Viện Nghiên Cứu Phật Học

134. KINH ĐẾ-THÍCH THƯA HỎI1


Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa ở phía Đông thành Vương Xá, thuộc nước Makiệt-đà, ngụ trong động đá Nhân-đà-la,2 trên núi Tỳ-đà-đề,3 phía Bắc thôn Nại Lâm.4

Bấy giờ, Thiên vương Thích5 nghe Phật du hóa tại phía Đông thành Vương Xá, nước Ma-kiệt-đà, ngụ trong động đá Nhân-đà-la, trên núi Tỳ-đà-đề, phía Bắc thôn Nại Lâm, liền bảo nhạc thần Ngũ Kết6 rằng:

– Ta nghe đức Thế Tôn du hóa tại phía Đông thành Vương Xá, nước Makiệt-đà, ngụ trong động đá Nhân-đà-la, trên núi Tỳ-đà-đề, phía Bắc thôn Nại Lâm. Này Ngũ Kết! Ông hãy cùng ta đến thăm hỏi đức Thế Tôn.

[0633a05] Ngũ Kết thưa:

– Xin vâng! Bấy giờ, nhạc thần Ngũ Kết ôm đàn lưu ly7 đi theo Thiên vương Thích. Thiên chúng ở cõi trời Ba Mươi Ba nghe Thiên vương Thích rất khao khát muốn gặp Phật, họ cũng muốn cùng đi. Bấy giờ, trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay, Thiên vương Thích cùng thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba và nhạc thần Ngũ Kết ẩn thân từ cõi trời Ba Mươi Ba rồi hiện ra ở phía Đông thành Vương Xá, nước Ma-kiệt-đà, trên núi Tỳ-đà-đề, phía Bắc thôn Nại Lâm, cách động đá không xa.

Lúc ấy, núi Tỳ-đà-đề sáng chói rực rỡ, như lửa đang cháy. Dân chúng ở xung quanh núi thấy vậy, nghĩ rằng: “Núi Tỳ-đà-đề bị lửa cháy khắp nơi.”

Bấy giờ, sau khi đã dừng trụ ở một nơi, Thiên vương Thích bảo:

– Này Ngũ Kết! Đức Thế Tôn là như vậy, Ngài thường ngụ nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú dưới gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Ngài có oai đức lớn. Chư thiên cũng ưa thích đời sống ấy, cũng thích hạnh viễn ly, tĩnh toạ nơi an ổn, sống trong hân hoan. Chúng ta chưa báo trước, không nên tự tiện đến thăm. Này Ngũ Kết! Ông hãy đi đến trình bạch với Như Lai trước, sau đó chúng ta hãy đến thăm.

Nhạc thần Ngũ Kết thưa:

– Xin vâng!

Sau khi vâng lời dạy của Thiên vương Thích, Ngũ Kết liền ôm đàn lưu ly đi trước đến động đá Nhân-đà-la, rồi nghĩ rằng: “Nơi này cách Phật không gần cũng không xa nên Phật có thể biết được và nghe được âm thanh của ta.”

Khi đã đứng ở một nơi, Ngũ Kết gảy đàn lưu ly và hát lên những khúc ca nói về tình yêu, nói về rồng, nói về Sa-môn và nói về A-la-hán8 như vầy:

Hiền nương ơi!9
Ta lễ cha mẹ nàng,
Đam-phù-lâu cha nàng,10
Sanh ra nàng tuyệt sắc,
Khiến lòng ta ngất ngây.
Như nóng mong gió mát,
Như khát mong nước lạnh,
Cũng vậy, ta yêu nàng,
Như La-hán yêu Pháp.
Giữ dòng nước khó thay,
Lụy tình cũng như vậy,
Muôn kiếp được sum vầy,
Như cúng dường Vô Trước.
Ao nước trong và mát,
Dưới đáy có cát vàng,
Như voi chúa nóng bức,
Xuống ao, tắm mặc tình.
Như voi bị dẫn đi,
Lòng ta, nàng ngự trị,
Tơ tưởng, nàng chẳng hay,
Sâu nặng mà chưa thành.
Lòng ta ngập bóng nàng,
Muộn phiền đốt tâm ta,
Đời ta còn gì vui,
Như người vào miệng cọp.
Như Thích tử tu thiền,
Thường vui với nhất tâm,
Như Mâu-ni đắc đạo,
Ta được nàng, cũng thế!
An lạc của Mâu-ni,
Khi chứng Vô thượng giác,
Hạnh phúc ta cũng vậy,
Khi cầu mong được nàng.
Như người bệnh được thuốc,
Như kẻ đói được ăn,
Nàng ngự ở lòng ta,
Như nước dập tắt lửa.
Nếu ta có tạo phước,
Nhờ cúng dường Vô Trước,
Phước ấy rất nhiệm mầu,
Xin cùng nàng chung hưởng.
Nguyện cùng nàng trọn kiếp,
Không xa rời phút giây,
Ta vì nàng cùng chết,
Không sống riêng thân này.
Đế-thích, tối Tôn thiên,
Và thiên chúng cao quý,
Hiện khởi sự nguyện cầu,
Kiên cố trong lời nguyện.
Kính lễ đấng Đại Hùng,
Tối thượng giữa nhân gian,
Dứt trừ gai ân ái,
Con lạy đấng Nhật Thân.11

[0633b22] Bấy giờ, đức Thế Tôn xuất định, khen ngợi nhạc thần Ngũ Kết:

– Lành thay, lành thay! Này Ngũ Kết! Lời ca của ông hòa điệu cùng với tiếng đàn, tiếng đàn hòa điệu cùng lời ca. Lời ca không vượt khỏi tiếng đàn, tiếng đàn không vượt khỏi lời ca. Này Ngũ Kết! Ông có nhớ thuở xưa, ông đã ca ngâm kệ tụng liên quan đến tình yêu, liên quan đến rồng, liên quan đến Samôn, liên quan đến A-la-hán này chăng?

Nhạc thần Ngũ Kết thưa:

– Bạch Thế Tôn! Mong Đại Tiên Nhân12 biết cho! Bạch Đại Tiên Nhân! Ngày xưa, khi Thế Tôn mới thành đạo, Ngài ở tại Uất-tì-la,13 bên bờ sông Niliên-thiền,14 bên gốc cây A-xà-hòa-la Ni-câu-loại.15 Bấy giờ, có người con gái của Nhạc vương Đam-phù-lâu16 tên là Hiền Nguyệt Sắc17 và có một Thiên thần tên là Kết,18 con trai của người đánh xe Ma-đâu-lệ, đang yêu người con gái kia. Bạch Đại Tiên Nhân! Vị ấy đang yêu nàng Hiền Nguyệt Sắc và con cũng yêu nàng ta. Thế nhưng, bạch Đại Tiên Nhân! Khi ấy con muốn yêu nàng Hiền Nguyệt Sắc mà không thể được. Bấy giờ, con đứng sau người con gái ấy mà ca ngâm bài kệ liên quan đến tình yêu, liên quan đến rồng, liên quan đến Sa-môn, liên quan đến A-la-hán.

Bạch Đại Tiên Nhân! Khi con đang ca ngâm bài kệ này thì người con gái ấy đã quay lại nhìn, mỉm cười hàm tiếu rồi nói với con: “Này Ngũ Kết! Tôi chưa từng gặp Thế Tôn, nhưng tôi đã được nghe từ các vị trời Ba Mươi Ba về đức Thế Tôn, đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngũ Kết! Nếu ông có thể nhiều lần ca ngợi Thế Tôn thì có thể cùng với tôi đồng thờ kính bậc Đại Tiên Nhân!” Con chỉ được gặp nàng một lần duy nhất và kể từ đó trở về sau chưa từng gặp lại.

[0633c12] Bấy giờ, Thiên vương Thích nghĩ: “Nhạc thần Ngũ Kết đã làm cho Thế Tôn xuất định, đã trình bạch ta lên với Thiện Thệ” nên nói:

– Ngũ Kết! Ông đến nơi ấy thay ta đảnh lễ sát chân Phật và thăm hỏi đức Thế Tôn rằng: “Bạch Đại Tiên Nhân! Thánh thể Ngài có khỏe mạnh, có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Bạch Đại Tiên Nhân! Thiên vương Thích và thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba muốn đến thăm Thế Tôn.”

Nhạc thần Ngũ Kết thưa:

– Xin vâng!

Khi ấy, nhạc thần Ngũ Kết đặt đàn lưu ly xuống, chắp tay hướng Phật rồi thưa:

– Bạch Thế Tôn! Kính Đại Tiên Nhân! Thiên vương Thích xin đảnh lễ dưới chân Ngài, thăm hỏi Thế Tôn: “Thánh thể có mạnh khỏe, có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường không? Bạch Đại Tiên Nhân! Thiên vương Thích và thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba muốn đến thăm Thế Tôn.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo:

– Này Ngũ Kết! Mong cho Thiên vương Thích được an ổn hân hoan. Mong cho chư thiên, loài người, a-tu-la, càn-thát-bà, la-sát và tất cả các loài chúng sanh khác đều được an ổn, hân hoan. Này Ngũ Kết! Thiên vương Thích muốn đến thăm viếng Như Lai thì hãy tùy ý.

Nhạc thần Ngũ Kết nghe Phật dạy xong, khéo léo thọ trì, lạy sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra về, trở lại chỗ Thiên vương Thích và thưa:

– Tâu Thiên vương! Thần đã bạch với Thế Tôn. Thế Tôn hiện giờ đang đợi Thiên vương. Mong Thiên vương hãy đi cho kịp lúc!

[0634a02] Bấy giờ, Thiên vương Thích cùng thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba và Ngũ Kết đi đến chỗ Phật. Thiên vương Thích cúi lạy sát chân Phật rồi ba lần tự xưng tên họ rằng:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Con là Thiên vương Thích, con là Thiên vương Thích.

Đức Thế Tôn bảo:

– Đúng như vậy, đúng như vậy! Này Câu-dực,19 ông chính làThiên vương Thích!

Thiên vương Thích ba lần tự xưng tên họ, đảnh lễ chân Phật rồi đứng sang một bên. Thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba và nhạc thần Ngũ Kết cũng cúi lạy chân Phật rồi đứng sang một bên. Khi ấy, Thiên vương Thích thưa:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Con nên ngồi gần Ngài hay ngồi cách xa?

Đức Thế Tôn dạy:

– Ông hãy ngồi gần Như Lai. Vì sao như vậy? Vì ông còn có thiên chúng quyến thuộc nữa.

Bấy giờ, Thiên vương Thích cúi lạy chân Phật rồi ngồi sang một bên. Thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba và nhạc thần Ngũ Kết cũng cúi lạy chân Phật rồi ngồi sang một bên. Lúc ấy, động đá Nhân-đà-la bỗng nhiên rộng lớn. Vì sao như vậy? Vì nhờ oai thần của Phật và oai đức của chư thiên. Thiên vương Thích sau khi ngồi xuống, thưa rằng:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Đã từ lâu con muốn đến thăm Thế Tôn, muốn thưa hỏi về giáo pháp. Bạch Đại Tiên Nhân! Xưa kia, một thời Thế Tôn du hóa tại nước Xá-vệ, ngụ trong động đá. Bạch Đại Tiên Nhân! Lúc đó con và thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba, cưỡi xe nghìn thớt voi20 đến nhà của Đại vương Tỳ- sa-môn.21 Đại vương Tỳ-sa-môn có người thiếp tên Bàn-xà-na.22 Bấy giờ, Thế Tôn đang nhập định, yên lặng tịch nhiên. Người thiếp chắp tay cúi lạy sát chân Thế Tôn. Bạch Đại Tiên Nhân! Con nói với Bàn-xà-na rằng: “Này hiền muội! Bây giờ không phải là lúc ta đến thăm Thế Tôn. Đức Thế Tôn đang nhập định. Khi nào Thế Tôn xuất định, hiền muội hãy thay ta đảnh lễ Thế Tôn và thăm hỏi rằng: ‘Thánh thể Thế Tôn có khỏe mạnh, có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường không?’ Rồi thưa như vầy: ‘Bạch Đại Tiên Nhân! Thiên vương Thích đảnh lễ chân Phật và thăm hỏi rằng: Thánh thể Thế Tôn có khỏe mạnh, có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường không?’” Bạch Đại Tiên Nhân! Hiền muội ấy có thay mặt con đảnh lễ chân Phật và thăm hỏi Thế Tôn. Ngài có nhớ chăng?

Đức Thế Tôn bảo:

– Này Câu-dực! Hiền muội ấy có thay ông đảnh lễ và cũng nói lại đầy đủ ý ông muốn thăm hỏi. Ta có nhớ việc ấy. Này Câu-dực! Khi ông đi về, Ta nghe tiếng xe lăn liền xuất định.

– Bạch Thế Tôn! Thuở xưa, con có nghe rằng khi đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn thị hiện ở đời thì thiên chúng được tăng lên và chúng a-tu-la giảm thiểu.

Bạch Đại Tiên Nhân! Chính mắt con trông thấy Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn theo Ngài tu tập Phạm hạnh, xả dục, lìa dục, sau khi qua đời được đến cõi lành, sanh lên cõi trời.

Bạch Đại Tiên Nhân! Có người con gái thuộc dòng họ Thích tên là Cù-tỳ23 là đệ tử của Thế Tôn cũng theo Ngài tu tập Phạm hạnh, chán ghét thân nữ, ưa thích thân nam, đã chuyển thân nữ thành thân nam, xả dục, lìa dục, sau khi qua đời được sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba, làm con của con. Khi cô này thọ sanh, chư thiên đều biết và gọi là thiên tử Cù-bà.24 Thiên tử Cù-bà có như ý túc lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và có oai thần lớn.

[0634b10] Bạch Đại Tiên Nhân! Con lại thấy có ba vị Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn cũng theo Ngài tu tập Phạm hạnh, nhưng không xa lìa dục, sau khi qua đời, họ sanh vào trong cung Kỹ Nhạc25 thấp kém. Từ khi thọ sanh, mỗi ngày họ phải đến cõi trời Ba Mươi Ba để cung phụng chư thiên, hầu hạ thiên tử Cù-bà. Thiên tử thấy họ rồi liền nói kệ:

Tên ta là Cù-tỳ,
 Đệ tử đấng Pháp Nhãn,26
Phụng kính Phật và Pháp,
Tịnh tâm thờ Tăng-già.
Ta đã nhờ ân Phật,
Con Phật phước đức lớn,
Sanh trời Ba Mươi Ba,
Chư thiên đều biết rõ.
Các ông vốn Tỳ-kheo,
Thọ sanh thần kỹ nhạc,
Chắp tay đứng trước mặt,
Cù-bà nói kệ cho!
Khi ta ở nhân gian,
Đệ tử đức Cù-đàm,
Các ông đến nhà ta,
Thọ cúng dường mỹ mãn.
Ông vốn là Thánh chúng,
Hành vô thượng Phạm hạnh,
Nay lại để người sai,
Hằng ngày kính phụng trời.
Xưa ta hầu hạ ông,
Cùng nghe pháp Như Lai,
Được tín, thành tựu giới,
Sanh trời Ba Mươi Ba.
Ông vốn được tôn kính,
Hành vô thượng Phạm hạnh,
Nay lại để người sai,
Hằng ngày kính phụng trời.
Mặt của ông để đâu,
Đã thọ trì Phật pháp,
Lại quay lưng với Pháp,
Pháp, Phật khéo chỉ bày?
Xưa ta hầu các vị,
Nay các vị thấp kém,
Sanh vào chốn nhạc thần,
Là do hành phi pháp.
Xem ta, xưa tại gia,
Mà nay đức thù thắng,
Chuyển nữ thành Thiên tử,
Hưởng năm dục mặc tình.
Đệ tử Phật bị mắng,
Buồn bã rồi khen Phật,
Chúng ta27 hãy cố gắng,
Thiên tử nói không sai.
Hai trong số siêng năng,
Nhớ Pháp, Luật Cù-đàm,
Biết dục là tai họa,
Liền lìa bỏ dục tham.
Họ bị dục trói buộc,
Nay ngay đó liền buông,
Như voi bứt dây xích,
Vượt cõi Ba Mươi Ba.
Nhân-đà-la, thiên, Phạm,
Tất cả đều nhóm họp,
Rằng kia vượt bảo tòa,
Dõng mãnh xả trần dục.
Đế-thích thấy vậy buồn,
Thắng thiên28 trời trong trời,
Kẻ kia vốn thấp kém,
Nay vượt Ba Mươi Ba.
Buồn chán rồi tấm tắc,
Cù-bà nói lời sau:
Nhân gian có Đại Giác,
Đấng Mâu-ni thắng dục.29
Con Ngài do lãng quên,
Ta quở trách, lại được,
Một trong ba vị kia,
Sanh làm thần kỹ nhạc,
Hai vị được giải thoát,30
Ngụ trời vui định căn,31
Người nói pháp như thế,
Đệ tử không mê hoặc.
Vượt lậu, đoạn tà nghi,
Lễ Phật thắng phục căn,32
Bởi vì rõ các pháp,
Hai vị được tiến thăng.
Từ chỗ thăng tiến ấy,
Sanh vào cõi Phạm thiên,
Chúng con biết pháp ấy,
Nên đến đây, Đại Tiên!

Bấy giờ, đức Thế Tôn nghĩ: “Vị Dạ-xoa33 này chất trực, không dua nịnh, không dối trá, cũng không huyễn hoặc. Nếu ông ta có hỏi là thật sự muốn biết, chứ không phải muốn xúc nhiễu, những điều muốn hỏi cũng lại như vậy. Ta hãy nói A-tỳ-đàm34 sâu xa cho Dạ-xoa nghe.” Đức Thế Tôn biết như vậy rồi, liền vì Thiên vương Thích mà nói kệ:

Vì an lạc đời này,
Và an lạc đời sau,
Câu-dực tùy nghi hỏi,
Theo những điều ưa thích,
Hỏi việc này, việc kia,
Ta giãi bày hết thảy.
Thế Tôn đã thuận tình,
Để Nhật thiên cầu nghĩa,
Tại nước Ma-kiệt-đà,
Hiền Bà-sa-bà hỏi.35

[0635a07] Bấy giờ, Thiên vương Thích thưa:

– Bạch Thế Tôn! Các hàng trời, người, a-tu-la, càn-thát-bà, la-sát và các chủng loại khác, mỗi loại có bao nhiêu thứ trói buộc?36

Đức Thế Tôn nghe xong, đáp:

– Này Câu-dực! Các hàng trời, người, a-tu-la, càn-thát-bà, la-sát và các chủng loại khác, mỗi loại đều có hai thứ trói buộc, đó là bỏn xẻn và ganh tị. Mỗi chủng loại ấy đều nghĩ rằng: “Mong sao ta không dùng gậy gộc, không gây thù kết oán, không sân hận, không đấu tranh, không thống khổ, sống trong an lạc.” Họ tuy nghĩ như vậy, nhưng vẫn dùng gậy gộc, vẫn có gây thù kết oán, vẫn có sân hận, vẫn có đấu tranh, vẫn có thống khổ chứ không sống trong sự an lạc.

Thiên vương Thích nghe thế, thưa rằng:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Các hàng trời, người, a-tu-la, càn-thátbà, la-sát và các chủng loại khác, mỗi loại đều có hai thứ trói buộc. Họ nghĩ rằng: “Mong sao ta không dùng gậy gộc, không gây thù kết oán, không sân hận, không đấu tranh, không thống khổ, sống trong an lạc.” Tuy họ nghĩ như vậy nhưng vẫn dùng gậy gộc, vẫn có gây thù kết oán, vẫn có sân hận, vẫn có đấu tranh, vẫn có thống khổ chứ không sống trong sự an lạc. Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật giảng nói, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Bỏn xẻn, ganh tị do nhân gì, duyên gì, từ đâu mà sanh ra, do đâu mà có, lại do nhân nào để không có bỏn xẻn và ganh tị?

Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Bỏn xẻn và ganh tị nhân nơi yêu thích và không yêu thích,37 duyên nơi yêu thích và không yêu thích, từ nơi yêu thích và không yêu thích mà sanh ra, do yêu thích và không yêu thích mà có. Nếu không có yêu thích và không có ghét bỏ thì không có bỏn xẻn và ganh tị.

Thiên vương Thích nghe xong, thưa rằng:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Bỏn xẻn và ganh tị nhân nơi yêu thích và không yêu thích, duyên nơi yêu thích và không yêu thích, từ nơi yêu thích và không yêu thích sanh ra, do yêu thích và không yêu thích mà có.

Nếu không có yêu thích và không có ghét bỏ thì không có bỏn xẻn và ganh tị. Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không có do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

[0635b03] Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Yêu thích và không yêu thích là do nhân gì, duyên gì, từ đâu phát sanh, do đâu mà có, lại do nhân nào để không có yêu ghét?

Đức Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Yêu ghét nhân nơi tham dục, duyên nơi tham dục, từ tham dục mà phát sanh, do tham dục mà có. Nếu không tham dục thì không có yêu ghét.

Thiên vương Thích nghe xong, thưa rằng:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Yêu thích và không yêu thích nhân nơi tham dục, duyên nơi tham dục, từ tham dục mà phát sanh, do tham dục mà có. Nếu không có tham dục liền không có yêu ghét. Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Tham dục do nhân gì, duyên gì, từ đâu mà sanh, do đâu mà có, do nhân nào để không có tham dục?

Đức Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Tham dục là nhân nơi niệm38 và duyên nơi niệm, từ niệm mà phát sanh, do niệm mà có. Nếu không có niệm thì không có tham dục.

Thiên vương Thích nghe thế, thưa rằng:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Tham dục là nhân nơi niệm và duyên nơi niệm, từ nơi niệm mà phát sanh, do nơi niệm mà có. Nếu không có niệm thì không có tham dục. Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Niệm do nhân gì, duyên gì, từ đâu mà sanh, do đâu mà có, lại do nhân nào để không có niệm?

Nghe như vậy rồi, Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Niệm nhân nơi tư duy và duyên nơi tư duy, từ tư duy mà phát sanh, do tư duy mà có. Nếu không có tư duy thì không có niệm. Do niệm mà có tham dục, do tham dục mà có yêu ghét, do yêu ghét mà có bỏn xẻn và ganh tị, do bỏn xẻn và ganh tị mà sanh ra dao gậy, đấu tranh, thù nghịch, dua nịnh, gian lận, nói dối, nói hai chiều, trong tâm sanh ra vô lượng pháp xấu ác, bất thiện. Cứ như vậy mà sanh ra khối lớn thuần khổ đau như thế.

Nếu không có tư duy thì không có niệm, nếu không có niệm thì không có tham dục, nếu không có tham dục thì không có yêu ghét, nếu không có yêu ghét thì không có bỏn xẻn và ganh tị, nếu không có bỏn xẻn và ganh tị thì không có dao gậy, đấu tranh, thù nghịch, dua nịnh, gian lận, nói dối, nói hai chiều, trong tâm không sanh ra vô lượng pháp xấu ác, bất thiện. Như vậy, sẽ diệt trừ khối lớn thuần khổ đau như thế.

[0635c05] Thiên vương Thích nghe xong, thưa rằng:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Niệm nhân nơi tư duy, duyên nơi tư duy, từ tư duy mà phát sanh, do tư duy mà có. Nếu không có tư duy thì không có niệm. Do niệm nên có tham dục, do tham dục nên có yêu ghét, do yêu ghét nên có bỏn xẻn và ganh tị, do bỏn xẻn và ganh tị nên có dao gậy, đấu tranh, thù nghịch, dua nịnh, gian lận, nói dối, nói hai chiều, trong tâm sanh ra vô lượng pháp xấu ác, bất thiện. Như vậy sẽ sanh ra khối lớn thuần khổ đau như thế.

Nếu không có tư duy thì không có niệm, nếu không có niệm thì không có tham dục, nếu không có tham dục thì không có yêu ghét, nếu không có yêu ghét thì không có bỏn xẻn và ganh tị, nếu không có bỏn xẻn và ganh tị thì không có dao gậy, đấu tranh, thù nghịch, dua nịnh, gian lận, nói dối, nói hai chiều. Trong tâm không sanh ra vô lượng pháp xấu ác, bất thiện. Như vậy, sẽ diệt trừ khối lớn thuần khổ đau như thế.

Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Thế nào là con đường diệt trừ hý luận?39 Tỳ-kheo thực hành như thế nào để hướng đến con đường diệt trừ hý luận?

Đức Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Con đường diệt trừ hý luận là Thánh đạo tám chi. Đó là chánh kiến,... (cho đến) chánh định. Này Câu-dực! Đó là con đường diệt trừ hý luận. Tỳ-kheo thực hành như vậy để hướng đến con đường diệt trừ hý luận.

Thiên vương Thích nghe xong, thưa rằng:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Con đường diệt trừ hý luận là Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến,... (cho đến) chánh định. Bạch Đại Tiên Nhân! Đó là con đường diệt trừ hý luận. Tỳ-kheo thực hành như vậy để hướng đến con đường diệt trừ hý luận. Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

[0636a01] Rồi Thiên vương Thích lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Tỳ-kheo hướng đến con đường diệt trừ hý luận, phải đoạn bao nhiêu pháp và thực hành bao nhiêu pháp?

Nghe như vậy rồi, Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Tỳ-kheo hướng đến con đường diệt trừ hý luận phải đoạn ba pháp và tu hành ba pháp. Là ba pháp nào? Một là niệm tưởng.40 Hai là lời nói. Ba là tìm cầu.41

Này Câu-dực! Về niệm tưởng, Như Lai nói có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành.42 Với niệm tưởng không nên thực hành thì Ta liền đoạn trừ, với niệm tưởng cần nên thực hành thì Ta biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác43 để thành tựu loại niệm tưởng này. Về lời nói thì cũng như thế.

Này Câu-dực! Về tìm cầu,44 Như Lai nói cũng có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Với loại tìm cầu không nên thực hành thì Ta liền đoạn trừ, với loại tìm cầu cần nên thực hành thì Ta biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại tìm cầu này.

Thiên vương Thích nghe xong, thưa:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Tỳ-kheo hướng đến con đường diệt trừ hý luận thì phải đoạn ba pháp, tu hành ba pháp. Là ba pháp nào? Một là niệm tưởng. Hai là lời nói. Ba là tìm cầu. Đại Tiên Nhân nói niệm tưởng có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Nếu niệm tưởng tăng trưởng pháp xấu ác, pháp bất thiện và suy giảm pháp thiện thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu niệm tưởng làm suy giảm pháp xấu ác, pháp bất thiện và tăng trưởng pháp thiện thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại niệm tưởng này. Về lời nói thì cũng như vậy.

Đại Tiên Nhân đã nói tìm cầu cũng có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Nếu loại tìm cầu tăng trưởng pháp xấu ác, pháp bất thiện và làm suy giảm pháp thiện thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu loại tìm cầu làm suy giảm pháp xấu ác, pháp bất thiện và tăng trưởng pháp thiện thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại tìm cầu này.

Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Tỳ-kheo hướng đến con đường diệt trừ hý luận thì có bao nhiêu pháp và để thủ hộ Tùng giải thoát45 thì cần thực hành bao nhiêu pháp?

Đức Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Tỳ-kheo hướng đến con đường diệt trừ hý luận có sáu pháp, để thủ hộ Tùng giải thoát cần thực hành sáu pháp. Sáu pháp đó là gì? Đó là mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm nhận xúc và ý biết pháp.

Này Câu-dực! Đối với mắt thấy sắc, Như Lai nói có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Với loại mắt thấy sắc không nên thực hành thì Ta liền đoạn trừ, với loại mắt thấy sắc nên thực hành thì Ta biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại mắt thấy sắc này

Cũng như thế, đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm nhận xúc và ý biết pháp, Như Lai nói mỗi pháp cũng đều có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Đối với loại ý biết pháp không nên thực hành thì Ta liền đoạn trừ, với loại ý biết pháp nên thực hành thì Ta biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại ý biết pháp này.

[0636b07] Thiên vương Thích nghe xong, thưa:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Tỳ-kheo hướng đến con đường diệt trừ hý luận có sáu pháp và để thủ hộ Tùng giải thoát cần thực hành sáu pháp. Sáu pháp đó là gì? Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm nhận xúc và ý biết pháp. Đại Tiên Nhân đã nói mắt thấy sắc có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Nếu loại mắt thấy sắc mà tăng trưởng pháp xấu ác, pháp bất thiện và làm suy giảm pháp thiện thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu loại mắt thấy sắc làm suy giảm pháp xấu ác, pháp bất thiện và làm tăng trưởng pháp thiện thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại mắt thấy sắc này. Cũng như thế, đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm nhận xúc và ý biết pháp, Đại Tiên Nhân đã nói ý biết pháp cũng có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Nếu loại ý biết pháp làm tăng trưởng pháp xấu ác, pháp bất thiện và làm suy giảm pháp thiện thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu loại ý biết pháp mà làm suy giảm pháp xấu ác, pháp bất thiện và tăng trưởng pháp thiện thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại ý biết pháp này.

Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Tỳ-kheo hướng đến con đường diệt trừ hý luận khi thân mạng chỉ còn tồn tại trong một khoảnh khắc thì phải đoạn bao nhiêu pháp và tu hành bao nhiêu pháp?

Đức Thế Tôn dạy:

– Này Câu-dực! Tỳ-kheo hướng đến con đường diệt trừ hý luận khi thân mạng chỉ còn tồn tại trong một khoảnh khắc, lại cũng phải đoạn ba pháp và tu hành ba pháp. Ba pháp ấy là gì? Một là hỷ, hai là ưu, ba là xả.46

Này Câu-dực! Về hỷ, Như Lai nói có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Với hỷ không nên thực hành thì Ta liền đoạn trừ. Với hỷ nên thực hành thì Ta biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại hỷ này. Về ưu thì cũng như thế. Này Câu-dực! Về xả, Như Lai nói cũng có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Với xả không nên thực hành thì Ta liền đoạn trừ. Với xả nên thực hành thì Ta biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại xả này.

[0636c04] Thiên vương Thích nghe xong, thưa:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Tỳ-kheo hướng đến con đường diệt trừ hý luận, khi thân mạng chỉ còn tồn tại trong một khoảnh khắc thì phải đoạn trừ ba pháp và thực hành ba pháp. Ba pháp ấy là gì? Một là hỷ. Hai là ưu. Ba là xả. Đại Tiên Nhân đã nói hỷ có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Với hỷ làm tăng trưởng pháp xấu ác, pháp bất thiện và suy giảm pháp thiện thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Với hỷ làm suy giảm pháp xấu ác, pháp bất thiện và tăng trưởng pháp thiện thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu loại hỷ này. Về ưu thì cũng như thế. Đại Tiên Nhân đã nói về xả cũng có hai loại: Loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Nếu xả làm tăng trưởng pháp xấu ác, pháp bất thiện và làm suy giảm pháp thiện thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu xả làm suy giảm pháp xấu ác, pháp bất thiện và tăng trưởng pháp thiện thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào thực hành, có chánh niệm, có tỉnh giác để thành tựu xả.

Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Có phải tất cả Sa-môn và Phạm chí đều đồng một quan điểm, một mong cầu, một yêu thích, một an lạc và đồng một ý hướng chăng?47

Nghe xong, đức Phật dạy:

– Này Câu-dực! Tất cả Sa-môn và Phạm chí không đồng một quan điểm, một mong cầu, một yêu thích, một an lạc và một ý hướng.

Thiên vương Thích lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Tất cả Sa-môn và Phạm chí vì lý do gì mà không đồng một quan điểm, một mong cầu, một yêu thích, một an lạc và một ý hướng?

Đức Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Thế giới này có nhiều chủng loại giới, có vô lượng giới,48 vị ấy tùy theo giới loại mà mình biết được, rồi ở nơi giới loại ấy, tùy theo năng lực và phương tiện của mình, vị ấy chủ trương một chiều rằng: “Đây là chân thật, ngoài ra đều hư dối.” Này Câu-dực! Thế nên, tất cả Sa-môn và Phạm chí không đồng một quan điểm, một mong cầu, một yêu thích, một an lạc và một ý hướng.

Thiên vương Thích nghe xong, thưa:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Thế giới này có nhiều chủng loại giới, có vô lượng giới; vị ấy tùy theo giới loại mà mình biết được, rồi ở nơi giới loại ấy, tùy theo năng lực và phương tiện của mình, vị ấy chủ trương một chiều rằng: “Đây là chân thật, ngoài ra đều hư dối” Bạch Đại Tiên Nhân! Vì thế mà tất cả Sa-môn và Phạm chí không đồng một quan điểm, một mong cầu, một yêu thích, một an lạc và một ý hướng.

Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

[0637a06] Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Có phải tất cả Sa-môn và Phạm chí đều đạt đến cứu cánh, cứu cánh thanh tịnh, cứu cánh Phạm hạnh, thành tựu cứu cánh Phạm hạnh chăng?

Đức Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Không hẳn là tất cả Sa-môn và Phạm chí đều đạt đến cứu cánh, cứu cánh thanh tịnh, cứu cánh Phạm hạnh và thành tựu cứu cánh Phạm hạnh.

Thiên vương Thích thưa:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Vì lý do gì mà không hẳn là tất cả Sa-môn và Phạm chí đều đạt đến cứu cánh, cứu cánh thanh tịnh, cứu cánh Phạm hạnh và thành tựu cứu cánh Phạm hạnh?

Đức Thế Tôn đáp:

– Này Câu-dực! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào chưa đoạn sạch ái dục, tâm chưa khéo giải thoát hoàn toàn49 thì vị ấy không đạt đến cứu cánh, không đạt cứu cánh thanh tịnh, không đạt cứu cánh Phạm hạnh và không thành tựu cứu cánh Phạm hạnh.

Này Câu-dực! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào đoạn sạch ái dục, tâm được khéo giải thoát hoàn toàn50 thì vị ấy đạt đến cứu cánh, cứu cánh thanh tịnh, cứu cánh Phạm hạnh và thành tựu cứu cánh Phạm hạnh.

Thiên vương Thích thưa:

– Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào chưa đoạn sạch ái dục, tâm chưa khéo giải thoát hoàn toàn thì vị ấy không đạt đến cứu cánh, không đạt cứu cánh thanh tịnh, không đạt cứu cánh Phạm hạnh và không thành tựu cứu cánh Phạm hạnh. Bạch Đại Tiên Nhân! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào đã đoạn sạch ái dục, tâm được khéo giải thoát hoàn toàn thì vị ấy đạt đến cứu cánh, cứu cánh thanh tịnh, cứu cánh Phạm hạnh và thành tựu cứu cánh Phạm hạnh.

Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Thật đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Theo pháp mà Phật giảng nói, con liền hiểu rõ. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc, không còn do dự nhờ nghe những điều Phật dạy.

Thiên vương Thích sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Con từ xưa đến nay bị châm chích bởi gai nhọn nghi hoặc, ngày nay được Thế Tôn nhổ ra. Vì sao như vậy? Vì Như Lai là bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.

Nghe xong, Thế Tôn hỏi:

– Này Câu-dực! Nhớ lại thuở xưa, ông đã từng hỏi Sa-môn, Phạm chí việc như thế chăng?

 

[0637b02] Thiên vương Thích đáp:

– Bạch Thế Tôn! Mong Đại Tiên Nhân biết cho. Bạch Đại Tiên Nhân! Thiên chúng cõi Ba Mươi Ba tập hợp tại pháp đường đều buồn bã u sầu, thường than thở rằng: “Chúng ta nếu được gặp đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thì quyết sẽ đến thăm hỏi.” Bạch Đại Tiên Nhân! Thế nhưng chúng con không gặp được đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, liền hưởng thụ đầy đủ năm thứ dục.

Bạch Đại Tiên Nhân! Chúng con đã buông lung. Sau khi sống buông lung, vị Thiên tử có oai đức lớn ở nơi cực diệu lập tức qua đời. Bạch Đại Tiên Nhân! Khi con thấy vị Thiên tử oai đức lớn ở nơi cực diệu qua đời, trong tâm con chán nản vô cùng, rùng mình sợ hãi, nghĩ rằng: “Cầu mong ta ở nơi này không mạng chung mau chóng như vậy!”

Bạch Đại Tiên Nhân!

Do sự chán nản này, nhân sự lo buồn này mà con tìm đến các vị Sa-môn, Phạm chí sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú dưới gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận ngồi yên. Vị này ưa hạnh viễn ly, tĩnh tọa an ổn, sống trong hân hoan. Sau khi thấy vị ấy sống như vậy, con cho rằng đây là đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, liền đến thăm hỏi. Vị ấy không biết con nên hỏi rằng:

“Ông là ai?” Lúc đó, con trả lời:

“Bạch Đại Tiên Nhân! Con là Thiên vương Thích. Bạch Đại Tiên Nhân! Con là Thiên vương Thích.”

Vị ấy lại hỏi:

“Ta từng thấy Thích và cũng thấy chủng tánh Thích. Vì lý do gì gọi là Thích? Vì lý do gì gọi là chủng tánh Thích?”

Con liền đáp:

“Bạch Đại Tiên Nhân! Nếu có ai đến hỏi con việc gì, con liền tùy khả năng, tùy sức mình51 mà trả lời cho họ, thế nên con được gọi là Thích.”

Vị ấy lại nói:

“Ta tùy theo việc mà hỏi Thích. Thích cũng tùy theo việc mà đáp lại ta.

” Vị ấy hỏi việc con, nhưng con không hỏi việc vị ấy. Vị ấy quy mạng con, nhưng con không quy mạng vị ấy. Bạch Đại Tiên Nhân! Từ nơi Sa-môn, Phạm chí kia hoàn toàn không có oai nghi lễ nghĩa thì làm sao con hỏi chuyện như trên được?

Bấy giờ, Thiên vương Thích nói kệ rằng:

Thích52 xưa kia đã qua,
Thích nay nói thế này:
Phải lìa tâm lo nghĩ,
Trừ do dự, các nghi.53
Từ lâu đi trong đời,
Tìm cầu với Như Lai,
Thấy Sa-môn, Phạm chí,
Tĩnh tọa nơi viễn ly,
Nghĩ là bậc Chánh Giác,
Đến kính lễ, phụng vì.
“Làm sao được thăng tiến?”
Như vậy, con hỏi Ngài,
Hỏi rồi, vẫn chưa tỏ,
Thánh đạo và Đạo tích.54
Thế Tôn nay vì con,
Lòng có những điều nghi,
Lo nghĩ và suy xét,
Cùng hoạt động của ý,
Biết tâm ẩn và hiện,
Vì thương con, Phật dạy.
Tôn Phật đấng Đạo sư,
Tôn Vô Trước Mâu-ni,
Bậc đoạn trừ kiết sử,
Tự độ và độ người.
Đệ nhất hàng giác ngộ,
Tối thượng hàng Tự điều,
Tối diệu hàng Tịch tĩnh,
Bậc độ mình, độ người.
Nên con lễ Đại Hùng,
Kính phụng Tối Thượng Nhân,
Bậc sạch gai ân ái,
Kính lạy đấng Nhật Thân.

 

[0637c13] Bấy giờ, Thế Tôn lại hỏi:

– Này Câu-dực! Ông có nhớ thuở xưa, được xả ly như vậy, được hoan hỷ như vậy là do nương nơi Như Lai mà được pháp hỷ chăng?

Thiên vương Thích thưa:

– Bạch Thế Tôn! Mong Đại Tiên Nhân biết cho. Bạch Đại Tiên Nhân! Thuở xưa, có lần chư thiên và a-tu-la giao tranh với nhau. Bạch Đại Tiên Nhân! Khi chư thiên và a-tu-la đánh nhau, con nghĩ rằng: “Mong chư thiên thắng, phá tan chúng a-tu-la. Thực phẩm của chư thiên và thực phẩm a-tu-la hãy để hết cho cõi trời Ba Mươi Ba thọ dụng.”

Bạch Đại Tiên Nhân! Khi chư thiên đánh nhau với a-tu-la, chư thiên đắc thắng, phá tan chúng a-tu-la. Thực phẩm của chư thiên và thực phẩm của a-tula, tất cả đều được thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba thọ dụng. Bạch Đại Tiên Nhân! Bấy giờ, chúng trời ở đây có ly, có hỷ, nhưng xen lẫn dao gậy, oán kết, đấu tranh, thù nghịch, không có thần thông, không được con đường giác ngộ, cũng không được Niết-bàn. Bạch Đại Tiên Nhân! Ngày nay, chúng trời ở đây được ly, được hỷ, không xen lẫn dao gậy, oán kết, đấu tranh, thù nghịch, được thần thông, được con đường giác ngộ và cũng được Niết-bàn.

Đức Thế Tôn hỏi:

– Này Câu-dực! Do đâu ông được ly, được hỷ? Do nương nơi Như Lai mà được pháp hỷ chăng?

Thiên vương Thích đáp:

– Bạch Đại Tiên Nhân! Con nghĩ rằng: “Ta qua đời ở đây, rồi sẽ thọ sanh nơi nhân gian, vào những dòng tộc giàu sang phú quý, tiền của, vật nuôi, sản nghiệp nhiều không thể tính được, phong hộ thực ấp thảy đều đầy đủ; hoặc sanh vào chủng tộc trưởng giả Sát-lợi, chủng tộc trưởng giả Phạm chí, chủng tộc trưởng giả Cư sĩ cho đến những chủng tộc khác giàu sang phú quý, của cải, vật nuôi, sản nghiệp nhiều không thể tính được, phong hộ thực ấp thảy đều đầy đủ. Sau khi sanh vào những chủng tộc như thế, con sẽ thành tựu các căn, có tín tâm đối với giáo pháp mà đức Như Lai giảng thuyết. Sau khi có tín tâm, con liền cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Con học trí và sau khi học trí xong, nếu thành tựu trí, con liền chứng đắc Trí cứu cánh, đạt đến tận cùng cứu cánh. Nếu học trí và sau khi học trí xong được thành tựu trí mà không thành tựu Trí cứu cánh thì nếu có cõi trời nào được phước đức lớn, với sắc tướng uy nghi chói sáng rực rỡ, oai lực mạnh mẽ, an ổn hân hoan, trụ vững nơi cung điện, sanh nơi tối thượng thì con sanh vào cõi ấy.

[0638a09] Bấy giờ, Thiên vương Thích nói kệ:

 

Xả bỏ thân cõi trời,
Sanh xuống chốn nhân gian,
Vào thai không ngu muội,
Nơi con thích thọ sanh.
Khi thân hình toàn mãn,
Theo chánh đạo tu hành,
Được đầy đủ Phạm hạnh,
Nương khất thực an vui.

Nếu học trí và sau khi học trí được thành tựu trí, lại chứng đắc Trí cứu cánh thì sẽ đạt đến tận cùng cứu cánh. Nếu học trí và sau khi học trí được thành tựu trí mà không chứng đắc Trí cứu cánh thì sẽ làm vị trời tối thượng diệu, chư thiên đều nghe danh; đây là cõi trời Sắc Cứu Cánh,55 con sẽ sanh vào đó. Bạch Đại Tiên Nhân! Con mong sẽ chứng đắc A-na-hàm. Bạch Đại Tiên Nhân! Vì hôm nay chắc chắn con đã chứng đắc Tu-đà-hoàn.

Đức Thế Tôn hỏi:

– Này Câu-dực! Do đâu mà ông có được sự thù thắng56 cực cao, cực rộng, cực kỳ tốt đẹp như thế để có thể tự nói là đã chứng đắc Tu-đà-hoàn?

Bấy giờ, Thiên vương Thích dùng kệ đáp:

Không tôn kính ai khác,
Ngoài cảnh giới Thế Tôn,
Chứng vô thượng thù thắng,
Cõi này thật chưa từng.
Đại Tiên! Con ngồi đây,
Ngay với thân trời này,
Tuổi thọ liền tăng trội,
Thấy như vậy, Thế Tôn!

Khi Phật nói pháp này, Thiên vương Thích xa lìa trần cấu, đạt được cái thấy như thật đối với các pháp. Tám vạn thiên chúng cũng được xa lìa trần cấu, đạt được cái thấy như thật đối với các pháp. Thiên vương Thích thấy pháp, đắc pháp, ngộ pháp thanh tịnh, đoạn trừ nghi hoặc, thoát khỏi mê lầm, không thờ ai khác, không theo ai khác, không còn do dự, đã trụ quả chứng, nơi pháp Thế Tôn được Vô sở úy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lạy sát chân Phật và thưa:

– Bạch Thế Tôn! Hôm nay con nguyện quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, ngưỡng mong Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc. Kể từ hôm nay, con nguyện quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo cho đến lúc lâm chung!

[0638b04] Rồi Thiên vương Thích ngợi khen nhạc thần Ngũ Kết rằng:

– Lành thay, lành thay! Này Ngũ Kết! Khanh đã giúp ích cho ta rất nhiều. Vì sao như vậy? Vì nhờ khanh mà Phật xuất định, trước hết là nhờ khanh mà Thế Tôn xuất định, sau đó giúp chúng ta được gặp Ngài. Này Ngũ Kết! Sau khi từ đây trở về, ta sẽ đem Hiền Nguyệt Sắc, con gái của Nhạc vương Đam-phù- lâu gả cho khanh và đem quốc thành của Nhạc vương ấy trao cho khanh, phong tặng khanh làm vua kỹ nhạc.57

Thiên vương Thích lại bảo thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba:

– Các khanh hãy đến đây! Nếu như trước kia, chúng ta thường cung kính lễ bái Phạm thiên vương trên cõi Phạm thiên thì từ nay, tất cả chúng ta sẽ cung kính lễ bái, hầu hạ Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì Thế Tôn là Phạm thiên, là vị Phạm thiên sẽ tạo tác và biến hóa ra những bậc Tối Tôn, những chúng sanh đã sanh, những chúng sanh đang có và sẽ có, những gì Phạm thiên biết thì Thế Tôn đều biết hết; những gì Phạm thiên có thể thấy, Thế Tôn đều thấy cả.

Bấy giờ, trước kia, Thiên vương Thích, thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba và nhạc thần Ngũ Kết thường cung kính lễ bái, hầu hạ Phạm thiên trên cõi trời Phạm thì nay họ đều hướng sự cung kính lễ bái, hầu hạ ấy đến đức Thế Tôn và cúi đầu trước đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.

Thiên vương Thích, thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba và nhạc thần Ngũ Kết lại cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn, cúi đầu lễ sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi liền ẩn thân, không còn ở đây nữa.

Bấy giờ, Phạm thiên với sắc tướng uy nghi, sáng chói rực rỡ, vào lúc trời gần sáng, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Phật rồi đứng sang một bên, dùng kệ bạch Thế Tôn:

 

Làm nhiều điều lợi lạc,
Bày lợi ích cho trời,
Bà-sa-bà thưa hỏi,
Khi Phật ngụ Kiệt-đà.58

Khi Đại Tiên Nhân nói pháp này, Thiên vương Thích xa lìa trần cấu, đạt được cái thấy như thật đối với các pháp. Tám vạn thiên chúng cũng xa lìa trần cấu, đạt được cái thấy như thật đối với các pháp. Bấy giờ, Thế Tôn bảo Phạm thiên:

– Quả như vậy! Quả như vậy! Đúng như Phạm thiên đã nói:

Làm nhiều điều lợi lạc,
Bày lợi ích cho trời,
Bà-sa-bà thưa hỏi,
Khi Phật ngụ Kiệt-đà.

[0638c01] Này Phạm thiên! Khi Ta nói pháp, Thiên vương Thích xa lìa trần cấu, đạt được cái thấy như thật đối với các pháp. Tám vạn thiên chúng cũng xa lìa trần cấu, đạt được cái thấy như thật đối với các pháp.

Đức Phật giảng nói như vậy, sau khi nghe Phật dạy xong, Thiên vương Thích, thiên chúng cõi trời Ba Mươi Ba, nhạc thần Ngũ Kết và Đại Phạm thiên đều hoan hỷ phụng hành.

Ghi chú

1 Quyển 33. Nguyên tác: Thích vấn kinh 釋問經 (T.01. 0026.134. 0632c27). Tham chiếu: Thích-đề- hoàn-nhân vấn kinh 釋提桓因問經 (T.01. 0001.14. 0062b29); Đế-thích sở vấn kinh 帝釋所問經 (T.01. 0015. 0246b03); Tạp Bảo tạng kinh 雜寶藏經 (T.04. 0203.73. 0476a17-0478b08); D. 21, Sakkapañha Sutta (Kinh Đế-thích sở vấn).
2 Nhân-đà-la thạch thất (因陀羅石室) cũng viết là Nhân-đà-sa-la quật (因陀娑羅窟). D. 21: Indasāla gūha.
3 Bệ-đà-đề (鞞陀提) cũng viết là Tỳ-đà sơn (毘陀山). D. 21: Vediyaka.
4 Nại Lâm (奈林) cũng viết là Am-bà-la (菴婆羅). D. 21: Ambasaṇḍā.
5 Nguyên tác: Thiên vương Thích (天王釋), cũng viết là Thiên Đế-thích (天帝釋). D. 21: Sakka devānaṃ inda. 6 Nguyên tác: Ngũ Kết nhạc tử (五結樂子). Ngũ Kết là một nhạc thần, còn có tên là Ban-giá-dực (般遮翼).
7 Lưu ly cầm (琉璃琴, beluvapaṇḍuvīṇā), một loại nhạc khí, nguyên là của Māra.
8 Nguyên tác: Dục, Long, Sa-môn, A-la-ha tương ưng kệ (欲,龍,沙門,阿羅訶相應偈). D. 21: Buddhūpasaṃhitā dhammūpasaṃhitā saṅghūpasaṃhitā arahantūpasaṃhitā kāmūpasaṃhitā (nói về Phật, về Pháp, về Tăng, về A-la-hán và về dục).
9 Nguyên tác: Hiền (賢). DĀ. 14 ghi là Bạt-đà (跋陀, Bhaddā), nghĩa đen là người con gái hiền thục và đó cũng là tên người con gái của Timbaru, Chấp Nhạc Thiên Vương.
10 Nguyên tác: Nguyệt cập Đam-phù-lâu (月及耽浮樓). Nguyệt (月) ở đây cũng là cách gọi khác chỉ cho người con của Đam-phù-lâu, gọi đủ là Hiền Nguyệt Sắc (賢月色). Đam-phù-lâu (耽浮樓) phiên âm của Timbaru.
11 Nguyên tác: Nhật Chi Thân (日之親, Ādiccabandhu): Dòng Họ Mặt Trời, chỉ cho đức Thế Tôn. Theo Sn. 72: Dòng Họ Thuộc Mặt Trời, sinh tộc là Thích-ca (HT. Thích Minh Châu dịch).
12 Đại Tiên Nhân (大仙人, Mahesi) chỉ cho đức Phật.
13 Uất-tỳ-la (鬱鞞羅, Uruvela), tên thôn nằm bên bờ sông Ni-liên-thiền (Nerañjanā).
14 Ni-liên-thiền hà (尼連禪河, Nerañjanā), chi lưu của sông Hằng, gần chỗ Phật thành đạo.
15 A-xà-hòa-la Ni-câu-loại (阿闍惒羅尼拘類, Ajapāla Nigrodha): Cội cây Bồ-đề.
16 Đam-phù-lâu Nhạc vương (耽浮樓樂王, Timbaru Gandhabba rāja), vua càn-thát-bà tên là Timbaru, là vị Nhạc vương.
17 Hiền Nguyệt Sắc (賢月色). D. 21: Bhaddā Suriya vaccasā (nàng Bhaddā lộng lẫy như mặt trăng), đúng ra là mặt trời, tức Suriya.
18 Nguyên tác: Thiên danh Kết Ma-đâu-lệ ngự xa tử (天名結摩兜麗御車子). DĀ. 14: Thi-hán-đà Thiên đại tướng tử (尸漢陀天大將子); D. 21: Sikhaṇḍī nāma mātalissa saṅgāhakassa putto (vốn là con trai của thần đánh xe Mātali).
19 Câu-dực (拘翼). Theo Nhất thiết kinh âm nghĩa 一切經音義 (T.54. 2128.12. 0377a04), đây là cách phiên âm đặc dị của Kosiya, cũng gọi là Kiêu-thi-ca (驕尸迦), tên gọi khác của Thiên Đế-thích. SĀ. 1106 giải thích: Thích-đề-hoàn-nhân xưa kia khi còn làm người, là người của dòng tộc Kiêu-thi. Do nhân duyên này nên Thích-đề-hoàn-nhân còn gọi là Kiêu-thi-ca (彼釋提桓因本為人時, 為憍尸族 姓 人, 以是因緣故, 彼釋提桓因復名憍尸迦).
20 Nguyên tác: Thiên tượng xa (千象車). Tham chiếu: DĀ. 14: Thiên bức bảo xa (千輻寶車), là cỗ xe báu có bánh xe ngàn căm.
21 Tỳ-sa-môn (鞞沙門, Vessavaṇa) còn gọi là Đa Văn Thiên vương, đứng đầu trong Tứ Đại Thiên vương.
22 Bàn-xà-na (槃闍那, Bhuñjatī), vợ của Tỳ-sa-môn Thiên vương. Theo DA. III. 705, nàng Bhuñjatī đã thành tựu quả vị Tư-đà-hàm.
23 Cù-tỳ Thích nữ (瞿毗釋女, Gopikā nāma Sakya dhitā).
24 Cù-bà thiên tử (瞿婆天子, Gopako devaputto).
25 Kỹ nhạc cung (伎樂宫, Gandhabbakāya): Ban nhạc của Thiên Đế-thích.
26 Nguyên tác: Dữ nhãn Ưu-bà-tư (與眼優婆私). D. 21: Upāsikā cakkhumato ahosi (tôi là nữ đệ tử của bậc Có Mắt).
27 Tự xưng của những thiên tử bị Cù-bà mắng.
28 Thắng thiên (勝天) chỉ cho Thiên chủ Đế-thích. D. 21: Devābhibhū.
29 Nguyên tác: Tri dục (知欲). D. 21: Kāmābhibhū (vị đã chinh phục mọi dục vọng).
30 Nguyên tác: Nhị thành đẳng chánh đạo (二成等正道): Hai vị này tu tập và được giải thoát.
31 Nguyên tác: Tại thiên định căn lạc (在天定根樂): Vui trong định căn (samādhindriya) ở cõi trời.
32 Thắng phục căn (勝伏根): Bậc điều phục các căn.
33 Nguyên tác: Thử quỷ (此鬼, ayaṃ yakkho): Con quỷ [dạ-xoa] này, mỹ từ tôn xưng.
34 Nguyên tác: A-tỳ-đàm (阿毘曇), nghĩa ban đầu là giải thích, phân tích những điều mà Như Lai đã chỉ dạy, giải thích kinh điển, tức Vi diệu pháp.
35 Bà-sa-bà (婆娑婆, Vāsava), một tên gọi khác của Thiên chủ Đế-thích. S. 11.12 - I. 229 giải thích: Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được tên là Vāsavo (HT. Thích Minh Châu dịch).
36 Kiết (結, samyojana) còn gọi là kiết sử, là tên gọi khác của phiền não. Kiết có nghĩa là trói buộc. Vì phiền não trói buộc chúng sinh khiến không thoát ly sinh tử nên gọi là “kiết.”
37 Nguyên tác: Ái bất ái (愛不愛, piyāppiya). DĀ. 14: Yêu và ghét (愛憎).
38 Niệm (念). DĀ. 14 gọi là “tưởng” (想), ái do tưởng sinh (愛由想生), cũng thường viết là “tầm” (尋, vitakka).
39 Nguyên tác: Diệt hý đạo tích (滅戲道跡). D. 21: Papañca saññā saṅkhā nirodha gāmini patipadā (Thực hành hay tu tập dẫn đến chỗ diệt trừ hý luận, vọng tưởng). Tham chiếu: Phật thuyết Nghĩa túc kinh 佛說義足經 (T.04. 0198.1. 0181c14): Bởi tưởng là gốc rễ của mọi hý luận đem tới nhiều đau khổ (因想本戲隨苦), (HT. Thích Nhất Hạnh dịch).
40 Niệm (念), cách gọi khác của “tưởng” (想, saññā), đôi khi được viết thành “niệm tưởng” (念想).
41 Nhất viết niệm, nhị viết ngôn, tam viết cầu (一曰念, 二曰言, 三曰求). DĀ. 14: Nhất giả khẩu, nhị giả tưởng, tam giả cầu (一者口, 二者想, 三者求).
42 Khả hành, bất khả hành (可行, 不可行). Tham chiếu: M. 19: Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm.” Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai (HT. Thích Minh Châu dịch).
43 Nguyên tác: Hữu niệm, hữu trí (有念有智), còn được viết là “chánh tri, chánh niệm” (正知正念); “chánh niệm, chánh trí” (正念正智).
44 Nguyên tác: Cầu (求), viết tắt của “tầm cầu” (尋求, vitakka), tức sự suy tư.
45 Tùng giải thoát (從解脫), tên gọi khác của Biệt giải thoát (別解脫) hay Ba-la-đề-mộc-xoa (波羅底 木叉). P. Pāṭimokkha.
46 Hỷ, ưu, xả (喜, 憂, 捨). D. 21: Somanassa, domanassa, upekkha.
47 Nguyên tác: Đồng nhất thuyết, đồng nhất dục, đồng nhất ái, đồng nhất lạc, đồng nhất ý (同一說, 同 一欲, 同一愛, 同一樂, 同一意). D. 21: Ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekanta-ajjhosānā ti?
(Đồng một chủ thuyết, đồng một giới đức, đồng một ước muốn, đồng một chí hướng).
48 Hữu vô lượng giới (有無量界). D. 21: Anekadhātu nānādhātu (vô số giới loại sai biệt).
49 Nguyên tác: Ái tận bất chánh thiện tâm giải thoát (愛盡不正善心解脫). Xem giải thích ở chú thích tiếp theo.
50 Nguyên tác: Ái tận chánh thiện tâm giải thoát (愛盡正善心解脫). Tham chiếu: SĀ. 552: Ái tận giải thoát, tâm chánh thiện giải thoát (愛盡解脫, 心正善解脫). Ở 2 bản kinh vừa dẫn này, chánh (正) được trực dịch từ sammā, có nghĩa là chân chánh và cũng có nghĩa là hoàn toàn. Xem thêm Tăng. 增 (T.02. 0125.19.3. 0593c13): Đoạn ư ái dục tâm đắc giải thoát (斷於愛欲心得解脫). D. 21: Taṇhāsaṅkhaya vimutta (Ái tận giải thoát, hay giải thoát do diệt tận khát ái).
51 Nguyên tác: Tùy sở năng, tùy kỳ lực (隨所能, 隨其力). Định nghĩa từ Sakka, phiên âm là Thích (釋), nghĩa đen là “khả năng.” Xem thêm D. 3: Các hoàng tử thật là những Sākya (cứng như lõi cây sồi), các hoàng tử thật là những Sākya xuất chúng (HT. Thích Minh Châu dịch).
52 Viết tắt của Thiên Đế-thích.
53 Tham chiếu: D. 21: Apariyositasaṅkappo vicikiccho kathaṃkathī (tâm tư không thỏa mãn, nghi ngờ và do dự), HT. Thích Minh Châu dịch.
54 Đạo tích (道迹, paṭipadā): Phương tiện hay phương pháp tu tập để đạt đến mục đích tối hậu. Tham chiếu: Châu-na kinh 周那經 (T.01. 0026.196. 0753b28): Con đường tu tập và lộ trình tu tập (因道, 因道迹); M.104: Magge vā hi, ānanda, paṭipadāya vā saṅghe vivādo uppajjamāno uppajjeyya (NàyĀnanda, sự tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng về con đường (magga) hay về đường hướng tu hành (paṭipadā)), HT.Thích Minh Châu dịch.
55 Sắc Cứu Cánh thiên (色究竟天, Akaniṭṭha). DĀ. 14 viết là A-ca-ni-trá (阿迦尼吒).
56 Nguyên tác: Sai giáng (差降), chỉ cho sự sai biệt (差別), đặc chất (特質), đồng nghĩa với thù thắng. D. 21: Viseso, là đặc thù.
57 Nguyên tác: Kỹ nhạc vương (伎樂王), tức Càn-thát-bà vương.
58 Nguyên tác: Ma-kiệt quốc (摩竭國): Nước Ma-kiệt-đà (Magadha).

 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.