẹn, xấu hổ, học rộng nghe nhiều, bố thí và trí tuệ thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào thực hành được bảy pháp không suy thoái này và thọ trì không trái phạm thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
– Như Lai sẽ nói thêm cho các thầy nghe về bảy pháp không suy thoái. Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy ngẫm.

Các Tỳ-kheo thưa:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn!

Đức Phật dạy:
– Bảy pháp ấy là gì? Nếu chúng Tỳ-kheo nào thành tựu bảy thứ sức mạnh, bao gồm: Niềm tin, tinh tấn, tự thẹn, xấu hổ, chánh niệm, định tĩnh và trí tuệ thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào thực hành được bảy pháp không suy thoái này và thọ trì không trái phạm thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

[0650a02] Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
– Ta sẽ nói tiếp cho các thầy nghe về bảy pháp không suy thoái. Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy ngẫm.

Các Tỳ-kheo thưa:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn!

Đức Phật dạy:
– Bảy pháp ấy là gì? Nếu chúng Tỳ-kheo nào tu niệm giác chi, nương vào xả ly, nương vào vô dục, nương vào diệt tận, hướng đến pháp xuất ly; cũng vậy, với trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và tu xả giác chi, nương vào xả ly, nương vào vô dục, nương vào diệt tận, hướng đến pháp xuất ly thì chúng Tỳ- kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào thực hành được bảy pháp không suy thoái này và thọ trì không trái phạm thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
– Ta sẽ nói thêm cho các thầy nghe về bảy pháp không suy thoái. Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy ngẫm.

Các Tỳ-kheo thưa:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn!

Đức Phật dạy:
– Bảy pháp ấy là gì? Nếu Tỳ-kheo nào cần dùng luật hiện tiền thì dùng luật hiện tiền; cần dùng luật ức niệm thì dùng luật ức niệm; cần dùng luật bất si thì dùng luật bất si; cần dùng luật tự phát lồ thì dùng luật tự phát lồ; cần nhiều người tìm tội thì dùng luật nhiều người tìm tội;11 cần dùng luật triển chuyển thì dùng luật triển chuyển.12 Nếu trong chúng khởi lên sự tranh cãi thì nên dùng pháp diệt tránh để chấm dứt sự tranh cãi như quăng bỏ giẻ rách thì chúng Tỳ- kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Nếu chúng Tỳ-kheo nào thực hành được bảy pháp không suy thoái này và thọ trì không trái phạm thì chúng Tỳ-kheo ấy sẽ được hưng thịnh, không bị suy thoái.

Đức Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
– Nay Ta sẽ nói cho các thầy nghe về sáu pháp hòa kính.13 Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy ngẫm!

Các Tỳ-kheo thưa:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn!

Đức Phật dạy:
– Là sáu pháp nào? Dùng thân nghiệp từ hòa hướng đến các vị đồng Phạm hạnh, đó gọi là pháp hòa kính, là pháp đáng yêu, là pháp đáng thích, khiến được yêu thương, khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho hòa thuận, tác thành Sa-môn, được sự nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn. Khẩu nghiệp từ hòa, ý nghiệp từ hòa cũng như thế.

Nếu có lợi dưỡng đúng theo pháp, cho đến miếng cơm ở trong bình bát của mình, với phần lợi như vậy, vị ấy cùng chia sẻ cho các vị đồng Phạm hạnh. Đó gọi là pháp hòa kính, là pháp đáng yêu, là pháp đáng thích, khiến được yêu thương, khiến được tôn trọng, khiến được phụng sự, khiến được cung kính, khiến được tu tập, khiến cho hòa thuận, tác thành Sa-môn, thành tựu nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.

Nếu có giới pháp không khiếm khuyết, không tì vết, không nhiễm ô, không vẩn đục, như mặt đất không tùy thuộc kẻ khác, được bậc Thánh khen ngợi, đầy đủ, khéo léo thọ trì, với giới phần như vậy, vị ấy cùng chia sẻ với các vị đồng Phạm hạnh. Đó gọi là pháp hòa kính, là pháp đáng yêu, là pháp đáng thích, khiến được yêu thương, khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho hòa thuận, tác thành Sa-môn, thành tựu nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.

Nếu có hiểu biết về pháp xuất ly của bậc Thánh, hiểu rõ thông suốt, có khả năng diệt khổ hoàn toàn, với hiểu biết như vậy, vị ấy cùng chia sẻ với các vị đồng Phạm hạnh. Đó gọi là pháp hòa kính, là pháp đáng yêu, là pháp đáng thích, khiến được yêu thương, khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho hòa thuận, tác thành Sa-môn, thành tựu nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn. Vì nhân duyên ấy nên Ta mới nói sáu pháp hòa kính.

Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

 

Chú thích:

1 Nguyên tác: Vũ-thế kinh 雨勢經 (T.01. 0026.142. 0648a24). Tham chiếu: Du hành kinh 遊行經(T.01. 0001.2. 0011a07-0012a26); Tăng. 增 (T.02. 0125.40.2. 0738a11-c17); D. 16, Mahāparinibbāna Sutta (Kinh Đại Bát-niết-bàn); A. 7.22 - IV. 17.
2 Thứu Nham sơn (鷲巖山, Gijjhakūṭa pabbata) cũng gọi là Linh Thứu sơn hay còn được phiên âm là Kỳ-xà quật.

3 Nguyên tác: Vị Sanh Oán Bệ-đà-đề tử (未生怨鞞陀提子, Ajātasattu Vedehiputta): Vị Sanh Oán con bà Vedehi.
4 Bạt-kỳ (䟦耆, Vajjī).
5 Nguyên tác: Đại như ý túc (大如意足). Tham chiếu: D. 16: Mahiddhikā (nhiều thần lực). Ở đây chỉ cho sức mạnh quân sự nói chung.
6 Vũ-thế (雨勢, Vassakāra), Tể tướng nước Ma-kiệt-đà (摩竭陀, Magadha).
7 Giá-hòa-la (遮惒邏, Sārandada). Theo D. 16, tên gọi ngôi tự miếu mà ở nơi đó đức Phật dạy cho dân chúng Vajjī 7 pháp không suy thoái.
8 Nguyên tác: Vị lai hữu ái; hỷ, dục cộng câu; ái lạc bỉ bỉ (未來有愛, 喜欲共俱, 愛樂彼彼). Tham chiếu: SĀ. 70: Đương lai hữu ái; tham, hỷ câu; bỉ bỉ lạc trước (當來有愛, 貪, 喜俱, 彼彼樂著). Hữu ái (有愛): Khát vọng tái sanh, khao khát được hiện hữu. Xem thêm M. 44: Yāyaṃ āvuso Visākha taṇhā ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī. Seyyathidaṃ, kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā. (Hiền giả Visākha, khát ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái và phi hữu ái), HT. Thích Minh Châu dịch.
9 Pháp, chúng, giới, bất phóng dật, cung cấp, định (法, 眾, 戒, 不放逸, 供給, 定), cùng với Tôn sư nói trước, là 7 đề mục bất thối.
10 Nguyên tác của 7 pháp này lược bỏ mệnh đề chủ ngữ và tân ngữ, chúng tôi thêm vào như vế đầu để rõ nghĩa.
11 Nguyên tác: Ưng dữ cư dữ cư (應與居與居). Có thể bản Hán ghi nhầm chữ 君 thành 居. Vì lẽ, quân luật (君律) còn gọi là quyết định của đa số (多數決, yebhuyyasikā). Cách diệt trừ sự tranh cãi bằng hình thức lấy đa số để chỉ cho đương sự thấy lỗi.
12 Nguyên tác: Ưng dữ triển chuyển dữ triển chuyển (應與展轉與展轉), tức “triển chuyển chỉ tránh luật.” Ngũ phần luật 五分律 (T.22. 1421.10. 0077b18) gọi là “bổn ngôn trị” (本言治) hay “mích tội tướng” (覓罪相, tassapāpiyasikā; tassapāpiyyasikā): Hình thức diệt trừ sự tranh cãi bằng cách bạch tứ yết-ma tìm tội cho đến khi đương sự chịu tội.
13 Lục ủy lạo pháp (六慰勞法, cha sārāṇīyā dhammā) còn gọi là 6 pháp hòa kính (六和敬): Thân hòa đồng trụ (身和同住), khẩu hòa vô tránh (口和无諍), ý hòa đồng duyệt (意和同悦), giới hòa đồng tu (戒和同修), kiến hòa đồng giải (見和同解) và lợi hòa đồng quân (利和同均).
 

 

 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.