Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa giữa dân chúng Bà-kỳ, ngụ tại vườn Nai, trong rừng Sợ Hãi, thuộc núi Cá Sấu.2
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đang trông coi việc xây dựng thiền thất của đức Phật.3 Lúc Tôn giả đang kinh hành trên khoảng đất trống thì Ma vương hóa thân thật nhỏ chui vào bụng ngài. Khi ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nghĩ như vầy: “Hình như ta nuốt phải hạt đậu vào bụng. Ta hãy nhập định quán sát,4 bằng sức định ấy mà nhìn vào bụng xem.” Nghĩ rồi Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đi đến cuối đường kinh hành, trải tọa cụ, ngồi kiết-già và nhập định quán sát. Vận dụng sức định nhìn vào bụng, ngài thấy Ma vương đang ở trong đó. Tôn giả liền xuất định và bảo Ma vương:
– Này Ba-tuần, ông hãy đi ra! Này Ba-tuần, ông hãy ra mau! Chớ có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải sanh vào nơi xấu ác, chịu vô lượng khổ.
Khi ấy, Ma vương liền nghĩ: “Sa-môn này không thấy, không biết, thế mà lại nói: ‘Này Ba-tuần, ông hãy đi ra! Này Ba-tuần, ông hãy ra mau! Chớ có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải sanh vào nơi xấu ác, chịu vô lượng khổ.’ Tôn sư của ông có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn, có oai lực lớn mà vẫn không thể thấy nhanh chóng, biết nhanh chóng như vậy, huống nữa ông là đệ tử mà thấy biết được sao?”
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên lại bảo Ma vương:
– Ta lại biết ý nghĩ của ông, ông nghĩ như vầy: “Sa-môn này không thấy, không biết, thế mà lại nói: ‘Này Ba-tuần, ông hãy đi ra! Này Ba-tuần, ông hãy ra mau! Chớ có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ có xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải sanh vào nơi xấu ác, chịu vô lượng khổ.’ Tôn sư của ông có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn, có oai lực lớn mà vẫn không thể thấy nhanh chóng, biết nhanh chóng như vậy, huống nữa ông là đệ tử mà thấy biết được sao?”
[0620c04] Ma Ba-tuần kia lại nghĩ: “Sa-môn này đã thấy và biết cả tâm ta nên mới nói như vậy.” Nghĩ rồi, Ma Ba-tuần hóa thân thật nhỏ từ trong miệng vọt ra, đứng trước mặt Tôn giả Đại Mục-kiền-liên.
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên bảo:
– Này Ba-tuần! Xưa kia, vào thuở đức Phật Giác-lịch-câu-tuân-đại,5 bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, ta đã làm ma tên là Ác.6 Ta có người em gái tên là Hắc.7 Ngươi chính là con trai của Hắc. Này Ba-tuần! Vì lẽ đó cho nên bấy giờ ông là cháu gọi ta bằng cậu.
Này Ba-tuần! Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác có hai đệ tử lớn tên là Âm8 và Tưởng.9 Này Ba-tuần! Do ý nghĩa nào mà có tên gọi là Âm? Này Ba-tuần! Tôn giả đó lúc sống trên cõi trời Phạm thiên, tiếng nói của ngài vang xa cả nghìn thế giới, lại không có một đệ tử nào có âm thanh ngang bằng hoặc tương tự, hoặc hơn ngài. Này Ba-tuần! Vì lẽ ấy cho nên Tôn giả đó có tên gọi là Âm.
Này Ba-tuần! Lại do ý nghĩa nào mà Tôn giả Tưởng có tên là Tưởng? Này Ba-tuần! Tôn giả Tưởng này nương nơi thôn ấp mà hành đạo. Khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả ấy đắp y, ôm bát vào thôn ấp khất thực, cẩn thận thủ hộ thân, khéo thu nhiếp các căn, giữ vững chánh niệm. Sau khi khất thực và thọ thực xong, vào xế trưa, Tôn giả thu dọn y bát, rửa tay chân, vắt tọa cụ trên vai, tìm nơi thanh vắng, hoặc đến bên gốc cây, trong rừng sâu, nơi thanh tịnh yên tĩnh, trải tọa cụ, ngồi kiết-già và nhập định Diệt tưởng tri10 một cách mau chóng. Một hôm, những người chăn trâu, chăn dê, người đi lấy củi, người đi đường vào trong rừng núi thấy ngài đang nhập định Diệt tưởng tri, họ liền nghĩ: “Sa-môn này ngồi mà qua đời nơi khu rừng vắng. Chúng ta hãy nhặt củi và cỏ khô chất phủ lên thân Ngài rồi hỏa thiêu.” Nghĩ vậy, họ liền nhặt củi và cỏ chất phủ lên thân ngài, châm lửa đốt rồi bỏ đi. Khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Tưởng xuất định, phủi y phục rồi đắp y, ôm bát vào thôn ấp khất thực, như thường lệ. Tôn giả khéo giữ gìn thân, thu nhiếp các căn, giữ vững chánh niệm. Những người chăn trâu, chăn dê, người đi lấy củi hoặc người đi đường đã gặp Tôn giả trong rừng núi ngày hôm qua, họ liền nghĩ: “Đây là Sa-môn ngồi mà qua đời trong khu rừng vắng. Hôm qua chúng ta đã nhặt củi và cỏ khô chất phủ lên thân ngài, châm lửa đốt rồi bỏ đi. Thế nhưng Hiền giả này vẫn còn có tưởng.” Này Ba-tuần! Vì lẽ đó cho nên Tôn giả ấy có tên là Tưởng.
[0621a05] Này Ba-tuần! Bấy giờ, Ác ma nghĩ rằng: “Sa-môn trọc đầu này bị trói buộc vào nơi đen tối,11 đoạn dứt nòi giống, không có con cái. Kẻ ấy học thiền, quán sát đối tượng, quán sát sâu đối tượng và nhiều lần quán sát sâu đối tượng.12 Giống như con lừa suốt ngày mang nặng, bị cột trong chuồng, không được ăn lúa mạch, nó sẽ nhớ lúa mạch nên tìm kiếm, cố tìm kiếm, nhiều phen tìm kiếm. Cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị trói buộc vào nơi đen tối, đoạn dứt giống nòi, không có con cái. Kẻ ấy học thiền, quán sát đối tượng, quán sát sâu đối tượng và nhiều lần quán sát sâu đối tượng. Giống như con mèo ngồi rình bên hang chuột, vì muốn bắt chuột nên nó rình rập, rình rập chăm chăm, rình rập đau đáu. Cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị trói buộc vào nơi đen tối, đoạn dứt giống nòi, không có con cái. Kẻ ấy học thiền, quán sát đối tượng, quán sát sâu đối tượng và nhiều lần quán sát sâu đối tượng. Cũng giống như con cú mèo ở giữa đống củi khô, vì muốn bắt chuột nên nó rình rập, rình rập chăm chăm, rình rập đau đáu. Cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị trói buộc vào nơi đen tối, đoạn dứt giống nòi, không có con cái. Kẻ ấy học thiền, quán sát đối tượng, quán sát sâu đối tượng và nhiều lần quán sát sâu đối tượng. Lại giống như con chim hạc bên bờ nước, vì muốn bắt cá nên nó rình rập, rình rập chăm chăm, rình rập đau đáu. Cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị trói buộc vào nơi đen tối, đoạn dứt giống nòi, không có con cái. Kẻ ấy học thiền, quán sát đối tượng, quán sát sâu đối tượng và nhiều lần quán sát sâu đối tượng.
Kẻ ấy quán sát cái gì? Quán sát với mục đích gì? Quán sát để mong cầu gì? Kẻ ấy loạn trí, phát cuồng, bại hoại. Ta chẳng biết kẻ ấy từ đâu đến, cũng chẳng biết kẻ ấy đi về đâu, chẳng biết kẻ ấy sống ở đâu, chẳng biết kẻ ấy chết như thế nào, sanh như thế nào. Ta hãy xúi giục các cư sĩ và Phạm chí rằng: ‘Các ông hãy đến mắng chửi, đánh đập Sa-môn tinh tấn kia.’ Vì sao như vậy? Vì khi bị mắng chửi, đánh đập, biết đâu kẻ ấy sẽ khởi tâm ác để ta thừa cơ lợi dụng.”
Này Ba-tuần! Lúc ấy, Ác ma liền xúi các cư sĩ và Phạm chí. Các cư sĩ và Phạm chí ấy mắng chửi, đánh đập Sa-môn tinh tấn. Các cư sĩ và Phạm chí ấy dùng cây đánh hoặc lấy đá ném hoặc vác gậy đập khiến đầu của Sa-môn tinh tấn bị thương, y áo rách bươm, bình bát bể sứt. Bấy giờ, các cư sĩ và Phạm chí nếu có người qua đời, do nhân duyên này nên sau khi lâm chung phải đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Sanh vào đó rồi, họ suy nghĩ như vầy: “Ta phải chịu nổi khổ này, lại phải nhận chịu đau khổ hơn nữa. Vì sao như vậy? Vì chúng ta đã đối xử tàn ác với Sa-môn tinh tấn.”
[0621b02] Này Ba-tuần! Đệ tử của đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác với đầu thương tích, y áo rách bươm, bình bát bể sứt, đi đến chỗ Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Bấy giờ, đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đang thuyết pháp với vô lượng trăm nghìn quyến thuộc vây quanh. Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trông thấy đệ tử với đầu thương tích, y áo rách bươm, bình bát bể sứt từ xa đi đến, liền bảo các Tỳ-kheo: “Các thầy có thấy chăng? Ác ma đã xúi giục Phạm chí và cư sĩ rằng: ‘Các ông hãy đến mắng chửi, đánh đập Sa-môn tinh tấn. Vì sao như vậy? Vì khi bị mắng chửi, đánh đập, biết đâu kẻ ấy sẽ khởi tâm ác để ta dễ dàng lợi dụng.’ Này các Tỳ-kheo! Các thầy hãy vận dụng tâm tương ưng với từ, lan tỏa khắp một phương, thành tựu và an trụ. Cũng như vậy, đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới, lan tỏa trùm khắp, tâm tương ưng với từ, không gây thù kết oán, không sân hận não hại, rộng lớn bao la, khéo tu vô lượng, đầy khắp cả thế gian, thành tựu và an trụ. Đối với bi, hỷ và xả cũng thế, tâm đều tương ưng, không gây thù kết oán, không sân hận não hại, rộng lớn bao la, khéo tu vô lượng, đầy khắp cả thế gian, thành tựu và an trụ, khiến Ác ma không thể lợi dụng.”
Này Ba-tuần! Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã dạy đệ tử giáo pháp như vậy. Họ liền lãnh thọ giáo pháp ấy, tâm tương ưng với từ, lan tỏa khắp một phương, thành tựu và an trụ. Cũng như vậy, đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới đều lan tỏa trùm khắp, tâm tương ưng với từ, không gây thù kết oán, không sân hận não hại, rộng lớn bao la, khéo tu vô lượng, đầy khắp cả thế gian, thành tựu và an trụ. Đối với bi, hỷ và xả cũng thế, tâm đều tương ưng, không gây thù kết oán, không sân hận não hại, rộng lớn bao la, khéo tu vô lượng, đầy khắp cả thế gian, thành tựu và an trụ. Với tâm như vậy thì Ác ma kia không thể lợi dụng được.
Này Ba-tuần! Lúc đó, Ác ma lại nghĩ: “Bằng sự việc ấy, ta muốn lợi dụng Sa-môn tinh tấn mà không thể được. Bây giờ, ta hãy xúi giục các cư sĩ và Phạm chí rằng: ‘Các ông hãy đến cung kính, cúng dường, lễ bái hầu hạ Sa-môn tinh tấn.’ Có thể nhờ sự cung kính, cúng dường, lễ bái hầu hạ mà Sa-môn tinh tấn sẽ khởi tâm xấu ác để ta dễ dàng lợi dụng.’” Này Ba-tuần! Các cư sĩ và Phạm chí kia, sau khi bị Ác ma xúi giục, liền đến cung kính, cúng dường, lễ bái hầu hạ Sa-môn tinh tấn. Họ lấy áo trải lên mặt đất và nói: “Xin Sa-môn tinh tấn hãy giẫm lên áo mà đi! Sa-môn tinh tấn thường làm những việc khó làm, khiến chúng tôi luôn được ý nghĩa và lợi ích, được an ổn và hân hoan.” Hoặc có cư sĩ, Phạm chí trải tóc lên mặt đất rồi nói: “Xin Sa-môn tinh tấn hãy giẫm lên tóc mà đi! Sa-môn tinh tấn thường làm những việc khó làm, khiến cho chúng tôi luôn được ý nghĩa và lợi ích, được an ổn và hân hoan.” Hoặc có cư sĩ, Phạm chí tay bưng các loại thức ăn đứng bên đường chờ đợi và nói: “Xin Sa-môn tinh tấn hãy nhận thức ăn này, xin cứ mang đi và tùy ý thọ dụng, khiến chúng tôi luôn được ý nghĩa và lợi ích, được an ổn và hân hoan.” Các cư sĩ, Phạm chí thành tín thấy Sa-môn tinh tấn thì cung kính đón rước vào nhà, đem nhiều loại tài vật ra cúng dường Sa-môn tinh tấn và nói: “Xin hãy thọ nhận vật này, xin hãy thọ dụng vật kia, xin hãy mang vật nọ đi mà tùy ý thọ dụng.” Bấy giờ, các cư sĩ và Phạm chí nếu có người qua đời, do nhân duyên này nên sau khi lâm chung được đi đến cõi lành, sanh lên cõi trời. Sau khi sanh lên đó, họ liền nghĩ: “Ta đang thọ hưởng sự vui sướng này, lại sẽ thọ hưởng sự vui sướng hơn nữa. Vì sao như vậy? Vì chúng ta đã làm các hạnh lành với Sa-môn tinh tấn.”
[0621c16] Này Ba-tuần! Đệ tử của đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác sau khi được cung kính, cúng dường, lễ bái hầu hạ thì đi đến chỗ đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh giác. Lúc đó, đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đang thuyết pháp với vô lượng trăm nghìn đệ tử vây quanh. Khi đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thấy đệ tử được cung kính, cúng dường, lễ bái hầu hạ, đang từ xa đi đến, liền bảo các Tỳ-kheo:
– Các thầy có thấy chăng? Ác ma xúi giục các cư sĩ, Phạm chí rằng: “Các ông hãy đến cung kính, cúng dường lễ bái hầu hạ Sa-môn tinh tấn. Có thể do sự cung kính, cúng dường, lễ bái hầu hạ mà Sa-môn tinh tấn khởi tâm xấu ác thì ta sẽ dễ dàng lợi dụng.” Này Tỳ-kheo! Các thầy hãy quán các hành vô thường, quán pháp thịnh suy, quán vô dục, quán xả ly, quán diệt tận và quán đoạn trừ, khiến Ác ma không thể lợi dụng.
Này Ba-tuần! Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã dạy cho đệ tử giáo pháp như vậy. Họ liền thọ lãnh giáo pháp ấy, rồi quán các hành vô thường, quán pháp thịnh suy, quán vô dục, quán xả ly, quán diệt tận và quán đoạn trừ, khiến cho Ác ma không thể lợi dụng.
[0622a01] Này Ba-tuần! Lúc đó Ác ma liền nghĩ: “Với những việc ấy, ta muốn lợi dụng Sa-môn tinh tấn mà không thể được. Ta hãy biến hóa thành một thiếu niên, tay cầm cây gậy lớn đứng bên đường để đánh vỡ đầu Tôn giả Âm, khiến máu chảy ướt cả mặt Tôn giả ấy.” Này Ba-tuần! Về sau, đức Giác-lịchcâu-tuân-đại Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đang du hành trong thôn ấp. Khi đêm đã qua, trời vừa hừng sáng, Ngài đắp y, ôm bát vào trong thôn xóm khất thực. Tôn giả Âm theo hầu phía sau Ngài. Này Ba-tuần! Lúc ấy Ác ma biến hóa làm một thiếu niên, tay cầm một cây gậy lớn đứng bên đường rồi đánh vỡ đầu Tôn giả Âm, khiến máu chảy ướt cả mặt Tôn giả ấy. Này Batuần! Sau khi bị vỡ đầu chảy máu, Tôn giả Âm vẫn đi theo sau đức Giác-lịchcâu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác như bóng không rời. Này Ba-tuần! Sau khi vào thôn ấp, đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, bằng sức cực mạnh của bản thân, xoay nhìn về bên phải giống như cái nhìn của một voi chúa, không hề sợ hãi, không chút khiếp sợ, quán sát khắp mọi phía. Này Ba-tuần! Đức Giác-lịch-câu-tuân- đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác nhìn thấy đầu của Tôn giả Âm bị chảy máu ướt cả mặt nhưng vẫn đi theo sau Phật như bóng không rời, Ngài liền nói: “Ác ma hung bạo này có nhiều oai lực, nhưng ác ma này không biết đủ.” Này Ba-tuần! Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác nói chưa dứt lời thì Ác ma này đã bị đọa vào địa ngục lớn Vô Khuyết.13 Này Ba-tuần! Đại địa ngục này có bốn14 tên gọi: Một là Vô Khuyết, hai là Bách Đinh, ba là Nghịch Thích và bốn là Lục Cánh. Lính ngục trong địa ngục lớn đó đến chỗ ở của Ác ma và nói: “Ông nên biết, nếu dùng đinh đóng cùng các hình thức khác hợp lại, phải biết hết cả trăm năm.”
Nghe như vậy rồi, Ma Ba-tuần trong lòng kinh hãi, khiếp sợ vô cùng, rúng động toàn thân, liền hướng đến Tôn giả Đại Mục-kiền-liên rồi dùng kệ hỏi:
Địa ngục kia thế nào,
Xưa Ác ma ở đó,
Vì nhiễu hại hạnh Phật,
Và xúc phạm Tỳ-kheo?
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên dùng kệ đáp lại Ma Ba-tuần:
Địa ngục tên Vô Khuyết,
Ác ma từng ở đây,
Vì nhiễu hại hạnh Phật,
Và xúc phạm Tỳ-kheo.
Đinh sắt có cả trăm,
Hết thảy đều đâm ngược,
Địa ngục tên Vô Khuyết,
Ác ma từng ở đây.
Nếu như ai không biết,
Đệ tử Phật, Tỳ-kheo,
Ắt chịu khổ như vậy,
Vì nghiệp báo xấu này.
Vô số loại vườn, lầu,
Người được ở trong ấy,
Ăn gạo lúa tự nhiên,
Hưởng đời sống Bắc châu.15
Vách núi Đại Tu-di,
Xông ướp bởi nhân lành,16
Tu tập pháp giải thoát,
Thọ thân cuối cùng này.
Đứng vững trên suối lớn,
Cung điện trụ bền lâu,
Sắc vàng thật khả ái,
Như lửa rực huy hoàng.
Nhạc trời cùng hòa điệu,
Đến Đế-thích thiên cung,
Kiếp xưa với nhà cửa,
Thiện Giác Vương cúng dường.17
Nếu Đế-thích đi trước,
Lên điện Tỳ-xà-diên,18
Hân hoan chào đón Thích,
Thiên nữ múa ca mừng.
Nếu thấy Tỳ-kheo đến,19
Ngoài nhìn vẻ thẹn thùng,
Tại Tỳ-xà-diên điện,
Đế-thích hỏi Tỳ-kheo:
Đại tiên! Có thể biết,
Ái tận, giải thoát chăng?
Tỳ-kheo liền đáp lại:
Theo nghĩa câu hỏi này,
Câu-dực! Ta biết đây,
Ái tận, được giải thoát.
Nghe lời giải đáp này,
Đế-thích mừng, hoan hỷ.
Tỳ-kheo ban lợi ích,
Nói năng đúng nghĩa chân,
Trên điện Tỳ-xà-diên,
Tỳ-kheo hỏi Đế-thích:
Cung điện tên gì vậy,
Mà ông đang giữ thành?
Đế-thích: Đại Tiên nhân,
Tên Tỳ-xà-diên-đá.
Gọi là thế giới ngàn,
Ở trong ngàn thế giới,
Không cung điện nào hơn,
Như Tỳ-xà-diên-đá,
Thiên vương Thiên Đế-thích,
Tự tại mà du hành.
Ái lạc na-du-đá,20
Hóa một thành trăm hàng,
Trong điện Tỳ-xà-diên,
Đế-thích dạo tự tại.
Tỳ-xà-diên đại điện,
Ngón chân đủ lung lay,
Thiên vương mắt xem thấy,
Đế-thích tự rong chơi.
Giảng đường Lộc Tử Mẫu,21
Nền sâu, xây kiên cố,
Khó động, khó lung lay,
Không vượt thần túc này.22
Nơi kia đất lưu ly,
Thánh nhân bước lên đi,
Trơn nhuần, cảm thọ lạc,
Gấm trải thật dịu êm.
Ái ngữ cùng hòa hợp,
Thiên vương thường hân hoan,
Nhạc trời hay khéo trỗi,
Âm tiết nhịp nhàng ngân.
Thiên chúng đều hội tụ,
Nghe, chứng Tu-đà-hoàn,23
Có vô lượng ngàn muôn,
Và hàng trăm na-thuật.24
Đến Tam Thập Tam thiên,
Bậc Tuệ nhãn thuyết pháp,
Nghe Ngài thuyết giảng xong,
Hoan hỷ và phụng hành.
Ta cũng có pháp ấy,
Theo lời của Tiên nhân,
Lên đến cõi Đại Phạm,
Hỏi Phạm thiên sự tình.
Phạm vương có biết chăng,
Từ ngàn xưa đã thấy,
Ngã luôn mãi thường tồn,
Hằng hữu không biến đổi?
Phạm thiên trả lời rằng:
Đại tiên! Tôi không thấy,
Từ ngàn xưa lâu xa,
Ngã thường hằng không đổi.
Tôi thấy cảnh giới này,
Chúng trời đều tạ thế,
Vậy nay do đâu nói,
Thường hằng không biến đổi?
Tôi thấy thế gian này,
Bậc Chánh giác đã dạy,
Tùy nhân duyên sanh ra,
Luân chuyển rồi trở lại.
Lửa không có ý nghĩ:
Ta đốt kẻ ngu si,
Lửa cháy, ngu chạm vào,
Ắt tự nhiên bị đốt.
Cũng vậy, này Ba-tuần,
Xúc nhiễu phá Như Lai,
Mãi làm điều bất thiện,
Thọ báo xấu triền miên.
Đừng ngăn chặn Phật-đà,
Chớ nhiễu hại Tỳ-kheo,
Một Tỳ-kheo hàng ma,
Ngụ nơi rừng Sợ Hãi.
Ma Ba-tuần lo buồn sầu não vì bị Tôn giả Mục-kiền-liên quở trách. Do kinh sợ hãi hùng đến nỗi không còn trí tuệ, Ma liền biến đi nơi khác.25
[0623a02] Tôn giả Đại Mục-kiền-liên dạy như vậy, sau khi nghe Tôn giả dạy xong, Ma Ba-tuần hoan hỷ phụng hành.26
Ghi chú
1 Nguyên tác: Hàng ma kinh 降魔經 (T.01. 0026.131. 0620b07). Tham chiếu: Ma nhiễu loạn kinh 魔 嬈亂經 (T.01. 0066. 0864b02); Tệ ma thí Mục-liên kinh 弊魔試目連經 (T.01. 0067. 0867a02); M. 50, Māratajjanīya Sutta (Kinh hàng ma).
2 Xem chú thích 2-3, kinh số 74, tr. 491.
3 Ma nhiễu loạn kinh 魔嬈亂經 (T.01. 0066. 0864b02) ghi là “tác quật” (作窟), làm cái hang. Trong khi Tệ ma thí Mục-liên kinh 弊魔試目連經 (T.01. 0067. 0867a02) và M. 50 không có chi tiết này.
4 Nhập như kỳ tượng định (入如其像定). Các bản Biệt dịch ghi: “Như kỳ tượng tam-muội chánh thọ” (如其像三昧正受), “nhập thất chánh thọ tam-muội” (入室正受三昧). Đây không phải là tên riêng của một loại định, mà chỉ cho hành động của thân, tâm đang diễn ra. Thân ngay thẳng, bất động (像), tâm chuyên chú vào một chỗ (定心專注於一處). Tham chiếu Pāli: Paccattaṃ yoniso manasākāsi (tự mình quán sát nguyên do).
5 Giác-lịch-câu-tuân-đại (覺礫拘荀大). M. 50: Kakusandha được phiên âm là Câu-lâu-tôn (拘樓孫), Câu-lưu-tôn (拘留孫) hoặc Câu-lâu-tần (拘樓秦).
6 Ác (惡). M. 50: Dūsī (tên một loại ma thời Phật Kakusandha).
7 Hắc (黑, Kālī).
8 Âm (音, Vidhura).
9 Tưởng (想, Sañjīva).
10 Tưởng tri diệt định (想知滅定) còn gọi là “Diệt tận định” (滅盡定), “Diệt chánh thọ” (滅正受), “Diệt” (滅), “Tri diệt giải thoát” (知滅解脫), “Tưởng tri diệt” (想知滅), “Tưởng tri diệt tận” (想知滅 盡), “Diệt tận định” (滅盡定), “Diệt tận tam-muội” (滅盡三昧). Tham chiếu: M. 50: Diệt thọ tưởng định (Saññāvedayitanirodhaṃ).
11 Nguyên tác: Dĩ hắc sở phược (以黑所縳). Cú ngữ này xuất phát từ sự chê trách hàng xuất gia Thích tử của Bà-la-môn. Xuất xứ từ D. 27: Te tumhe seṭṭhaṃ vaṇṇaṃ hitvā hīna mattha vaṇṇaṃ ajjhupagatā, yadidaṃ muṇḍake samaṇake ibbhe kaṇhe bandhupādāpacce (Các ngươi đã từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện, giai cấp các Sa-môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, dòng giống thuộc bàn chân), HT. Thích Minh Châu dịch.
12 Nguyên tác: Học thiền, tứ, tăng tứ, số số tứ (學禪,伺,增伺,數數伺). M. 50: Jhāyanti, pajjhāyanti, nijjhāyanti, apajjhāyanti (tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền), HT. Thích Minh Châu dịch.
13 Vô Khuyết đại địa ngục (無缺大地獄). “Vô Khuyết” tức là “Vô Gián” (無間) hay “A-tỳ” (Avīci). Ma nhiễu loạn kinh 魔嬈亂經 (T.01. 0066. 0866a25) gọi “A-tỳ-nê-lê” (阿鼻泥犁).
14 M. 50 đề cập 3 loại địa ngục: Địa ngục Sáu Xúc Xứ (六觸處地獄, Chaphassāyataniko); địa ngục Cọc Sắt (杙地獄, Saṅkusamāhato); địa ngục Các Biệt Thọ Khổ (各別受苦地獄, Paccattavedaniyo).
15 Chỉ cho Bắc Câu-lô châu (北俱盧洲, Uttarakuru).
16 Chỉ cho trời Tứ Thiên Vương (四天王), bên sườn núi Tu-di (須彌, Sineru).
17 Đế-thích từng cúng dường nhà cửa cho Sa-môn trong tiền kiếp. Tham chiếu: S. 11.12 - I. 229: Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị ấy thường bố thí trú xứ, do vậy được tên là Vāsavo (HT. Thích Minh Châu dịch).
18 Tỳ-xà-diên điện (毘闍延殿): Cung điện Chiến Thắng. M. 50: Vejayanta pāsāda (Chiến Thắng điện).
19 Tức Tôn giả Đại Mục-kiền-liên (大目犍連, Mahāmoggallāna). Theo M. 37, các thiên nữ thấy ngài Mục-kiền-liên đến liền bẽn lẽn rồi bước về phòng của mình.
20 Na-du-đá (那遊哆), cách viết khác của Na-do-tha (那由他).
21 Lộc Tử Mẫu (鹿子母), giảng đường do tín nữ Tỳ-xá-khư (毘舍佉, Visākha) xây dựng.
22 Nguyên tác: Như ý túc năng diêu (如意足能搖). Theo S. 51.14 - V. 269, có một số Tỳ-kheo sống ở lầu Lộc Tử Mẫu (鹿子母) nhưng vẫn còn trạo cử, kiêu mạn, thất niệm… Được đức Phật cho phép, Tôn giả Mục-kiền-liên hóa hiện thần thông, ấn ngón chân khiến lầu Lộc Tử Mẫu (鹿子母) lay động.
23 Thiên Đế-thích (Sakka) đắc quả Tu-đà-hoàn sau khi nghe Phật nói kinh D. 21, Sakkapañhā Sutta (Kinh Đế-thích sở vấn).
24 Na-thuật (那術), cách viết khác của na-do-tha (那由他).
25 Đoạn này nguyên tác là 4 câu kệ tiếp theo của bài kệ tụng. Bản Việt dịch tách riêng để phù hợp nội dung bản kinh.
26 Bản Hán, hết quyển 30.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.